Bước qua cổng ở đường Hoàng Hoa Thám, quý vị không thấy một ngôi đình đơn lẻ mà thấy ba nếp nhà thờ tự đứng gần nhau trong cùng một khu đất. Ở giữa là đình Thần với mái ngói đắp lưỡng long chầu nguyệt, bên phải là miếu Bà Ngũ Hành nhỏ hơn, sơn màu tươi hơn, và bên trái là lăng Cá Ông, bên trong đặt một tủ kính dài chứa thứ mà không ngôi đình nào ở đồng bằng có được là bộ xương của một con cá voi.
Ba nếp nhà ấy không dựng cùng một lúc và không thờ cùng một lớp đối tượng. Chúng đứng chung một chỗ vì đều là việc thờ của một làng biển, trong đó đình thờ Thành hoàng và các bậc lập làng, miếu thờ các vị nữ thần cai quản ngũ hành, còn lăng thờ vị thần của biển cả. Đi đủ ba nếp mới thấy được cách một làng chài xưa sắp xếp chỗ dựa tinh thần của mình.

IBa nếp nhà, ba lớp thờ tự
Cụm di tích này thờ ba lớp đối tượng khác nhau. Đình Thần thờ Thành hoàng của làng cùng ba vị được coi là người có công mở đất và lập ba làng Thắng, tên chép trong tư liệu là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Miếu Bà Ngũ Hành thờ năm vị nữ thần ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cùng vài vị khác theo lệ địa phương. Lăng Cá Ông thờ Cá Ông, tức cá voi, vị thần mà ngư dân tin là cứu người gặp nạn ngoài khơi.
Cần nói rõ ngay từ đầu là cả ba đều thuộc tín ngưỡng dân gian của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Đình làng và lăng Cá Ông không phải cơ sở của Đạo Giáo, cũng không phải chùa của nhà Phật. Người trông coi việc thờ là ban khánh tiết của làng, không phải tăng ni hay đạo sĩ.
Theo cách tục thờ Cá Ông tự nói về mình, cá voi là con vật được trời giao việc cứu người trên biển. Có truyền thuyết miền Trung kể Bồ Tát Quan Âm xé chiếc áo cà sa thành nhiều mảnh, mỗi mảnh hóa thành một con cá Ông đi cứu thuyền gặp nạn. Ở phương Nam còn một thuyết khác, kể chúa Nguyễn Ánh lúc bôn ba ngoài khơi gặp bão đã được cá Ông đỡ thuyền.
Từ niềm tin ấy sinh ra một bộ nghi thức rất chặt. Khi một con cá Ông lụy, tức chết và dạt vào bờ, người đầu tiên trông thấy được coi như con trai trưởng của Ông, đứng chủ tang, để tang theo lệ và chủ trì các nghi lễ. Xác cá được chôn cất như chôn người. Ba tới bốn năm sau, phần xương được bốc lên, rửa bằng rượu, gọi là ngọc cốt, rồi đưa vào hòm đặt trong nơi thờ. Chính vì chức năng giữ ngọc cốt mà nơi thờ được gọi là lăng chứ không gọi là miếu.
Trên phương diện khảo được, triều Nguyễn đã chính thức nhìn nhận tục thờ này bằng sắc phong. Thần được phong dưới danh hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân chi thần, và các mỹ tự được gia tặng dần qua nhiều đời. Đời Minh Mạng năm 1822 tặng mỹ tự Từ tế, đời Thiệu Trị năm 1843 gia tặng Chương linh và Trợ tín, đời Tự Đức gia tặng Trừng trạm, đời Đồng Khánh gia tặng Dực bảo Trung hưng, tới đời Khải Định còn tiếp tục gia tặng.
Sắc phong thờ Cá Ông sớm nhất mà giới nghiên cứu ghi nhận ở miền Trung và Nam Bộ có niên đại năm Minh Mạng thứ năm (1824) tại vạn Tả Tân thuộc Bình Thuận cũ, và năm Minh Mạng thứ sáu (1825) tại đình Lý Nhơn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng tại cụm đình Thắng Tam hiện còn lưu giữ 12 đạo sắc phong của triều Nguyễn (một số nguồn tính cả bản phụ là 13 đạo) ban cho Thành hoàng Bổn cảnh, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Thiên Y A Na và Thủy Long Thần Nữ, trong đó có 3 đạo sắc phong riêng cho Cá Ông ban vào năm Thiệu Trị thứ năm (1845, hai đạo) và năm Tự Đức thứ ba (1850, một đạo).
Một chỗ hay hiểu lầm về tục thờ Cá Ông là nhiều người coi đây là một tục thuần Việt, có từ thời người Việt còn ở đồng bằng sông Hồng. Theo tư liệu nghiên cứu hiện có, không phải vậy.
Gốc của tục thờ cá voi là tín ngưỡng của người Chăm ven biển miền Trung, đã có từ rất lâu trước khi người Việt tới vùng đất ấy. Trong quá trình người Việt vào Nam và sống chung với cư dân bản địa ven biển, tục ấy được tiếp nhận, rồi được người Việt sắp xếp lại theo lệ thờ tự của mình, thêm vào phần sắc phong của triều đình và phần tế lễ theo lối đình làng. Ghi lại điều này không phải để xếp bên nào đúng hơn bên nào, mà để thấy rằng mạch thờ ở lăng Cá Ông là mạch của nhiều lớp cư dân chồng lên nhau, chứ không phải của riêng một lớp người.
IIBa làng Thắng và ba lần dựng
Lịch sử cụm di tích gắn với việc lập ba làng mang chữ Thắng ở vùng cửa biển này gồm Thắng Nhất, Thắng Nhì và Thắng Tam. Ba nếp thờ tự không dựng cùng lúc mà dựng nối nhau trong khoảng vài chục năm đầu thế kỷ 19, rồi được sửa chữa nhiều lần về sau.
- 1802Ba viên đội trấn giữ cửa biểnTheo tư liệu địa phương, ba viên đội Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền được cử đem thuyền binh tới trấn giữ vùng cửa biển chống cướp biển. Năm này được một số tài liệu lấy làm mốc khởi đầu của cụm di tích.
- 1820Khởi dựng đình ThầnTheo tư liệu di tích của ngành du lịch, đình được dựng năm Canh Thìn (1820), ban đầu chỉ là nếp nhà tranh tre đơn sơ. Niên đại khởi dựng được các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
- 1822Lập ba làng ThắngTriều đình cho giải ngũ lập làng, giao Phạm Văn Dinh cai quản làng Thắng Nhất, Lê Văn Lộc cai quản làng Thắng Nhì và Ngô Văn Huyền cai quản làng Thắng Tam. Đình thờ ba vị này như bậc tiền hiền mở đất.
- 1824Dựng lăng Cá ÔngLăng Ông Nam Hải được dựng năm Giáp Thân (1824) theo tư liệu di tích, ban đầu đặt ở khu vực bãi Tầm Dương tức Bãi Trước.
- 1832Dựng miếu Bà Ngũ HànhMiếu thờ năm vị nữ thần ứng với ngũ hành được dựng năm Nhâm Thìn (1832) ở bên phải đình, hoàn tất cụm ba nếp thờ tự.
- 1835Lợp ngói đình ThầnĐình được nhân dân đóng góp sửa chữa, thay mái tranh bằng mái ngói vào năm Ất Mùi (1835) theo tư liệu địa phương.
- 1911Dời lăng về cạnh đìnhLăng Cá Ông được dời từ khu vực Bãi Trước về khu đất bên trái đình Thần, tạo thành cụm ba công trình đứng chung một chỗ như hiện nay.
- 1965 tới 1991Trùng tu lớn và xếp hạngĐợt trùng tu lớn năm 1965 (một số nguồn ghi năm 1964) định hình diện mạo kiến trúc hiện thấy. Ngày 25 tháng 3 năm 1991, cụm di tích được xếp hạng cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ của Bộ Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm khởi dựng đình Thần, một số tài liệu ghi năm 1802, trong khi tư liệu di tích của ngành du lịch ghi đình dựng năm Canh Thìn tức 1820. Có bài còn viết đình dựng năm 1802 dưới đời Minh Mạng, điều này không khớp với niên biểu, vì năm 1802 là năm đầu đời Gia Long còn Minh Mạng lên ngôi năm 1820. Nhiều khả năng mốc 1802 là năm ba viên đội tới trấn giữ vùng cửa biển, còn mốc 1820 là năm dựng ngôi đình, nhưng thư viện ghi cả hai để người đọc tiện đối chiếu.
Về bộ xương Cá Ông trong lăng, tư liệu của Cục Du lịch Quốc gia ghi rằng lăng hiện lưu giữ chiếc đầu cá Ông khổng lồ dạt vào bãi Tầm Dương (Bãi Trước) cách nay hơn một thế kỷ, khớp với tài liệu Pháp năm 1868 chép việc ông Bang Thiên (tên Việt là Trần Thinh) phát hiện một con cá Ông lớn, đồng thời trong tủ kính còn bộ xương cá Ông dài 12 mét do ngư dân vớt được khoảng bốn mươi năm sau đó. Một số bài viết khác lại nêu con số bộ xương dài tới 30 mét và nặng 4 tấn. Thư viện ghi con số 12 mét theo hồ sơ di tích của ngành du lịch, đồng thời nêu rõ sự chênh lệch giữa các nguồn.
IIICụm ba công trình
Ba công trình đứng trên cùng một khu đất nhưng mỗi công trình một kiểu, vì mỗi công trình phục vụ một lối thờ khác nhau. Đình Thần là công trình lớn nhất và có mặt bằng phức tạp nhất, miếu Bà ở bên phải nhỏ gọn theo lối miếu làng, còn lăng Cá Ông ở bên trái vừa là nơi tế lễ vừa là nhà lưu giữ ngọc cốt.
Gồm bốn nếp nhà nối liền nhau theo lối chữ đinh là nhà Tiền Hiền, Hội Trường, Đình Trung và sân khấu võ ca. Mái lợp ngói âm dương đắp đề tài lưỡng long chầu nguyệt, bên trong lưu giữ 12 đạo sắc phong triều Nguyễn. Sân khấu võ ca là phần dành cho hát bội trong kỳ lễ.
Nếp nhà mở đầu cụm đình, thờ các bậc tiền hiền và hậu hiền có công mở đất lập làng và gìn giữ đình. Đây là nơi đặt bài vị ba vị Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền cùng bàn thờ Thần Nông ở sân trước.
Nếp miếu riêng nằm bên phải đình, dựng năm 1832 theo kiểu một gian hai chái. Bên trong đặt năm bàn thờ cho Ngũ Hành Nương Nương (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), Ngũ Đức Thánh Phi, Ngũ Vị Cậu Tài, bộ ba Quan Công, Quan Bình, Châu Xương cùng bàn thờ Ông Địa và Thổ Công.
Nếp nhà nằm bên trái đình, chính giữa đặt ba khám thờ lớn, phía sau là tủ kính dài lưu giữ bộ xương Cá Ông, còn hai bên tả hữu đặt bàn thờ Bà Sáu (Thần Rùa) và bàn thờ tổ nhạc. Chính việc lưu giữ ngọc cốt phân biệt một ngôi lăng với một ngôi miếu thường.
Về tên chữ Hán, thư viện ghi ba chữ Thắng Tam đình theo cách đọc thẳng từ tên gọi hiện dùng, đây là chữ do thư viện phiên ra chứ không phải chép từ một tấm hoành phi hay một bảng cổng nào. Nếu quý vị tới nơi và đọc được chữ trên hoành phi của đình, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Điều đáng nói trước tiên là chỗ đứng của cả cụm, không nằm sát mép nước mà lùi vào trong, cách bờ Bãi Sau một quãng, nép dưới chân dải núi Nhỏ và núi Lớn của bán đảo. Trong phép xem đất, một nơi thờ tự của làng chài mà đặt sát bãi thì được gần nhưng không được yên, vì gió biển và nước dâng đều mạnh. Lùi vào chân núi là cách lấy núi làm chỗ tựa và biển làm minh đường, đúng theo lối tựa sơn hướng thủy mà sách vở cổ truyền chuộng nhất. Ở đồng bằng người ta phải đào hồ, đắp gò để có được cái thế ấy, còn ở đây địa hình cho sẵn.
Thứ hai là quan hệ giữa ba nếp nhà. Ba công trình đứng gần nhau nhưng không xếp nối theo một trục dọc, mà dàn ngang với đình ở giữa, lăng Ông bên trái và miếu Bà bên phải, mỗi nếp có lối vào riêng. Đọc theo lối phong thủy, trục dọc dẫn khí đi sâu vào trong, còn cách dàn ngang thì trải khí ra bề rộng, lấy khu sân chung làm chỗ hội. Cách bày ấy hợp với chức năng của một cụm thờ nhiều lớp đối tượng ngang vai gồm Thành hoàng và tiền hiền của làng, các vị nữ thần ngũ hành, và vị thần của biển. Không vị nào đứng sau lưng vị nào, vì không vị nào phụ thuộc vị nào.
Thứ ba là hướng của việc lễ. Điều riêng của cụm này là kỳ lễ lớn nhất trong năm không diễn ra trọn trong khuôn viên, bởi đoàn nghinh Ông phải ra tận mặt biển rồi mới rước về. Theo cách đọc cổ truyền, nghi thức ấy chính là việc đi đón khí từ minh đường về tới nhà. Với một làng chài, minh đường không phải một cái ao trước cửa đình mà là cả mặt biển, và mỗi năm một lần người ta ra tận nơi để mời cái phần khí ấy về.
Sau cùng là lớp nghĩa của hòn đảo nhỏ ngoài khơi. Đoàn tàu thuyền nghinh Ông xuất phát từ Bãi Trước đi về phía mũi Nghinh Phong, có chặng ghé khu vực miếu Hòn Bà trên hòn đảo đá nhỏ ngoài mặt nước. Trong lối nghĩ cổ truyền, một mỏm đá nổi trước cửa biển đóng vai án sơn, tức ngọn núi chắn trước mặt, giữ cho khí khỏi tán thẳng ra khơi. Việc đoàn rước hướng về mỏm đảo ấy trước khi quay vào cho thấy người xưa đọc mặt biển này không như một khoảng trống, mà như một thế đất có đủ chỗ tựa và chỗ chắn.
VBa kỳ lễ trong năm
Cụm di tích có ba kỳ lễ lớn, mỗi nếp nhà một kỳ, và cả ba đều tính theo âm lịch. Kỳ được biết tới nhiều nhất là lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam ở lăng Cá Ông vào tháng Tám, đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-BVHTTDL ngày 14 tháng 2 năm 2023.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 17 tới 20 tháng Hai | Lễ Cầu an tại đình Thần | Kỳ lễ kỳ yên đầu năm của làng, tế Thành hoàng và ba vị tiền hiền, có đọc văn tế, dâng hương, dâng rượu. |
| Ngày 16 tới 18 tháng Tám | Lễ hội Nghinh Ông | Kỳ lễ lớn nhất trong năm tại lăng Cá Ông, gồm nghi thức rước kiệu Nghinh Ông trên biển từ Bãi Trước về hướng mũi Nghinh Phong và miếu Hòn Bà, lễ thỉnh sắc thần, cúng giỗ Tiền hiền, cúng tế tại lăng và các trò diễn dân gian. |
| Ngày 16 tới 18 tháng Mười | Lễ miếu Bà Ngũ Hành | Kỳ lễ của miếu Bà, tế năm vị nữ thần ngũ hành, có hát bội và các nghi thức dâng lễ theo lệ làng. |
| Trong các kỳ lễ | Xây chầu Đại bội và hát bội | Nghi thức đánh trống khai chầu rồi diễn tuồng cổ trên sân khấu võ ca, phần gắn hát bội vào lễ tế theo lối Nam Bộ. |
Phần nghinh Ông trên biển là chỗ đáng xem nhất trong cả ba kỳ. Sau ba hồi trống chiêng, đoàn tàu thuyền được kết hoa và cắm cờ rời bờ từ Bãi Trước, mang theo bài vị từ đình, đi về hướng mũi Nghinh Phong và khu vực miếu Hòn Bà để làm lễ nghinh thần trên biển rồi quay vào. Trên bờ, một hình cá Ông làm bằng giấy bồi dài chừng mười mét được rước theo đoàn về lăng. Sau lễ rước là lễ thỉnh sắc thần, lễ cúng giỗ Tiền hiền và các anh hùng liệt sĩ, lễ tế Ông Nam Hải, lễ xây chầu Đại bội, rồi tới hát bội, múa lân sư rồng và các trò chơi của làng biển như đan lưới, kéo co, đẩy cây, câu cá.
Một chi tiết cần ghi rõ vì nguồn vênh nhau là hiện nay lễ hội Nghinh Ông được tổ chức hằng năm vào ngày 16 tới 18 tháng Tám, theo các bản tin và hồ sơ di sản. Nhưng một số tài liệu di tích cũ hơn lại ghi rằng lễ lớn với đầy đủ hát bội và trò diễn từng được làm định kỳ ba năm một lần. Đây là sự khác nhau giữa lệ đại lễ định kỳ xưa và cách tổ chức lễ hội văn hóa du lịch thường niên hiện nay.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 77A đường Hoàng Hoa Thám, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Nằm ở số 77A đường Hoàng Hoa Thám, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, cách khu Bãi Sau một quãng ngắn. Ba công trình nằm chung một khu đất, đi bộ giữa ba nơi chỉ mất vài phút.
- Toạ độ
- 10.3399, 107.083
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các nếp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ, không gõ vào tủ kính đựng bộ xương Cá Ông và không chạm tay vào các đồ tế. Lễ vật đặt đúng ban từng nếp nhà, tiền bỏ hòm công đức. Trong ba ngày Nghinh Ông tháng Tám, nghi thức trên biển do ban khánh tiết và người trong làng đảm nhiệm, người tới dự xem từ bờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Thần Thắng Tam
Contribute photos, information or video for Thang Tam Communal HouseThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Thần Thắng Tam thờ ai
Cụm di tích thờ ba lớp đối tượng. Đình Thần thờ Thành hoàng của làng cùng ba vị tiền hiền Phạm Văn Dinh (làng Thắng Nhất), Lê Văn Lộc (làng Thắng Nhì) và Ngô Văn Huyền (làng Thắng Tam). Miếu Bà Ngũ Hành thờ năm vị nữ thần ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Lăng Cá Ông thờ Cá Ông, tức cá voi. Cả ba thuộc tín ngưỡng dân gian của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.
Lăng Cá Ông Vũng Tàu có gì
Trong lăng đặt chiếc đầu cá Ông cổ hơn một trăm năm cùng bộ xương cá voi dài khoảng 12 mét trong tủ kính, kèm ba khám thờ lớn, bàn thờ Bà Sáu (Thần Rùa) và bàn thờ tổ nhạc. Chính vì giữ ngọc cốt của Cá Ông mà nơi thờ được gọi là lăng chứ không gọi là miếu.
Vì sao ngư dân thờ cá voi
Vì niềm tin rằng cá voi cứu người gặp nạn ngoài khơi, có truyền thuyết kể Bồ Tát Quan Âm xé áo cà sa thành đàn cá Ông đi cứu thuyền. Triều Nguyễn đã phong thần cho cá voi dưới danh hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân chi thần. Tại cụm đình Thắng Tam hiện còn giữ 12 đạo sắc phong triều Nguyễn, trong đó có 3 đạo sắc phong riêng cho Cá Ông ban năm 1845 và 1850.
Lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam diễn ra ngày nào
Ngày 16 tới 18 tháng Tám âm lịch, gồm nghi thức nghinh Ông trên biển từ Bãi Trước về hướng mũi Nghinh Phong và miếu Hòn Bà, rước về lăng, thỉnh sắc thần, cúng tế, xây chầu Đại bội, hát bội và các trò diễn của làng biển. Lễ hội được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 14 tháng 2 năm 2023.
Đình Thắng Tam nay thuộc tỉnh nào
Cụm di tích nằm ở số 77A Hoàng Hoa Thám, phường Vũng Tàu. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi quen dùng vẫn là đình Thắng Tam Vũng Tàu vì gắn với địa danh bán đảo Vũng Tàu và tên gọi trong các tư liệu di tích.