VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Thần Thắng Tam

勝三亭 · Đình Thắng Tam

Ba nếp thờ tự nằm sát nhau trên một khu đất của làng biển, giữ trọn ba lớp tín ngưỡng của cư dân đi biển phương Nam.

Cụm di tích
3 công trình
đình Thần, miếu Bà Ngũ Hành, lăng Cá Ông
Bộ xương Cá Ông
khoảng 12 m
thờ trong lăng, các nguồn ghi kích thước khác nhau
Xếp hạng
Di tích quốc gia
năm 1991

Bước qua cổng ở đường Hoàng Hoa Thám, quý vị không thấy một ngôi đình mà thấy ba nếp nhà thờ tự đứng gần nhau trong cùng một khu đất. Bên này là đình Thần với mái ngói đắp lưỡng long chầu nguyệt; bên kia là miếu Bà Ngũ Hành nhỏ hơn, sơn màu tươi hơn; và phía còn lại là lăng Cá Ông, bên trong đặt một tủ kính dài chứa thứ mà không ngôi đình nào ở đồng bằng có được: bộ xương của một con cá voi.

Ba nếp nhà ấy không dựng cùng một lúc và không thờ cùng một lớp đối tượng. Chúng đứng chung một chỗ vì đều là việc thờ của một làng biển: đình thờ Thành hoàng và các bậc lập làng, miếu thờ các vị nữ thần cai quản ngũ hành, lăng thờ vị thần của biển cả. Đi đủ ba nếp mới thấy được cách một làng chài xưa sắp xếp chỗ dựa tinh thần của mình.

Ba Nếp Nhà, Ba Lớp Thờ Tự

Cụm di tích này thờ ba lớp đối tượng khác nhau. Đình Thần thờ Thành hoàng của làng cùng ba vị được coi là người có công mở đất và lập ba làng Thắng, tên chép trong tư liệu là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Miếu Bà Ngũ Hành thờ năm vị nữ thần ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cùng vài vị khác theo lệ địa phương. Lăng Cá Ông thờ Cá Ông, tức cá voi, vị thần mà ngư dân tin là cứu người gặp nạn ngoài khơi.

Cần nói rõ ngay từ đầu: cả ba đều thuộc tín ngưỡng dân gian của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Đình làng và lăng Cá Ông không phải cơ sở của Đạo Giáo, cũng không phải chùa của nhà Phật. Người trông coi việc thờ là ban khánh tiết của làng, không phải tăng ni hay đạo sĩ.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tục thờ Cá Ông tự nói về mình, cá voi là con vật được trời giao việc cứu người trên biển. Có truyền thuyết miền Trung kể Bồ Tát Quan Âm xé chiếc áo cà sa thành nhiều mảnh, mỗi mảnh hóa thành một con cá Ông đi cứu thuyền gặp nạn. Ở phương Nam còn một thuyết khác, kể chúa Nguyễn Ánh lúc bôn ba ngoài khơi gặp bão đã được cá Ông đỡ thuyền.

Từ niềm tin ấy sinh ra một bộ nghi thức rất chặt. Khi một con cá Ông lụy, tức chết và dạt vào bờ, người đầu tiên trông thấy được coi như con trai trưởng của Ông; người ấy đứng chủ tang, để tang theo lệ, và chủ trì các nghi lễ. Xác cá được chôn cất như chôn người. Ba tới bốn năm sau, phần xương được bốc lên, rửa bằng rượu, gọi là ngọc cốt, rồi đưa vào hòm đặt trong nơi thờ. Chính vì chức năng giữ ngọc cốt mà nơi thờ được gọi là lăng chứ không gọi là miếu.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, triều Nguyễn đã chính thức nhìn nhận tục thờ này bằng sắc phong. Thần được phong dưới danh hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân, và các mỹ tự được gia tặng dần qua nhiều đời: đời Minh Mạng năm 1822 tặng mỹ tự Từ tế, đời Thiệu Trị năm 1843 gia tặng Chương linhTrợ tín, đời Tự Đức gia tặng Trừng trạm, đời Đồng Khánh gia tặng Dực bảo Trung hưng, tới đời Khải Định còn tiếp tục gia tặng.

Sắc phong sớm nhất mà giới nghiên cứu ghi nhận có niên đại năm 1825, hiện ở đình Lý Nhơn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Về số lượng, các tỉnh duyên hải miền Trung giữ được nhiều sắc hơn cả, trong khi địa bàn Bà Rịa Vũng Tàu cũ được ghi nhận có ba sắc.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm về tục thờ Cá Ông: nhiều người coi đây là một tục thuần Việt, có từ thời người Việt còn ở đồng bằng sông Hồng. Theo tư liệu nghiên cứu hiện có, không phải vậy.

Gốc của tục thờ cá voi là tín ngưỡng của người Chăm ven biển miền Trung, đã có từ rất lâu trước khi người Việt tới vùng đất ấy. Trong quá trình người Việt vào Nam và sống chung với cư dân bản địa ven biển, tục ấy được tiếp nhận, rồi được người Việt sắp xếp lại theo lệ thờ tự của mình, thêm vào phần sắc phong của triều đình và phần tế lễ theo lối đình làng. Ghi lại điều này không phải để xếp bên nào đúng hơn bên nào, mà để thấy rằng mạch thờ ở lăng Cá Ông là mạch của nhiều lớp cư dân chồng lên nhau, chứ không phải của một lớp duy nhất.

Ba Làng Thắng Và Ba Lần Dựng

Lịch sử cụm di tích gắn với việc lập ba làng mang chữ Thắng ở vùng cửa biển này: Thắng Nhất, Thắng Nhì và Thắng Tam. Ba nếp thờ tự không dựng cùng lúc mà dựng nối nhau trong khoảng vài chục năm đầu thế kỷ 19, rồi được sửa chữa nhiều lần về sau.

  • 1802Ba viên đội trấn giữ cửa biển
    Theo tư liệu địa phương, ba viên đội Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền được cử tới trấn giữ vùng cửa biển này. Năm này được nhiều tài liệu lấy làm mốc khởi đầu của cụm di tích.
  • 1820Khởi dựng đình Thần
    Theo một số tài liệu, đình được dựng năm Canh Thìn, ban đầu chỉ là nếp nhà tranh tre đơn sơ. Niên đại khởi dựng được các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
  • 1822Lập ba làng Thắng
    Ba viên đội được giao cai quản ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhì và Thắng Tam. Đình thờ ba vị này như bậc tiền hiền của làng.
  • 1824Dựng lăng Cá Ông
    Lăng Cá Ông Nam Hải được dựng năm Giáp Thân theo tư liệu di tích, ban đầu đặt ở khu vực Bãi Trước.
  • 1832Dựng miếu Bà Ngũ Hành
    Miếu thờ năm vị nữ thần ứng với ngũ hành được dựng năm Nhâm Thìn, hoàn tất cụm ba nếp thờ tự.
  • 1835Lợp ngói đình Thần
    Đình được sửa chữa, thay mái tranh bằng mái ngói theo tư liệu địa phương.
  • 1911Dời lăng về cạnh đình
    Lăng Cá Ông được dời từ Bãi Trước về khu đất cạnh đình Thần, tạo thành cụm ba công trình đứng chung một chỗ như hiện nay.
  • 1964 tới 1991Trùng tu lớn và xếp hạng
    Đợt trùng tu năm 1964 định hình diện mạo hiện thấy. Năm 1991, cụm đình Thắng Tam, miếu Bà và lăng Cá Ông được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm khởi dựng đình Thần, một số tài liệu ghi năm 1802, trong khi tư liệu di tích của ngành du lịch ghi đình dựng năm Canh Thìn tức 1820. Có bài còn viết đình dựng năm 1802 dưới đời Minh Mạng, điều này không khớp với niên biểu, vì năm 1802 là năm đầu đời Gia Long còn Minh Mạng lên ngôi năm 1820. Nhiều khả năng mốc 1802 là năm ba viên đội tới trấn giữ vùng cửa biển, còn mốc 1820 là năm dựng ngôi đình; nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm, nên ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số.

Về bộ xương Cá Ông, một tài liệu Pháp năm 1868 chép việc ông Bang Thiên, tên Việt là Trần Thinh, phát hiện một con cá Ông dài hơn mười hai thước. Các tài liệu đời nay ghi bộ xương trong lăng dài khoảng 12 mét, nhưng cũng có bài ghi những con số lớn hơn nhiều. Chúng tôi ghi con số 12 mét vì đó là con số xuất hiện nhất quán nhất trong tư liệu di tích, đồng thời nói rõ rằng các nguồn khác ghi khác.

Cụm Ba Công Trình

Ba công trình đứng trên cùng một khu đất nhưng mỗi công trình một kiểu, vì mỗi công trình phục vụ một lối thờ khác nhau. Đình Thần là công trình lớn nhất và có mặt bằng phức tạp nhất; miếu Bà nhỏ gọn theo lối miếu làng; lăng Cá Ông thì gần như là một nhà trưng bày có ban thờ.

Đình Thần Thắng Tam

Gồm bốn nếp nhà nối liền nhau: nhà Tiền Hiền, Hội Trường, Đình Trung và sân khấu võ ca. Mái đắp đề tài lưỡng long chầu nguyệt. Cách bày bốn nếp này là mặt bằng quen của đình làng Nam Bộ, trong đó sân khấu võ ca là phần dành cho hát bội trong kỳ lễ.

Nhà Tiền Hiền

Nếp nhà thờ các bậc tiền hiền và hậu hiền, tức những người có công mở đất lập làng và gìn giữ đình. Đây là nơi đặt bài vị ba vị Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền.

Miếu Bà Ngũ Hành

Nếp miếu riêng thờ năm vị nữ thần ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cùng vài vị khác theo lệ địa phương. Quy mô gọn hơn đình, trang trí nhiều màu theo lối miếu Bà của người Việt phương Nam.

Lăng Cá Ông

Nếp nhà thờ Cá Ông, bên trong đặt bộ xương cá voi trong tủ kính, kèm ban thờ và các đồ tế. Đây là hiện vật làm nên danh tiếng của cụm di tích, và cũng là thứ phân biệt một ngôi lăng với một ngôi miếu thường.

Về tên chữ Hán, chúng tôi ghi ba chữ Thắng Tam đình theo cách đọc thẳng từ tên gọi hiện dùng, đây là chữ do chúng tôi suy ra chứ không phải chép từ một tấm hoành phi hay một bảng cổng nào. Nếu quý vị tới nơi và đọc được chữ trên hoành phi của đình, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng nói trước tiên là chỗ đứng của cả cụm: không nằm sát mép nước mà lùi vào trong, cách bờ một quãng, nép dưới chân dải núi thấp của bán đảo. Trong phép xem đất, một nơi thờ tự của làng chài mà đặt sát bãi thì được gần nhưng không được yên, vì gió biển và nước dâng đều mạnh. Lùi vào chân núi là cách lấy núi làm chỗ tựa và biển làm minh đường, đúng theo lối tựa sơn hướng thủy mà sách vở cổ truyền chuộng nhất. Ở đồng bằng người ta phải đào hồ, đắp gò để có được cái thế ấy; ở đây địa hình cho sẵn.

Thứ hai là quan hệ giữa ba nếp nhà. Ba công trình đứng gần nhau nhưng không xếp nối theo một trục dọc; chúng dàn ra và mỗi nếp có lối vào riêng. Đọc theo lối phong thủy, trục dọc dẫn khí đi sâu vào trong, còn cách dàn ngang thì trải khí ra bề rộng, lấy khu đất chung làm chỗ hội. Cách bày ấy hợp với chức năng của một cụm thờ nhiều lớp đối tượng ngang vai: Thành hoàng và tiền hiền của làng, các vị nữ thần ngũ hành, và vị thần của biển. Không vị nào đứng sau lưng vị nào, vì không vị nào phụ thuộc vị nào.

Thứ ba là hướng của việc lễ. Điều riêng của cụm này là kỳ lễ lớn nhất trong năm không diễn ra trọn trong khuôn viên: đoàn nghinh Ông ra tận mặt biển rồi mới rước về. Theo cách đọc cổ truyền, nghi thức ấy chính là việc đi đón khí từ minh đường về tới nhà. Với một làng chài, minh đường không phải một cái ao trước cửa đình mà là cả mặt biển, và mỗi năm một lần người ta ra tận nơi để mời cái phần khí ấy về.

Sau cùng là lớp nghĩa của hòn đảo nhỏ ngoài khơi. Đoàn rước có chặng ghé miếu trên hòn đá ngoài mặt nước phía trước bờ. Trong lối nghĩ cổ truyền, một mỏm đá nổi trước cửa biển đóng vai án sơn, tức ngọn núi chắn trước mặt, giữ cho khí khỏi tán thẳng ra khơi. Việc đoàn rước dừng lại ở đó trước khi quay vào cho thấy người xưa đọc mặt biển này không như một khoảng trống, mà như một thế đất có đủ chỗ tựa và chỗ chắn.

Ba Kỳ Lễ Trong Năm

Cụm di tích có ba kỳ lễ lớn, mỗi nếp nhà một kỳ, và cả ba đều tính theo âm lịch. Kỳ được biết tới nhiều nhất là lễ hội Nghinh Ông ở lăng Cá Ông vào tháng Tám, đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023.

Ba kỳ lễ chính trong năm của cụm di tích, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu di tích của ngành du lịch và hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Ngày 17 tới 20 tháng HaiLễ Cầu an tại đình ThầnKỳ lễ kỳ yên của làng, tế Thành hoàng và các bậc tiền hiền, có đọc văn tế, dâng hương, dâng rượu.
Ngày 16 tới 18 tháng TámLễ hội Nghinh ÔngKỳ lễ lớn nhất trong năm tại lăng Cá Ông, gồm nghi thức nghinh Ông trên biển, cúng tế tại lăng và các trò diễn dân gian.
Ngày 16 tới 18 tháng MườiLễ miếu Bà Ngũ HànhKỳ lễ của miếu Bà, tế năm vị nữ thần ngũ hành, có hát bội và các nghi thức dâng lễ theo lệ làng.
Trong các kỳ lễXây chầu Đại bội và hát bộiNghi thức đánh trống khai chầu rồi diễn tuồng trên sân khấu võ ca, phần gắn hát bội vào lễ tế theo lối Nam Bộ.

Phần nghinh Ông trên biển là chỗ đáng xem nhất trong cả ba kỳ. Sau ba hồi trống chiêng, đoàn ghe được kết hoa và cắm cờ rời bờ, mang theo bài vị từ đình, ra tới hòn đá ngoài khơi để dâng hương, rồi quay vào. Trên bờ, một hình cá Ông làm bằng giấy dài chừng mười mét được rước theo đoàn về lăng. Sau lễ rước là phần cúng tế tại lăng, rồi tới hát bội, múa lân và các trò diễn của làng biển.

Một chi tiết cần ghi rõ vì nguồn vênh nhau: hiện nay lễ hội Nghinh Ông được tổ chức hằng năm vào ngày 16 tới 18 tháng Tám, theo các bản tin và theo hồ sơ di sản. Nhưng một tài liệu di tích cũ hơn lại chép rằng kỳ lễ lớn được làm ba năm một lần. Nhiều khả năng đây là chỗ khác nhau giữa lệ cũ và cách tổ chức hiện nay, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm, nên ghi cả hai.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 77A đường Hoàng Hoa Thám, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Nằm ở số 77A đường Hoàng Hoa Thám, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, cách khu Bãi Sau một quãng ngắn. Ba công trình nằm chung một khu đất, đi bộ giữa ba nơi chỉ mất vài phút.
Toạ độ
10.3417, 107.0872
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các nếp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ, không gõ vào tủ kính đựng bộ xương Cá Ông và không chạm tay vào các đồ tế. Lễ vật đặt đúng ban từng nếp nhà, tiền bỏ hòm công đức. Trong ba ngày Nghinh Ông tháng Tám, nghi thức trên biển do ban khánh tiết và người trong làng đảm nhiệm, người tới dự xem từ bờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đình Thần Thắng Tam thờ ai

Cụm di tích thờ ba lớp đối tượng. Đình Thần thờ Thành hoàng của làng cùng ba vị tiền hiền Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Miếu Bà Ngũ Hành thờ năm vị nữ thần ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Lăng Cá Ông thờ Cá Ông, tức cá voi. Cả ba thuộc tín ngưỡng dân gian của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.

Lăng Cá Ông Vũng Tàu có gì

Trong lăng đặt bộ xương của một con cá voi, giữ trong tủ kính, kèm ban thờ và các đồ tế. Tư liệu di tích ghi bộ xương dài khoảng 12 mét, tuy một số bài báo ghi những con số lớn hơn. Chính vì giữ ngọc cốt của Cá Ông mà nơi thờ được gọi là lăng chứ không gọi là miếu.

Vì sao ngư dân thờ cá voi

Vì niềm tin rằng cá voi cứu người gặp nạn ngoài khơi, có truyền thuyết kể Bồ Tát Quan Âm xé áo cà sa thành đàn cá Ông đi cứu thuyền. Triều Nguyễn đã phong thần cho cá voi dưới danh hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân, từ đời Minh Mạng năm 1822 rồi gia tặng mỹ tự qua nhiều đời vua kế tiếp.

Lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam diễn ra ngày nào

Ngày 16 tới 18 tháng Tám âm lịch, gồm nghi thức nghinh Ông trên biển bằng đoàn ghe kết hoa, rước hình cá Ông về lăng, cúng tế, xây chầu Đại bội, hát bội và các trò diễn của làng biển. Lễ hội được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023.

Đình Thắng Tam nay thuộc tỉnh nào

Cụm di tích nằm ở phường Vũng Tàu. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi quen dùng vẫn là đình Thắng Tam Vũng Tàu vì gắn với địa danh cũ và với tên gọi trong các tư liệu di tích.

Đọc Tiếp