VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Thiên Ấn

天印寺 · Thiên Ấn Tự, Sắc tứ Thiên Ấn Tự

Tổ đình được chúa Nguyễn ban biển sắc tứ, dựng trên đỉnh một ngọn núi đỉnh bằng nhìn xuống chỗ sông Trà Khúc đổ ra biển.

Khai sơn
1694
tổ sư Pháp Hóa, hoàn thành năm 1695
Giếng Phật
hơn 20 m
đào xuyên thân núi, nguồn ghi khoảng 21 m
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng năm 1990

Từ bờ nam sông Trà Khúc nhìn sang, quý vị thấy một ngọn núi thấp, thân vuông vức, đỉnh bằng phẳng như bị gạt ngang một nhát. Người xưa bảo trông giống quả ấn của trời đóng xuống mặt sông, và đặt tên Thiên Ấn niêm hà. Hết con đường vòng quanh sườn núi, tới chỗ đất bằng trên đỉnh, quý vị gặp một khoảng sân rợp bóng cây và một nếp chùa thấp, mái ngói rêu, không cao không rộng.

Nếp chùa ấy là tổ đình, tức nơi phát tích của một dòng truyền thừa, chứ không phải một ngôi chùa làng. Chúa Nguyễn từng ban cho chùa tấm biển Sắc tứ Thiên Ấn tự. Sáu đời tổ sư kế nhau nằm trong khu viên mộ tháp phía sau. Và trong sân chùa có hai vật mà người xứ Quảng nhắc tới nhiều hơn cả kiến trúc: một cái giếng đào xuyên vào thân núi, và một quả chuông thỉnh từ dưới đồng bằng lên.

Chùa Thiên Ấn
Chùa Thiên Ấn. Ảnh: Daoduyan09, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tổ Đình Sắc Tứ Và Sáu Đời Tổ Sư

Tên đầy đủ ghi trên biển là Sắc tứ Thiên Ấn tự. Hai chữ sắc tứ không phải lời khen, mà là một tư cách hành chính của thời quân chủ.

Chữ Hán ghi ở đầu trang này là tên chùa viết theo lối chữ Hán thông dụng, do thư viện suy từ tên gọi, không phải nét chữ chép lại từ tấm biển.

Theo giáo nghĩa

Sắc tứ nghĩa là do vua hoặc chúa ban cho. Một ngôi chùa được sắc tứ tức là được nhà nước đương thời nhận vào hàng chùa chính thức, được ban biển ngạch treo trước chùa, và vị trụ trì có chỗ đứng trong hệ thống tăng cang, tăng lục của triều đình. Ở Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, việc ban sắc tứ là cách nhà chúa đỡ đầu cho Phật Giáo, đồng thời là cách sắp xếp các cơ sở thờ tự thành một trật tự có trên có dưới.

Chữ tổ đình nói việc khác: đó là ngôi chùa nơi một vị tổ sư khai sơn và nơi dòng pháp của vị ấy truyền xuống các đời sau. Chùa do đệ tử lập ở nơi khác gọi là chùa nhánh, tới ngày kỵ tổ thì tăng chúng chùa nhánh trở về tổ đình. Nói một ngôi chùa là tổ đình tức là nói nó đứng đầu một cây phả hệ, chứ không nói nó to hay đẹp.

Theo sử liệu

Người khai sơn là thiền sư Pháp Hóa, theo tư liệu nhà chùa thì quê ở Phúc Kiến, sinh năm 1670, viên tịch năm 1754, thuộc đời thứ ba mươi lăm dòng Lâm Tế. Ông dựng thảo am trên đỉnh núi vào khoảng năm 1694; công việc dựng chùa hoàn tất cuối năm 1695.

Sáu đời tổ kế nhau ở đây thường gọi chung là lục tổ: tổ đệ nhất Pháp Hóa, tổ đệ nhị Thiệt Úy Khánh Vân, tổ đệ tam Toàn Chiếu Bảo Ấn, tổ đệ tứ Chương Khước Giác Tánh, tổ đệ ngũ Ấn Tham Hoằng Phúc và tổ đệ lục Chơn Trung Diệu Quang. Một số tư liệu xếp thêm ngài Như Lợi Huyền Đạt, nên số đếm không phải nguồn nào cũng giống nhau.

Pháp danh của các đời kế thế cho biết một điều mà chỉ người trong nhà chùa mới đọc ra: các chữ Thiệt, Toàn, Chương, Ấn, Chơn, Như nằm liên tiếp trong bài kệ truyền thừa của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Nghĩa là từ đời thứ hai trở đi, mạch truyền thừa ở Thiên Ấn đi theo dòng Chúc Thánh, một nhánh Lâm Tế hình thành ở Đàng Trong và lan khắp miền Trung. Vị trí của tổ Pháp Hóa trong bài kệ ấy thì các nhà nghiên cứu còn bàn.

Ba lớp danh xưng ấy chồng lên nhau làm nên tư cách của ngôi chùa: tổ đình nói về phả hệ tu học, sắc tứ nói về quan hệ với nhà chúa, còn Thiên Ấn nói về mảnh đất.

Từ Thảo Am Trên Núi Hó Tới Chùa Sắc Tứ

Ngọn núi này trước khi có chùa mang tên nôm là núi Hó. Tên chữ Thiên Ấn đến sau, cùng lúc với việc mảnh đất trên đỉnh được chọn làm chỗ tu hành. Từ thảo am tới ngôi chùa được ban biển ngạch là quãng chừng hai chục năm.

  • 1694Dựng thảo am trên đỉnh núi
    Thiền sư Pháp Hóa từ phương xa tới, dựng thảo am trên khoảng đất bằng ở đỉnh núi Hó. Việc dựng chùa hoàn tất vào cuối năm 1695.
  • 1716Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển sắc tứ
    Chúa ban biển ngạch Sắc tứ Thiên Ấn tự. Đây là năm chép trong bài khảo về lục tổ của tổ đình; một số tư liệu khác ghi năm 1717, xem phần dưới.
  • 1754Tổ khai sơn viên tịch
    Thiền sư Pháp Hóa viên tịch, trụ trì tổ đình khoảng sáu mươi năm. Tổ đệ nhị Thiệt Úy Khánh Vân kế thế và trụ trì tới năm 1770.
  • 1827Một trong năm kỳ đại trùng tu
    Chùa trải năm kỳ trùng tu lớn, các mốc thường được kể là 1717, 1827, 1910, 1918 và đợt 1959 kết thúc năm 1961.
  • 1845Thỉnh chuông từ làng Chí Tượng
    Quả chuông đúc tại làng Chí Tượng được đưa lên núi, gắn với đời tổ đệ tam Toàn Chiếu Bảo Ấn. Chuông cao khoảng 2 mét, đường kính khoảng 0,7 mét.
  • 1990Di tích quốc gia
    Chùa Thiên Ấn cùng khu vực đỉnh núi được xếp hạng di tích cấp quốc gia.
  • Từ 1992Các đợt tu bổ gần đây
    Tư liệu nhà chùa ghi hai đợt tu bổ trong các năm 1992 tới 1993 và 2000 tới 2001, làm lại mái, sân và một số hạng mục phụ, giữ nguyên bố cục cũ.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn ghi khác nhau mà chúng tôi nêu thẳng thay vì chọn bừa.

Thứ nhất là năm ban biển sắc tứ. Bài khảo về hành trạng lục tổ đăng trên tạp chí nghiên cứu Phật học ghi năm 1716, tức năm Bính Thân. Trang tin Phật giáo và bài trên Giác Ngộ lại ghi năm 1717. Hai con số chỉ cách nhau một năm nhưng chưa nguồn nào dẫn được văn bản gốc để chốt, nên quý vị nên coi đây là khoảng 1716 tới 1717 dưới đời chúa Nguyễn Phúc Chu.

Thứ hai là niên đại khai sơn. Con số được dùng rộng rãi, cũng là con số ghi trong bảng dữ liệu của thư viện, là năm 1694. Bên cạnh đó có tư liệu địa phương nhắc tới mốc 1627 gắn với dòng chữ ghi ở cổng chùa. Mốc 1627 sớm hơn tới gần bảy chục năm và không khớp với năm sinh của tổ khai sơn,

Về độ cao ngọn núi, nguồn ghi 106 mét, nguồn ghi 105 mét, có bài ghi gọn khoảng 100 mét.

Bố Cục Chữ Khẩu, Giếng Phật Và Chuông Thần

Chùa dựng theo lối chữ khẩu, tức các dãy nhà quây kín bốn phía quanh một khoảng sân trong. Chánh điện ở giữa trục, nhà phương trượng phía sau, hai bên là nhà đông và nhà tây, tiếp đó là nhà kho và nhà trù. Bốn dãy khép thành một khối vuông, hợp với mảnh đất đỉnh núi bằng phẳng và có gió lớn quanh năm. Nhà phương trượng làm theo lối nhà rường miền Trung, bộ khung gỗ chịu lực, mái ngói âm dương, không có chi tiết chạm trổ rườm rà.

Tam quan

Cổng dựng ở đầu khoảng sân trên đỉnh, đánh dấu chỗ chuyển từ đường núi vào khuôn viên chùa. Đây cũng là nơi ghi các dòng chữ mà tư liệu địa phương dẫn ra khi bàn về niên đại khai sơn.

Chánh điện

Toà chính trên trục giữa, thờ Phật theo lối Phật Giáo Bắc Tông, hai bên có hai dãy tượng La Hán. Tư liệu nhà chùa nhắc tới pho tượng Thích Ca bằng đồng cao chừng 3 mét đặt trong khu thờ tự.

Nhà phương trượng

Nếp nhà rường phía sau chánh điện, chỗ ở và tiếp khách của vị trụ trì, cũng là nơi lưu giữ tư liệu và pháp khí của tổ đình.

Giếng Phật

Giếng đá đào trên đỉnh núi, sâu hơn 20 mét theo tư liệu nhà chùa, có nguồn ghi khoảng 21 mét, đường kính hơn 2 mét, thành giếng xây đá ong. Đây là nguồn nước cho cả khu chùa suốt mấy trăm năm.

Chuông Thần

Quả chuông đồng đúc tại làng Chí Tượng, đưa lên chùa năm 1845, cao khoảng 2 mét và đường kính khoảng 0,7 mét, treo bên chánh điện. Chuông được thỉnh trong các buổi lễ và các kỳ cầu siêu.

Khu viên mộ tháp

Vườn tháp phía sau chùa, gồm các bảo tháp năm tầng, bảy tầng và chín tầng, là nơi an trí nhục thân các đời tổ sư và chư tăng của tổ đình.

Trong sáu hạng mục ấy, khu viên mộ tháp là chỗ nói rõ nhất tư cách tổ đình. Ở chùa thường, mộ tháp là việc riêng của vài vị trụ trì. Ở tổ đình, vườn tháp là bản phả hệ dựng bằng gạch đá: mỗi ngọn một đời, số tầng ứng với thứ bậc, thứ tự các tháp cho biết dòng pháp chảy theo lối nào.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai cái tên giếng Phậtchuông Thần hay khiến người ta nghĩ đây là hai vật xuất hiện một cách phi thường. Xin nói theo giọng sử liệu.

Về giếng: truyền khẩu kể tổ khai sơn đào ròng rã hai mươi năm mới tới mạch nước. Con số ấy thuộc lớp truyền khẩu, nhưng cái khó thì đo được: đào một giếng sâu hơn hai chục mét xuyên thân núi, bằng dụng cụ cuối thế kỷ 17, trên một đỉnh núi không có đường lớn, là việc phải làm nhiều năm. Chữ Phật trong tên giếng nói về công sức của người tu chứ không nói về phép lạ.

Về chuông: tích kể quả chuông đúc xong đánh không kêu, phải tới khi được thỉnh lên chùa và có vị tổ cầu nguyện thì tiếng mới vang. Đây là mô típ quen trong truyện các quả chuông cổ ở nhiều vùng, thường ra đời sau khi hiện vật đã có. Cái chắc chắn là quả chuông thật: đúc tại làng Chí Tượng, đưa lên núi năm 1845, kích thước còn đo được.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, trong tư liệu nhà chùa hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là hình thể ngọn núi. Trong phép ngũ tinh của địa lý cổ, người ta xếp hình dáng núi vào năm loại theo ngũ hành: đỉnh nhọn là Hỏa tinh, đỉnh tròn là Kim tinh, thân thẳng cao là Mộc tinh, đỉnh lượn sóng là Thủy tinh, còn đỉnh bằng và thân vuông vức là Thổ tinh. Núi Thiên Ấn đúng vào loại sau cùng: thân hình thang, đỉnh phẳng rộng chừng mười hecta. Thổ tinh trong sách địa lý được coi là thế vững chãi nhất, hợp với việc dựng những công trình cần đứng lâu.

Cái tên nói đúng cái hình. Ấn là con dấu, mà con dấu thì vuông và mặt phẳng, tức cũng là hình của Thổ. Người xưa nhìn núi từ bờ nam sông rồi gọi là quả ấn của trời đóng xuống sông, cái tên ấy sinh ra từ quan sát hình khối chứ không từ chữ nghĩa. Đặt một tổ đình lên chính mặt quả ấn ấy, theo lối đọc cũ, là đặt công trình đúng vào chỗ vững nhất của thế đất.

Thứ hai là nước. Sông Trà Khúc chảy sát chân núi phía nam rồi ra biển ở phía đông. Trong phép xem đất, nước là thứ tụ khí và cũng là thứ giới hạn: dòng sông ôm lấy chân núi vừa làm minh đường rộng cho cả ngọn núi, vừa cắt núi ra khỏi vùng đồng bằng chung quanh, khiến nó thành một khối riêng. Một ngọn núi thấp đứng lẻ giữa đồng, có sông lớn vòng qua chân, là thế mà sách cũ gọi là độc sơn đắc thủy, tức núi đứng một mình nhưng có nước nuôi.

Thứ ba là hướng và bố cục. Khu chùa quay mặt về phía có sông, lưng dựa phần đỉnh núi phía sau. Hướng ấy đón ánh sáng và gió từ mặt sông, giữ được lối chuẩn của chùa chiền người Việt là lưng cao mặt thấp. Bố cục chữ khẩu, bốn dãy nhà quây kín một sân trong, là cách xử lý rất hợp lý cho một đỉnh núi trống trải: sân trong trở thành chỗ khí lắng lại, không bị gió cuốn đi.

Cuối cùng là đường lên. Lối đi vòng quanh sườn chứ không leo thẳng. Theo lối đọc cổ truyền, đường vào một nơi thờ tự càng quanh thì khí càng tụ, còn đường thẳng tuột thì khí xổ. Ở đây cái vòng ấy do địa hình mà có, nhưng kết quả thì trùng với điều sách địa lý mong muốn.

Lễ Theo Ngày Âm Lịch Và Các Kỳ Kỵ Tổ

Là tổ đình, chùa có hai lớp lễ chồng lên nhau. Lớp thứ nhất là các ngày lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, tính theo âm lịch. Lớp thứ hai là các kỳ kỵ tổ, tức ngày húy nhật của từng đời tổ sư, và đây mới là phần riêng của nơi này. Ngày kỵ tổ là dịp tăng chúng các chùa nhánh trong vùng trở về tổ đình.

Các ngày kỵ tổ chép theo tư liệu nhà chùa. Ngày kỵ tính theo âm lịch nên rơi vào ngày dương lịch khác nhau mỗi năm. Nguồn: Tư liệu về hành trạng lục tổ tổ đình Sắc tứ Thiên Ấn và bản tin lễ tưởng niệm tổ sư Pháp Hóa..
Ngày âm lịchLễNội dung
17 tháng GiêngKỵ tổ đệ nhất Pháp HóaHúy nhật vị khai sơn tổ đình, kỳ kỵ lớn nhất trong năm của chùa.
13 tháng HaiKỵ tổ đệ lục Chơn Trung Diệu QuangHúy nhật vị tổ đời thứ sáu.
Mùng 1 tháng BaKỵ tổ đệ tứ Chương Khước Giác TánhHúy nhật vị tổ đời thứ tư.
30 tháng SáuKỵ tổ đệ tam Toàn Chiếu Bảo ẤnHúy nhật vị tổ đời thứ ba, vị gắn với việc thỉnh chuông năm 1845.
Mùng 1 tháng Mười MộtKỵ tổ đệ nhị Thiệt Úy Khánh VânHúy nhật vị tổ đời thứ hai, người kế thế tổ khai sơn.
18 tháng ChạpKỵ tổ đệ ngũ Ấn Tham Hoằng PhúcHúy nhật vị tổ đời thứ năm.
Rằm tháng Tư và rằm tháng BảyPhật đản và Vu LanHai lễ lớn theo lịch chung của Phật Giáo Bắc Tông, cũng là hai đầu mùa an cư kiết hạ.

Ngoài các ngày trên, chùa đông người vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một. Người xứ Quảng có lệ lên núi vào những ngày ấy, phần đi lễ phần đi ngắm chỗ sông Trà Khúc mở ra cửa biển.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đỉnh núi Thiên Ấn, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi cũ, tỉnh Quảng Ngãi
Đường tới
Chùa nằm trên đỉnh núi Thiên Ấn, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi cũ, tỉnh Quảng Ngãi, bên tả ngạn sông Trà Khúc và cách trung tâm tỉnh lỵ chừng ba tới bốn cây số về phía đông bắc. Đường lên đi vòng quanh sườn núi tới khoảng đất bằng trên đỉnh.
Toạ độ
15.1264, 108.8189
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nơi này. Đây là tổ đình đang có tăng chúng tu học, nên nhà phương trượng, nhà đông và nhà tây là chỗ ở, quý vị chỉ đi trong phần sân và chánh điện. Ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ. Không tự ý thỉnh chuông. Không thả vật gì xuống giếng Phật, vì đây vẫn là giếng nước đang dùng. Khu viên mộ tháp là nơi an nghỉ của chư tổ, xin đi theo lối đã lát và không chạm tay vào bia tháp.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Thiên Ấn ở đâu và thờ ai

Chùa nằm trên đỉnh núi Thiên Ấn bên tả ngạn sông Trà Khúc, thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Đây là chùa Phật Giáo Bắc Tông, chánh điện thờ Phật, hai bên có hai dãy tượng La Hán. Chùa còn thờ sáu đời tổ sư của tổ đình, mỗi vị có một ngày kỵ riêng trong năm.

Sắc tứ Thiên Ấn tự nghĩa là gì

Sắc tứ nghĩa là do vua hoặc chúa ban. Chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch mang bốn chữ ấy, tức được nhà nước đương thời nhận vào hàng chùa chính thức. Các nguồn ghi năm ban biển là 1716 hoặc 1717, chênh nhau một năm và chưa nguồn nào dẫn được văn bản gốc để chốt lại.

Giếng Phật chùa Thiên Ấn sâu bao nhiêu

Tư liệu nhà chùa ghi giếng sâu hơn 20 mét, một số bài ghi khoảng 21 mét, đường kính hơn 2 mét, thành xây bằng đá ong. Giếng đào xuyên thân núi trên độ cao hơn một trăm mét, là nguồn nước của cả khu chùa. Truyền khẩu kể việc đào kéo dài chừng hai mươi năm.

Chuông Thần chùa Thiên Ấn có từ bao giờ

Quả chuông được đúc tại làng Chí Tượng ở phía nam tỉnh và đưa lên chùa năm 1845, gắn với đời tổ đệ tam Toàn Chiếu Bảo Ấn. Tư liệu ghi chuông cao khoảng 2 mét, đường kính khoảng 0,7 mét. Tích kể chuông đúc xong đánh không kêu cho tới khi được thỉnh lên chùa, đây là mô típ truyền khẩu quen thuộc chứ không phải ghi chép đương thời.

Thiên Ấn niêm hà nghĩa là gì

Nghĩa là quả ấn của trời đóng xuống mặt sông. Đây là tên một thắng cảnh, đặt theo hình khối ngọn núi khi nhìn từ bờ bên kia sông Trà Khúc: thân núi vuông vức, đỉnh bằng phẳng, trông như một con dấu úp xuống. Tên này nói về ngọn núi và cảnh quan, còn Thiên Ấn tự là tên ngôi chùa dựng trên đỉnh núi ấy.

Đọc Tiếp