Đi từ trung tâm Biên Hòa về phía núi Bửu Long chừng ba cây số, quý vị gặp một khu đất rộng có hồ nước, có cổng tam quan mái ngói, và phía sau cổng là một lầu vuông hai tầng tám mái. Đường nét ấy quen: nó lặp lại gần như nguyên vẹn bố cục của Văn Miếu Quốc Tử Giám ngoài Thăng Long. Nhưng nước sơn còn mới, mặt đá còn sắc cạnh, và các bức tường chưa kịp mang lớp rêu mà một công trình ba trăm tuổi phải có.
Điều ấy không có gì mâu thuẫn, chỉ cần nói thẳng: văn miếu dựng năm 1715, còn công trình đang đứng là bản dựng lại từ cuối thế kỷ 20. Cái cũ ở đây là niên đại và là ý định của người xưa; cái mới là vật liệu. Muốn hiểu nơi này thì phải tách hai lớp ấy ra, và phần lớn bài viết dưới đây là việc tách ấy.

壹Thờ Khổng Tử Và Ý Nghĩa Của Một Văn Miếu
Trước hết xin nói rõ một điều mà nhiều người đi lễ hay nhầm: đây là công trình của Nho Giáo, không phải của Phật Giáo. Trong văn miếu không có tượng Phật, không có sư trụ trì, không có tụng kinh. Vị được thờ ở chính giữa là Khổng Tử, người mà Nho Giáo tôn là bậc thầy đầu tiên của đạo học.
Tên chữ Hán của nơi này, 鎮邊文廟, là chữ chúng tôi ghép theo tên gọi Trấn Biên và hai chữ văn miếu, chứ không phải chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể trên công trình. Xin quý vị hiểu đúng như vậy.
Văn miếu là miếu thờ văn, tức thờ đạo học, khác với võ miếu thờ nghề binh. Người được thờ chính là Khổng Tử, kèm theo là lớp tiên sư tiên hiền, tức các bậc thầy và các người hiền đời trước.
Chữ miếu ở đây cần phân biệt với chữ đền và chữ chùa. Chùa là cơ sở của Phật Giáo; đền thờ thần hoặc nhân thần được dân gian phong; còn miếu trong nghĩa Nho Giáo là nơi cử hành tế theo điển lệ, một nghi thức có bài bản, có chúc văn, có phẩm vật quy định, do chức sắc chủ trì chứ không do tăng sĩ. Lễ chính của văn miếu theo cổ lệ là tế Đinh, cử hành vào ngày Đinh đầu tháng Hai và tháng Tám âm lịch.
Hai chữ Trấn Biên nói ra bối cảnh của công trình. Trấn Biên là tên dinh trấn mà các chúa Nguyễn đặt cho vùng đất phía nam mới mở, và chữ ấy nghĩa là giữ vùng biên. Đặt một văn miếu ở một dinh trấn biên viễn là một việc có ý nghĩa riêng: nó cho thấy chính quyền Đàng Trong không xem đây là đất tạm, mà xem đây là đất sẽ ở lâu dài, nên phải có chỗ thờ đạo học giống như các vùng đã định cư từ trước.
Các tư liệu đều thống nhất rằng đây là văn miếu đầu tiên được dựng ở xứ Đàng Trong, có trước văn miếu Vĩnh Long và văn miếu Gia Định. Vế so sánh với văn miếu ở Huế thì các nguồn ghi không giống nhau, nên chúng tôi chỉ ghi vế mà mọi nguồn đều nói.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất: nhiều người tới đây thắp hương rồi khấn cầu đỗ đạt như khấn ở đền chùa. Theo đúng điển lệ Nho Giáo, văn miếu không phải nơi ban phúc lộc; việc bái ở đây mang nghĩa tôn sư, tức tỏ lòng với bậc thầy và với việc học. Chúng tôi ghi điều này theo điển lệ cũ, không phê phán ai, vì lệ cầu thi cử ở các văn miếu là tập quán đã hình thành từ lâu và tồn tại song song với điển lệ.
貳Ba Trăm Năm, Một Khoảng Trống Dài
Lịch sử nơi này gãy làm hai khúc rất rõ: khúc thứ nhất kéo từ năm 1715 tới năm 1861, khúc thứ hai bắt đầu từ năm 1998. Giữa hai khúc ấy là một khoảng trống hơn một trăm ba mươi năm, khi trên khu đất không còn công trình nào.
- 1715Dựng văn miếuTheo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, năm Ất Mùi đời chúa Nguyễn Phúc Chu, Trấn thủ Nguyễn Phan Long và Ký lục Phạm Khánh Đức chọn đất dựng văn miếu tại thôn Tân Lại, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh.
- Thế kỷ 18Trung tâm đạo học của cả vùngVăn miếu thành nơi cử hành lễ tế và là chỗ tôn vinh việc học cho cả dinh Trấn Biên, vùng đất bấy giờ còn thưa dân và mới khai mở.
- 1794Trùng tu lần thứ nhấtĐợt sửa lớn đầu tiên được tư liệu ghi lại, vào năm Giáp Dần.
- 1852Trùng tu lần thứ haiĐợt sửa lớn thứ hai, vào năm Nhâm Tý, tức Tự Đức năm thứ năm. Một vài bài viết in nhầm mốc này thành năm 1752; niên hiệu Tự Đức chỉ bắt đầu từ năm 1848 nên con số 1752 không đứng được.
- 1861Công trình bị phá hủyCác tư liệu ghi văn miếu bị phá hủy trong năm này. Từ đó khu đất bỏ trống, và suốt hơn một thế kỷ nơi đây không còn công trình thờ tự nào.
- 1998Khởi công phục dựngLễ khởi công phục dựng tổ chức ngày 9 tháng 12 năm 1998, trên chính vùng đất cũ thuộc phường Bửu Long. Công trình dựng theo bố cục của Văn Miếu Quốc Tử Giám ngoài Thăng Long.
- 2002Khánh thành giai đoạn mộtNgày 14 tháng 2 năm 2002, giai đoạn thứ nhất của khu phục dựng được khánh thành. Các hạng mục còn lại tiếp tục được xây trong những năm sau đó.
- 2016Di tích quốc giaVăn miếu Trấn Biên được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2894 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Có hai chỗ cần nói rõ về tư liệu.
Thứ nhất, về diện tích. Các bài viết về khu phục dựng thường ghi con số khoảng 15 hecta, nhưng phần lớn diện tích ấy là sân vườn, hồ và khu sinh hoạt chứ không phải khu thờ tự. Các nguồn không ghi thống nhất cách tính, nên quý vị nên coi con số này là diện tích khuôn viên chứ không phải quy mô của công trình thờ.
Thứ hai, về kiến trúc gốc. Mô tả sớm nhất mà chúng tôi tra được là của Gia Định thành thông chí, cho biết văn miếu thuở ấy có nhà bái đường và Đại Thành điện cùng cổng tam quan. Nhưng đó là mô tả bằng chữ, không phải bản vẽ, và không có cấu kiện nào của công trình cũ còn lại để đối chiếu. Vì vậy bản dựng lại hôm nay phải mượn bố cục của Văn Miếu Quốc Tử Giám làm khuôn, chứ không thể phục nguyên hình dáng thật của công trình năm 1715.
參Nhà Bái Đường Và Bố Cục Mượn Từ Thăng Long
Khu phục dựng dàn theo một trục dọc, đi từ ngoài vào trong lần lượt là cổng, hồ nước, lầu Khuê Văn, cửa Đại Thành, rồi tới khu thờ chính. Ai từng đi Văn Miếu Quốc Tử Giám sẽ nhận ra ngay trình tự ấy. Đây là bố cục chuẩn mực của văn miếu, và việc lặp lại nó là một lựa chọn có chủ ý, để người vào hiểu ngay mình đang đứng trong loại công trình nào.
Cổng ngoài cùng, mở vào trục chính. Cổng của văn miếu không phải tam quan nhà chùa mà là cửa của một miếu thờ theo điển lệ Nho Giáo, nên phần trang trí thiên về chữ nghĩa hơn là về tượng linh thú.
Nơi đặt bia đá ghi lai lịch của văn miếu, việc dựng năm 1715 và việc phục dựng cuối thế kỷ 20. Bia mang chức năng chép sử của cả khu.
Lầu vuông hai tầng, tầng trên có cửa sổ tròn. Tên lầu lấy theo sao Khuê, ngôi sao mà người xưa coi là chủ về văn chương. Đây là hạng mục mượn thẳng từ Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Hồ nước vuông nằm trên trục chính, tên nghĩa là giếng ánh sáng trời. Hồ vừa là mặt gương soi bóng công trình, vừa là khoảng lặng chia trục đi thành hai chặng.
Cửa trong, dẫn vào khu thờ chính. Chữ Đại Thành là danh hiệu tôn xưng Khổng Tử, nên cửa này đánh dấu chỗ bắt đầu của phần thờ tự đúng nghĩa.
Nhà bái đường là toà chính, nơi đặt ban thờ Khổng Tử và là chỗ cử hành lễ. Hai dãy nhà hai bên gọi là tả vu và hữu vu, dùng để tôn vinh các bậc danh nhân, một bên là danh nhân văn hóa cả nước, một bên là danh nhân của vùng đất phương Nam.
Hai chữ bái đường đáng được giải thích, vì đây là hạng mục cốt lõi của mọi văn miếu. Bái là lạy, đường là nhà; bái đường tức nhà để hành lễ. Trong một văn miếu đầy đủ theo lối cổ, bái đường là nơi người tế đứng, còn ban thờ Khổng Tử đặt ở phía trong, và người tế không bước qua ranh giới giữa hai phần. Cách bố trí này khác hẳn chùa chiền, nơi người lễ có thể đi vòng quanh ban thờ; ở văn miếu, khoảng cách giữa người tế và bậc được thờ là một phần của chính nghi thức.
Chỗ hay hiểu lầm nặng nhất ở nơi này là tuổi của công trình. Nhiều bài viết ghi văn miếu hơn ba trăm năm tuổi, và người đọc dễ hiểu rằng những mái ngói trước mắt mình đã đứng từ đời chúa Nguyễn.
Xin nói thẳng bằng giọng sử liệu: không một cấu kiện nào của công trình hiện nay thuộc về lần dựng năm 1715. Công trình cũ bị phá hủy năm 1861, khu đất bỏ trống hơn một trăm ba mươi năm, và toàn bộ những gì đang đứng đều được xây từ năm 1998 trở đi. Con số ba trăm năm là tuổi của việc thờ tự, không phải tuổi của gỗ đá. Nói rõ điều ấy không làm giảm giá trị của nơi này, mà cho phép quý vị nhìn đúng thứ mình đang nhìn.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Cần nói thêm rằng một văn miếu được dựng theo điển lệ của Nho Giáo, tức theo quy định về hạng mục và bố cục, và điển lệ ấy không phải phép xem đất.
Điều đáng đọc trước nhất là vùng đất. Khu văn miếu nằm ở phường Bửu Long, vùng đất nổi cao có núi đá ven thành phố Biên Hòa, không xa sông Đồng Nai. Trong phép xem đất, đây là thế khá đủ: có chỗ cao làm hậu chẩm tức chỗ dựa phía sau, có dòng lớn ở phía trước làm mạch dẫn khí. Châu thổ phương Nam phần lớn là đất bằng, nên một khu vừa có núi vừa có sông lớn kề bên là chỗ hiếm.
Thứ hai là trục và minh đường. Bố cục văn miếu đều chạy theo một trục dọc thẳng, và giữa trục ấy bao giờ cũng có một hồ nước vuông, ở đây là Thiên Quang tỉnh. Đọc theo lối cổ truyền thì hồ nằm giữa trục vào chính là minh đường có thủy tụ, tức khoảng sáng trước cửa có nước dừng lại. Nhưng cần hiểu rằng hồ này trước hết là một hạng mục của điển lệ văn miếu, mang nghĩa soi sáng đạo học; sự trùng khớp với khái niệm phong thủy là trùng khớp của hình thể chứ không phải của chủ ý.
Thứ ba là hướng. Văn miếu theo cổ lệ quay mặt về phương Nam, vì trong kinh điển Nho Giáo thì bậc thầy ngồi hướng Nam mà nhìn ra. Hướng Nam cũng là hướng mà kiến trúc thờ tự của người Việt chuộng, vì đón được ánh sáng và gió lành. Hai lý do ấy trùng nhau, một thuộc điển lệ và một thuộc khí hậu.
Cuối cùng là một nhận xét về đất đã mất rồi dựng lại. Trong cách nghĩ cổ truyền, mảnh đất từng được chọn cho việc thờ tự thì mang theo dấu của việc ấy, và dựng lại trên nền cũ là cách nối lại chỗ đứt chứ không phải làm ra một nơi mới. Việc khu phục dựng được đặt trên chính vùng đất của văn miếu xưa cho thấy nguyên tắc này vẫn được giữ. Đó là lối đọc thiên về ký ức hơn là thiên về hình thế.
伍Lễ Và Lệ Trong Năm
Lễ của văn miếu theo điển lệ Nho Giáo và tính theo âm lịch. Vì công trình hiện nay là bản dựng lại cuối thế kỷ 20, nề nếp lễ ở đây chưa dày như các văn miếu cổ ngoài Bắc; bảng dưới ghi lệ cổ truyền của loại công trình này cùng những dịp mà tư liệu về Trấn Biên nhắc tới.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày Đinh đầu tháng Hai | Tế Xuân Đinh | Lễ tế Khổng Tử mùa xuân theo cổ lệ của văn miếu, chọn ngày Đinh đầu tiên của tháng trọng xuân. Đây là một trong hai kỳ tế lớn nhất trong năm. |
| Ngày Đinh đầu tháng Tám | Tế Thu Đinh | Kỳ tế thứ hai, đối xứng với kỳ tế mùa xuân, chọn ngày Đinh đầu tiên của tháng trọng thu. |
| Ngày 27 tháng Tám | Khánh đản Khổng Tử | Ngày sinh của Khổng Tử theo lệ cổ truyền, có dâng hương kính bậc tiên sư. |
| Mùng Một tới rằm tháng Giêng | Dâng hương đầu xuân | Dịp đông người nhất trong năm ở khu văn miếu. Người trong vùng, nhất là học trò và gia đình có con đi học, tới dâng hương đầu năm. |
| Ngày sóc và ngày vọng hằng tháng | Dâng hương thường lệ | Mùng Một và ngày rằm âm lịch, theo nếp dâng hương chung của các nơi thờ tự. |
Ngoài lịch lễ, hai dãy tả vu và hữu vu còn được dùng làm chỗ để người tới đọc và nhớ tên các bậc đi trước. Bên tả dành cho danh nhân văn hóa của cả nước, trong đó có Chu Văn An, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du; bên hữu dành cho các bậc của đất phương Nam, trong đó có Võ Trường Toản và Nguyễn Đình Chiểu. Cách chia hai bên ấy chính là cách nơi này tự định vị: một văn miếu của vùng đất mới, nhưng nối vào dòng chung.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa cũ, tỉnh Đồng Nai
- Đường tới
- Văn miếu nằm ở phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa cũ, tỉnh Đồng Nai, cách trung tâm Biên Hòa chừng ba cây số về phía tây bắc. Đi cùng tuyến có thể ghé khu núi đá Bửu Long và chùa Bửu Phong ở ngay gần đó.
- Toạ độ
- 10.9556, 106.8144
Lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào nhà bái đường, đi nhẹ nói khẽ trong khu thờ. Không đặt lễ mặn và không đốt vàng mã, vì đây là miếu thờ theo điển lệ Nho Giáo chứ không phải đền phủ. Không chạm tay vào bia đá và các hiện vật bày trong hai dãy tả hữu vu. Khu vườn và hồ phía ngoài là chỗ đi lại tự do, còn trục chính từ cửa Đại Thành trở vào thì xin quý vị giữ trật tự như trong một nơi thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Văn miếu Trấn Biên thờ ai
Thờ Khổng Tử, bậc thầy đầu tiên của đạo học theo Nho Giáo, đặt ở ban chính trong nhà bái đường. Hai dãy tả vu và hữu vu hai bên dùng để tôn vinh các bậc danh nhân, bên tả là danh nhân văn hóa cả nước như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, bên hữu là các bậc của đất phương Nam như Võ Trường Toản và Nguyễn Đình Chiểu.
Văn miếu Trấn Biên xây năm nào
Dựng năm 1715, đời chúa Nguyễn Phúc Chu, do Trấn thủ Nguyễn Phan Long và Ký lục Phạm Khánh Đức chọn đất, đặt tại thôn Tân Lại thuộc dinh Trấn Biên. Việc này được Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định thành thông chí. Đây là văn miếu đầu tiên được dựng ở xứ Đàng Trong, có trước văn miếu Vĩnh Long và Gia Định.
Công trình hiện nay có phải kiến trúc gốc không
Không. Văn miếu cũ bị phá hủy năm 1861 và khu đất bỏ trống hơn một trăm ba mươi năm. Công trình đang đứng là bản dựng lại, khởi công ngày 9 tháng 12 năm 1998 và khánh thành giai đoạn một ngày 14 tháng 2 năm 2002, làm theo bố cục của Văn Miếu Quốc Tử Giám. Không cấu kiện nào thuộc về lần dựng năm 1715.
Văn miếu Trấn Biên là của đạo nào
Của Nho Giáo, không phải Phật Giáo. Trong văn miếu không có tượng Phật và không có sư trụ trì. Nghi thức chính theo cổ lệ là tế Đinh, cử hành vào ngày Đinh đầu tháng Hai và tháng Tám âm lịch, do chức sắc chủ trì theo điển lệ chứ không do tăng sĩ. Người đi văn miếu theo đúng lệ cũ là để tôn sư chứ không cầu lộc.
Văn miếu Trấn Biên được xếp hạng di tích năm nào
Được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2894 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2016. Di tích nằm ở phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa cũ, tỉnh Đồng Nai, gần khu núi đá Bửu Long.