VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Thập Tháp Di Đà

十塔寺 · Thập Tháp Tự, Sắc tứ Thập Tháp Di Đà Tự

Tổ đình Lâm Tế xưa nhất còn lại ở miền Trung, dựng trên gò đất từng mọc mười ngôi tháp Chăm, ngay cạnh tường thành kinh đô Vijaya cũ.

Khai sơn
Tổ Nguyên Thiều
nguồn ghi 1665, 1677 hoặc 1683
Sắc tứ
1691
biển Sắc tứ Thập Tháp Di Đà tự
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng ngày 9 tháng 1 năm 1990

Đi qua cánh đồng phía bắc khu thành cổ, quý vị gặp một hồ sen rộng, bên kia hồ là cổng chùa thấp nép dưới hàng cây già. Sau cổng là sân gạch, rồi một nếp chánh điện mái ngói, tường dày, màu gạch chỗ đỏ chỗ sẫm không đều. Chỗ gạch không đều ấy là điều đáng dừng lại: một phần tường của ngôi chùa xây bằng gạch nhặt từ những ngôi tháp Chăm đã đổ, vốn đứng ngay trên gò đất mà chùa đang chiếm.

Cái tên nói thẳng gốc gác. Thập Tháp nghĩa là mười ngọn tháp, đếm những ngôi tháp Chăm từng mọc trên gò này. Di Đà là tên rút gọn của Phật A Di Đà. Ghép hai vế lại thì được một cái tên kể đủ hai lớp của mảnh đất: lớp dưới là công trình thờ tự của người Chăm, lớp trên là ngôi tổ đình của một dòng thiền Lâm Tế do một vị sư từ Quảng Đông sang khai sơn.

Chùa Thập Tháp Di Đà
Chùa Thập Tháp Di Đà. Ảnh: Leemyongpak, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Thập Tháp Và Nền Tháp Chăm

Tên đầy đủ ghi trên biển là Sắc tứ Thập Tháp Di Đà tự. Ba phần của cái tên đến từ ba nguồn khác nhau: sắc tứ do chúa ban, Thập Tháp do mảnh đất, còn Di Đà do nhà chùa. Chữ Hán ghi ở đầu trang là tên chùa viết theo lối chữ Hán thông dụng, do thư viện suy từ tên gọi và rút gọn cho vừa, không phải nét chữ chép từ tấm biển.

Theo giáo nghĩa

Di Đà là cách gọi tắt của A Di Đà, vị Phật của cõi Cực Lạc phương Tây trong kinh điển Phật Giáo Bắc Tông. Đặt danh hiệu ấy vào tên chùa là chỉ rõ pháp môn mà chùa hướng tới ngay từ đầu.

Sắc tứ nghĩa là do vua hoặc chúa ban: chùa được ban biển ngạch tức là được nhà nước đương thời nhận vào hàng chùa chính thức. Ở Đàng Trong, đó vừa là cách nhà chúa đỡ đầu cho Phật Giáo, vừa là cách sắp xếp các cơ sở thờ tự vào một trật tự.

Tổ đình là ngôi chùa nơi một vị tổ sư khai sơn và nơi dòng pháp của vị ấy truyền xuống đời sau; chùa do đệ tử lập ở nơi khác gọi là chùa nhánh. Nói Thập Tháp là tổ đình tức là nói nó đứng ở gốc một cây phả hệ trải khắp miền Trung.

Theo sử liệu

Về phần Thập Tháp, các tư liệu chép rằng trên gò đất này, thường gọi là gò Long Bích, từng có mười ngôi tháp của người Chăm. Chúng đổ dần qua các thế kỷ, tới khi dựng chùa thì chỉ còn phế tích, gạch được nhặt lại để xây tường chùa.

Cần gọi đúng tên: đó là tháp Chăm, công trình thờ tự của Ấn Độ Giáo Chăm, cũng gọi là Bàlamôn Chăm, chứ không phải tháp Phật Giáo. Người Chăm dựng tháp gạch để thờ các vị thần trong hệ Ấn Độ Giáo cùng các vị vua được thần hóa, theo một truyền thống khác hẳn truyền thống của ngôi chùa dựng sau. Gò đất nằm ngay phía bắc thành Đồ Bàn, tức kinh đô Vijaya của Chămpa. Về công dụng của nhóm tháp, có nguồn coi đây là cụm tháp thờ tự, có nguồn cho rằng chúng gắn với việc gia cố khu thành.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không phê phán ai.

Thứ nhất, chùa Thập Tháp không có mười ngọn tháp. Nhiều người tới nơi rồi đếm các ngọn trong vườn tháp phía sau và tưởng đó là mười ngọn trong tên chùa. Mười ngọn trong tên chùa là tháp gạch Chăm, đã đổ từ trước khi có chùa; các ngọn trong vườn tháp là mộ tháp của chư tăng, dựng từ thế kỷ 19 và 20.

Thứ hai, việc dùng gạch tháp Chăm không có nghĩa là chùa dựng đè lên một ngôi tháp còn nguyên. Các tư liệu đều chép rằng tới lúc dựng chùa thì nhóm tháp đã sụp từ lâu, chỉ còn phế tích trên gò. Tận dụng gạch của công trình đã đổ là chuyện thường thấy, và ở đây nó để lại một dấu vết hiếm: hai truyền thống thờ tự nằm chồng trong cùng một bức tường.

Tổ Nguyên Thiều Và Dòng Lâm Tế Ở Đàng Trong

Người khai sơn là thiền sư Nguyên Thiều, hiệu Hoán Bích, còn gọi là Siêu Bạch, sinh năm 1648 tại phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông, thuộc đời thứ ba mươi ba dòng thiền Lâm Tế. Ông theo thuyền buôn sang Đàng Trong khoảng năm 1677 và dựng ngôi chùa này ở phía bắc thành Đồ Bàn.

  • 1648Tổ Nguyên Thiều ra đời
    Sinh tại phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, thọ giới năm mười chín tuổi, hiệu Hoán Bích, đời thứ ba mươi ba tông Lâm Tế.
  • Khoảng 1677Sang Đàng Trong và khai sơn Thập Tháp
    Tổ theo thuyền buôn tới phủ Quy Ninh, dựng chùa Thập Tháp Di Đà trên gò đất phía bắc thành Đồ Bàn. Năm khai sơn là chỗ các nguồn ghi khác nhau.
  • Khoảng 1682 tới 1684Ra Thuận Hóa lập chùa
    Tổ ra vùng Thuận Hóa lập chùa Vĩnh Ân và chùa Hà Trung; từ đây dòng pháp của ông lan khắp Đàng Trong.
  • 1691Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển sắc tứ
    Chùa được ban biển ngạch Sắc tứ Thập Tháp Di Đà tự, vào hàng chùa được nhà chúa đỡ đầu. Tấm biển được hòa thượng Mật Hoằng cho khắc lại năm 1821.
  • 1728Tổ khai sơn viên tịch
    Tổ viên tịch ngày mười chín tháng Mười âm lịch năm Mậu Thân, tại chùa Hà Trung. Tháp mộ của ngài đặt ở vùng Thuận Hóa chứ không ở Thập Tháp.
  • 1905Ngài Phước Huệ kế thế trụ trì
    Hòa thượng Chơn Luận Phước Huệ, đời thứ bốn mươi tông Lâm Tế, kế thế trụ trì. Ngài về sau được các vua triều Nguyễn mời vào cung giảng pháp nên trong nhà chùa quen gọi là Quốc sư.
  • 1924Dựng nhà phương trượng
    Nhà phương trượng hiện còn được dựng dưới thời ngài Phước Huệ.
  • 1990Di tích quốc gia
    Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày mùng chín tháng Giêng năm 1990.
Theo sử liệu

Thứ nhất là năm khai sơn, có ba con số cùng lưu hành. Nhiều bài trên báo Phật giáo ghi năm 1665. Tiểu sử tổ sư ghi tổ sang Đàng Trong khoảng năm 1677 rồi mới dựng chùa. Bảng dữ liệu của thư viện ghi năm 1683, con số mà một số tư liệu coi là năm dựng lại quy mô lớn bằng gạch nhặt từ phế tích tháp Chăm. Mốc 1665 khó dung hợp với năm tổ sang Đàng Trong; chúng tôi ghi cả ba.

Thứ hai là ngày kỵ tổ khai sơn: phần lớn tư liệu ghi ngày mười chín tháng Mười âm lịch, một số ghi ngày hai mươi. Tuổi thọ cũng vậy, có bản ghi tám mươi, có bản ghi tám mươi mốt.

Về dòng truyền thừa có một chỗ dễ gộp. Tổ Nguyên Thiều thuộc đời thứ ba mươi ba tông Lâm Tế, truyền theo bài kệ của ngài Vạn Phong Thời Ủy. Các đời trụ trì về sau ở Thập Tháp, trong đó có ngài Phước Huệ với pháp danh mang chữ Chơn, lại theo bài kệ của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Nói gọn: chùa do một vị tổ dòng Lâm Tế khai sơn, còn mạch truyền thừa các thế kỷ sau đi theo dòng Chúc Thánh.

Bố Cục Chữ Khẩu, Hòn Đá Chém Và Kho Mộc Bản

Chùa dựng theo lối chữ khẩu, tức bốn dãy nhà quây kín quanh một sân trong. Chánh điện ở trục giữa, nhà phương trượng phía sau, hai bên là đông đường và tây đường. Trước cổng là hồ sen rộng chừng năm trăm mét vuông, bờ kè đá ong.

Chánh điện đáng xem nhất về mặt vật liệu: tường xây gạch, trong đó có gạch nhặt từ phế tích tháp Chăm trên gò, nên màu gạch không đều. Bên trong, hệ cột gỗ lớn chạm hoa lá và linh vật theo lối chạm khắc miền Trung thời Nguyễn.

Chánh điện

Toà chính trên trục giữa, khoảng 400 mét vuông, thờ Tam Thế Phật, Quán Thế Âm, Địa Tạng, bộ tượng mười tám vị La Hán và các tượng tổ sư. Tường có phần xây bằng gạch tháp Chăm.

Nhà phương trượng

Nếp nhà phía sau chánh điện, khoảng 130 mét vuông, dựng năm 1924, là chỗ ở của vị trụ trì và nơi lưu giữ tư liệu của tổ đình.

Đông đường và tây đường

Hai dãy hai bên khép bố cục chữ khẩu, khoảng 150 và 120 mét vuông, là khu tăng chúng tu học.

Hồ sen trước chùa

Hồ rộng chừng 500 mét vuông ngay trước cổng, bờ kè đá ong, vừa là cảnh quan vừa là chỗ nước tụ trước khu chùa.

Vườn tháp

Khu mộ tháp của chư tăng phía sau chùa, dựng từ thế kỷ 19 và 20. Số lượng nguồn ghi hai mươi mốt ngọn, nguồn ghi hai mươi bốn.

Hòn đá chém

Khối đá cao 0,38 mét, dài 1,58 mét, rộng 1,3 mét, bốn góc đẽo gọn, nay nằm ở lối vào khu phương trượng và dùng làm một bậc tam cấp.

Theo sử liệu

Hòn đá chém. Truyền thuyết vùng này kể khối đá vốn đặt ở cổng khu thành cũ và từng được dùng làm chỗ kê đầu người bị xử tử vào buổi giao thời cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19; về sau một vị trụ trì chùa Thập Tháp xin lập đàn cầu siêu, tụng kinh ba ngày ba đêm, rồi đưa khối đá về chùa.

Cần ghi rõ đây là truyền thuyết địa phương, không phải ghi chép của sử biên niên. Cái đo được là bản thân khối đá; còn công dụng cũ thì thuộc lớp truyền khẩu.

Kho sách và ván khắc

Phần quý nhất của chùa nằm trong kho sách: một bộ Đại Tạng Kinh mà giới nghiên cứu đánh giá là bộ đầy đủ bậc nhất còn lại ở nước ta, cùng một kho mộc bản, tức các ván gỗ khắc ngược dùng để in kinh.

Các hiện vật chính hiện còn tại chùa. Nguồn: Bản tin về bộ Đại Tạng Kinh tại tổ đình Thập Tháp và các bài khảo trên báo Phật giáo..
Hiện vậtSố lượngGhi chú
Bộ Đại Tạng Kinh1.377 quyểnGồm nội dung của 479 bộ, đủ cả kinh, luật, luận và sử truyện; theo giới nghiên cứu là bộ đầy đủ bậc nhất trong nước
Mộc bản khắc kinhHơn 2.000 vánVán khắc kinh A Di Đà, kinh Kim Cang, kinh Pháp Hoa và nhiều bản khác
Tượng thờ chánh điệnNhiều phoTam Thế Phật, Quán Thế Âm, Địa Tạng, mười tám vị La Hán, tượng Đạt Ma và tượng chư tổ
Biển sắc tứMột tấmSắc tứ Thập Tháp Di Đà tự, ban năm 1691, khắc lại năm 1821

Kho mộc bản nói một điều mà kiến trúc không nói: ngôi chùa này từng là một nơi in sách. Ở thời chưa có nhà in, một tổ đình giữ hơn hai nghìn ván khắc tức là giữ cả phương tiện làm ra kinh sách cho một vùng rộng.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, trong tư liệu nhà chùa hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là cái gò. Chùa đứng trên một gò nổi cao hơn ruộng chung quanh, thường gọi là gò Long Bích. Trong phép xem đất ở đồng bằng, nơi không có núi để làm hậu chẩm, chỗ dựa được thay bằng thế đất nổi. Một gò cao giữa ruộng, khô ráo, thoát nước tốt, là mảnh đất mà ai định dựng công trình bền lâu cũng nhắm tới.

Lớp thứ hai là mảnh đất đã có tiền lệ. Người Chăm dựng mười ngôi tháp Ấn Độ Giáo tại đây từ trước; mấy trăm năm sau, một vị thiền sư đi tìm chỗ khai sơn lại dừng chân đúng chỗ này. Con mắt phong thủy cổ truyền gọi những mảnh đất nhiều lần được chọn cho việc thờ tự là đất có duyên. Nói cho công bằng thì lý do thực tế cũng đủ giải thích: gò cao, gần đường thủy, gần khu dân cư của một kinh đô cũ.

Thứ ba là nước. Hồ sen trước cổng làm thành một minh đường tụ thủy đúng nghĩa của sách cũ: khoảng nước bằng ngay trước cửa, để khí dừng lại chứ không xổ thẳng qua. Một gò đất nổi giữa vùng nhiều nước, lại có hồ trước mặt, đọc theo lối cũ là thế Thổ đắc Thủy, thế của chỗ tụ chứ không phải chỗ tán.

Thứ tư là hướng và bố cục. Khu thờ chính quay mặt về phía nam, hướng mà chùa chiền người Việt chuộng nhất. Bố cục chữ khẩu, bốn dãy quây kín một sân trong, được sách cũ coi là thế bốn mặt giữ lấy phần giữa: gió mưa bị chắn ở vòng ngoài, sân trong thành khoảng lặng.

Cuối cùng, xin ghi thêm một điều để tránh hiểu nhầm. Người Chăm dựng tháp không theo phép phong thủy của người Việt; kiến trúc tháp Chăm có quy tắc riêng của truyền thống Ấn Độ Giáo, trong đó cửa chính thường mở về phía đông đón mặt trời. Việc gò đất này đọc lên thuận theo con mắt phong thủy Việt là chuyện của người đọc sau.

Lễ Theo Ngày Âm Lịch Và Các Kỳ Kỵ Tổ

Là tổ đình, chùa có hai lớp lễ: các ngày lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông tính theo âm lịch, và các kỳ kỵ tổ, tức húy nhật của các vị tổ sư. Ngày kỵ tổ khai sơn là dịp tăng chúng các chùa nhánh trong dòng trở về.

Các ngày trên đều tính theo âm lịch nên rơi vào ngày dương lịch khác nhau mỗi năm. Nguồn: Tư liệu tiểu sử tổ sư Nguyên Thiều và các bài khảo về tổ đình Thập Tháp..
Ngày âm lịchLễNội dung
19 tháng MườiKỵ tổ khai sơn Nguyên ThiềuHúy nhật vị khai sơn tổ đình, kỳ kỵ lớn nhất trong năm. Một số tư liệu ghi ngày hai mươi.
Rằm tháng TưLễ Phật đảnLễ lớn theo lịch chung của Phật Giáo Bắc Tông, cũng là ngày mở đầu ba tháng an cư.
Rằm tháng Tư tới rằm tháng BảyAn cư kiết hạBa tháng chư tăng ở yên một chỗ chuyên tu, nếp giữ từ thời Phật còn tại thế.
Rằm tháng BảyLễ Vu Lan và tự tứNgày kết thúc mùa an cư, đồng thời là lễ báo hiếu, dịp đông Phật tử về chùa nhất trong năm sau dịp đầu xuân.
Mùng 8 tháng ChạpLễ Phật thành đạoNgày kỷ niệm Đức Phật thành đạo theo lịch Phật Giáo Bắc Tông.
Các ngày húy nhật chư tổKỵ các đời trụ trìNgoài kỵ tổ khai sơn, chùa còn giỗ các đời trụ trì kế thế, trong đó có ngài Phước Huệ.

Ngoài các ngày ấy, chùa đông người vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một. Người trong vùng có lệ đi chùa Thập Tháp rồi vòng qua khu thành cổ và các cụm tháp Chăm quanh đó trong cùng một buổi.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Vạn Thuận, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn cũ, tỉnh Gia Lai
Đường tới
Chùa ở thôn Vạn Thuận, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn cũ, tỉnh Gia Lai, ngay phía bắc khu thành Đồ Bàn cũ. Đi cùng tuyến có thể ghé thêm khu thành cổ và các cụm tháp Chăm trong vùng.
Toạ độ
13.9047, 109.0722
Khi tới nơi

Vài lệ của chính nơi này. Đây là tổ đình đang có tăng chúng tu học, nên khu phương trượng, đông đường và tây đường là chỗ ở, quý vị chỉ đi trong phần sân, hồ sen và chánh điện. Ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ. Không chạm tay vào tượng, vào biển sắc tứ và nhất là vào các ván mộc bản, vì gỗ khắc rất kỵ mồ hôi tay. Vườn tháp là nơi an nghỉ của chư tổ, xin đi theo lối đã lát.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Thập Tháp Di Đà ở đâu

Chùa ở thôn Vạn Thuận, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn cũ, tỉnh Gia Lai, ngay phía bắc khu thành Đồ Bàn cũ. Địa bàn này trước thuộc tỉnh Bình Định cũ, sau khi sáp nhập tỉnh năm 2025 thì thuộc tỉnh Gia Lai. Chùa cách thành phố Quy Nhơn cũ chừng hai mươi cây số về phía tây bắc.

Vì sao chùa có tên là Thập Tháp

Vì trên gò đất nơi dựng chùa từng có mười ngôi tháp của người Chăm, thuộc truyền thống Ấn Độ Giáo Chăm. Những ngôi tháp ấy đổ dần qua các thế kỷ, tới khi dựng chùa thì chỉ còn phế tích và gạch được nhặt lại để xây tường. Chùa không có mười ngọn tháp; các ngọn trong vườn phía sau là mộ tháp của chư tăng, dựng từ thế kỷ 19 và 20.

Chùa Thập Tháp xây năm nào

Các nguồn ghi khác nhau nên chưa chốt được. Nhiều bài trên báo Phật giáo ghi năm 1665; tiểu sử tổ sư ghi ngài sang Đàng Trong khoảng năm 1677 rồi mới dựng chùa; bảng dữ liệu của thư viện ghi năm 1683. Điều các nguồn thống nhất là chùa được ban biển sắc tứ năm 1691.

Hòn đá chém ở chùa Thập Tháp là gì

Là một khối đá cao 0,38 mét, dài 1,58 mét, rộng 1,3 mét, bốn góc đã đẽo gọn, nay nằm ở lối vào khu phương trượng và được dùng làm bậc bước. Truyền thuyết địa phương kể khối đá vốn đặt ở cổng khu thành cũ, sau được một vị trụ trì lập đàn cầu siêu rồi đưa về chùa. Đây là truyền khẩu chứ không phải ghi chép của sử biên niên.

Tổ sư Nguyên Thiều là ai

Là thiền sư người Quảng Đông, sinh năm 1648, hiệu Hoán Bích, còn gọi là Siêu Bạch, thuộc đời thứ ba mươi ba tông Lâm Tế. Ngài sang Đàng Trong khoảng năm 1677, khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà, sau ra Thuận Hóa lập thêm chùa Vĩnh Ân và chùa Hà Trung. Ngài viên tịch năm 1728, tháp mộ đặt ở vùng Thuận Hóa.

Đọc Tiếp