Rời trung tâm Đà Lạt đi về phía đông chừng tám cây số, qua những vườn rau và nhà kính của Trại Mát, quý vị dừng trước một cổng tam quan mà cả mặt cổng lấp lánh những mảnh vỡ đủ màu. Bước vào sân, thứ đập vào mắt trước tiên là một con rồng dài gần năm mươi mét uốn quanh hồ nước, vảy rồng ghép bằng vỏ chai đập vỡ, chỗ xanh chỗ nâu. Ngẩng lên là một ngọn tháp bảy tầng, và cả bảy tầng ấy cũng phủ kín mảnh sành.
Người trong vùng gọi đây là chùa Ve Chai, gọi theo vật liệu chứ không gọi theo tên chữ. Tên chính thức của chùa là Linh Phước. Điều đáng nói ở nơi này không nằm ở chuyện chùa cổ hay không cổ, mà nằm ở chỗ khác: một nghề thủ công vốn của thợ Huế, nghề khảm sành sứ, đã được đưa lên cao nguyên rồi làm tới mức phủ kín toàn bộ một ngôi chùa.

壹Tên Gọi Và Nghề Khảm Sành Sứ
Ngôi chùa này mang hai tên đi song song. Linh Phước là tên chữ, nghĩa gộp lại là phúc lành ứng nghiệm; đây là tên ghi trên biển chùa và trong mọi văn bản. Chùa Ve Chai là tên dân gian, đặt theo hàng triệu mảnh vỏ chai, bát đĩa vỡ và mảnh sành sứ đủ màu được khảm khắp các công trình trong khuôn viên. Tên dân gian ấy nay được dùng nhiều hơn cả tên chữ.
Chữ Hán 靈福寺 ghi ở đầu bài là do thư viện suy từ âm Hán Việt của ba chữ Linh Phước Tự, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi mà chúng tôi đã tận mắt đối chiếu. Quý vị nên coi đó là cách viết phục dựng chứ chưa phải bản sao của hiện vật.
Khảm sành sứ là một nghề có gốc rõ ràng, và gốc ấy ở Huế. Thợ kinh đô dùng mảnh sứ vỡ, mảnh thủy tinh màu và mảnh gốm ghép lên nền vữa để làm rồng, phượng, hoa lá và các mảng trang trí trên mái điện, cổng và lăng tẩm. Kỹ thuật này lên đến mức dày đặc nhất ở các công trình cuối triều Nguyễn, nơi cả những mảng tường lớn cũng được phủ kín bằng mảnh ghép. Điều xảy ra ở chùa Linh Phước là kỹ thuật ấy được đem lên một ngôi chùa cao nguyên và được đẩy đi xa hơn về quy mô: thay vì trang trí điểm xuyết trên bờ nóc và bờ dải, mảnh ghép ở đây phủ gần như toàn bộ bề mặt nhìn thấy được.
Chùa theo Phật Giáo Bắc Tông, tức dòng Đại Thừa của người Kinh, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Cách bài trí ban thờ vì thế theo đúng lối chùa Bắc Tông: chính điện thờ Phật Thích Ca làm trung tâm, có ban thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, ban thờ Địa Tạng, khu thờ Tổ ở phía sau. Riêng ở đây, hai chủ đề được nhấn mạnh hơn hẳn các chùa cùng dòng là Quán Thế Âm và Địa Tạng, và cả hai đều được thể hiện thành công trình lớn chứ không chỉ thành pho tượng trên ban thờ.
Có hai chỗ hay hiểu lệch, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, tên Ve Chai không có nghĩa là chùa dựng bằng phế liệu. Mảnh sành sứ ở đây là vật liệu được chọn, được đập theo cỡ, phân theo màu rồi ghép theo bản vẽ; đó là một nghề thủ công có bài bản chứ không phải cách tận dụng đồ bỏ đi. Cái tên chỉ ghi lại điều mắt thấy, không nói được cách làm.
Thứ hai, những gì quý vị đang nhìn không phải kiến trúc năm 1949. Chùa khởi dựng năm ấy, nhưng toàn bộ diện mạo hiện nay hình thành từ đợt dựng lại năm 1990 trở đi và còn được bồi đắp thêm nhiều năm sau. Đây là công trình mới trên một nền chùa cũ.
貳Từ Ngôi Chùa Làng Tới Công Trường Bốn Mươi Năm
Lịch sử ở đây chia làm hai đoạn tách bạch. Đoạn thứ nhất là một ngôi chùa làng nhỏ của cư dân Trại Mát giữa thế kỷ trước. Đoạn thứ hai bắt đầu từ năm 1990 và kéo dài tới nay, khi ngôi chùa ấy được dựng lại rồi mở rộng thành cụm công trình như hiện thấy. Phần lớn những con số mà người ta hay nhắc về chùa Linh Phước đều thuộc đoạn thứ hai.
- 1949Khởi dựngChùa được dựng ở Trại Mát, khi ấy là một vùng canh tác nằm ngoài trung tâm Đà Lạt. Đây là mốc khởi dựng mà các nguồn đều thống nhất.
- Đầu thập niên 1950Hoàn thành lần đầuCác nguồn ghi năm hoàn thành khác nhau: có nguồn ghi 1951, có nguồn ghi 1952. Ngôi chùa giai đoạn này có quy mô nhỏ, chưa mang dáng dấp hiện nay.
- 1990Đại trùng tuĐợt dựng lại toàn bộ dưới đời trụ trì thứ năm, Thượng tọa Thích Tâm Vị, với sự đóng góp của Phật tử trong vùng và nhiều nơi khác. Từ mốc này ngôi chùa mang diện mạo khảm sành sứ.
- 1999Đúc đại hồng chungQuả chuông lớn được đúc và đưa lên tháp. Các nguồn ghi nặng khoảng 8.500 kg, chiều cao và đường kính miệng thì ghi lệch nhau đôi chút, nêu ở phần kiến trúc.
- 2008Linh Tháp được ghi nhậnNgọn tháp bảy tầng trong khuôn viên được tổ chức xác lập kỷ lục trong nước ghi nhận là tháp chuông cao nhất Việt Nam.
- Khoảng năm 2010Tượng Bồ Tát kết bằng hoa bất tửPho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm được kết từ hoa bất tử, loài hoa khô đặc trưng của vùng Đà Lạt. Niên đại và số liệu về pho tượng này các nguồn ghi rất khác nhau, chi tiết nêu ở phần kiến trúc.
- Những năm sau đóBồi đắp thêm các hạng mụcCông trình mười tám tầng địa ngục, các pho tượng gỗ lớn, khu tượng và các mảng phù điêu tiếp tục được làm thêm, khiến khuôn viên chùa liên tục thay đổi qua từng năm.
Xin nói rõ một điều về nguồn. Chùa Linh Phước không nằm trong danh sách di tích được xếp hạng, nên nơi này không có hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản để đối chiếu, thứ mà các bài khác trong mục Địa Điểm thường dựa vào. Phần lớn số liệu về chùa đến từ báo chí và từ hồ sơ các tổ chức xác lập kỷ lục, và đó là lý do các con số vênh nhau nhiều hơn hẳn những nơi có hồ sơ nhà nước.
參Long Hoa Viên, Linh Tháp Và Những Con Số Vênh Nhau
Khuôn viên chùa không dàn theo một trục dọc kín đáo như chùa Bắc Bộ, mà mở ra thành nhiều điểm nhìn, mỗi điểm là một công trình đứng riêng. Cách bày ấy hợp với địa hình sườn đồi và hợp với lối trang trí: mảnh khảm cần ánh sáng để bắt màu.
Khoảng sân trước với con rồng uốn quanh hồ nước, thân rồng dài 49 mét. Vật liệu là mảnh vỏ chai. Số lượng vỏ chai thì nguồn ghi khoảng 12.000, nguồn khác ghi tới 50.000; hai con số cách nhau quá xa để chọn bừa một.
Toà thờ chính, hai bên là hai hàng cột rồng khảm sành chạy suốt lòng điện. Chiều dài các nguồn đều ghi 33 mét, riêng chiều rộng thì nguồn ghi 12 mét, nguồn ghi 27 mét. Trong điện có pho tượng Phật Thích Ca lớn và các mảng phù điêu khảm kể sự tích nhà Phật.
Ngọn tháp bảy tầng trong khuôn viên, phần lớn nguồn ghi cao 36 mét, một số ghi 37 mét. Tháp được ghi nhận là tháp chuông cao nhất Việt Nam từ năm 2008. Trong tháp treo quả đại hồng chung.
Đúc năm 1999, nặng khoảng 8.500 kg. Chiều cao được ghi 4,3 mét hoặc 4,38 mét, đường kính miệng ghi 2,33 mét hoặc 2,34 mét tuỳ nguồn. Mặt chuông khắc chữ và hình theo lối chuông chùa Bắc Tông.
Pho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm kết từ hoa bất tử, nặng khoảng 3 tấn. Chiều cao ghi 17 mét hoặc 18 mét, số hoa ghi 600.000 hoặc 650.000 bông, thời gian làm ghi 20 ngày hoặc 36 ngày, số người tham gia ghi 300 hoặc 600 Phật tử cùng khoảng 30 nghệ nhân.
Công trình đi ngầm dạng đường hầm, nguồn ghi dài khoảng 300 mét, dựng các cảnh địa ngục để minh hoạ luật nhân quả. Đây là hạng mục làm sau, không thuộc lớp kiến trúc gốc.
Đáng nhắc riêng còn có tượng Phật Thích Ca trong chính điện, tư liệu ghi cao 4,9 mét, cùng gian thờ với hệ thống tượng Thiên thủ thiên nhãn gồm hàng trăm pho nhỏ, và nhiều pho tượng gỗ tạc từ nguyên khối, trong đó có tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Hai công trình lớn nhất của chùa đều dựng quanh hai vị Bồ Tát, và điều ấy có lý do trong giáo nghĩa. Bồ Tát Quán Thế Âm là vị lắng nghe tiếng kêu của chúng sinh mà tới cứu, nên hình tượng ngài luôn đặt ở chỗ mở, hướng ra ngoài, thấy được từ xa. Bồ Tát Địa Tạng thì phát nguyện xuống chỗ khổ nhất để độ, chừng nào địa ngục chưa trống thì chưa thành Phật, nên hình tượng ngài gắn với cảnh địa ngục. Công trình mười tám tầng địa ngục ở đây là lối kể bằng hình về luật nhân quả, một lối kể đã có từ lâu trong tranh và tượng chùa Việt.
Về các con số, xin nói thẳng. Cùng một pho tượng hoa bất tử mà bốn nguồn phổ thông ghi bốn cách khác nhau về chiều cao, số hoa, số ngày làm và số người làm; chiều rộng chính điện, chiều cao tháp và số vỏ chai làm nên con rồng cũng vậy. Thư viện ghi song song các con số ấy chứ không chọn một rồi trình bày như thể đã chốt. Phần lớn chênh lệch nhiều khả năng do mỗi nguồn đếm một phạm vi khác nhau, hoặc do các đợt bồi đắp về sau làm đổi kích thước ban đầu.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay tư liệu nhà chùa. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước hết là độ cao và địa hình. Trại Mát nằm trên cao nguyên Lang Biang, ở độ cao chừng một nghìn năm trăm mét, là một thung lũng canh tác lọt giữa các quả đồi thông. Trong phép xem đất, đây là dạng địa hình dễ đọc nhất, vì đồi núi có thật chứ không phải suy ra như ở đồng bằng châu thổ. Đồi phía sau làm hậu chẩm, tức chỗ dựa lưng; dải đồi hai bên làm tay long tay hổ, tức hai cánh ôm; lòng thung lũng trồng rau hoa trải ra phía trước làm minh đường. Một cụm chùa đặt trong khung ấy được coi là ở thế kín gió mà không bí, thứ sách xưa gọi là tàng phong tụ khí.
Về hướng, cổng tam quan mở ra đường Tự Phước, khu thờ chính lùi sâu vào trong theo thế đất dốc. Ở địa hình đồi, hướng của một ngôi chùa thường bị chính con dốc quyết định trước khi la bàn kịp nói gì: người dựng chùa chọn chỗ đặt nền bằng theo thế đất rồi mới xoay công trình cho hợp. Đây là lối làm phổ biến ở chùa vùng cao, khác hẳn lối chọn hướng theo trục nam bắc rất chặt của chùa đồng bằng Bắc Bộ.
Điều thứ ba đáng đọc là con rồng trong Long Hoa Viên. Chữ long mạch trong phép xem đất chỉ mạch đất chạy như thân rồng, vốn là một hình ảnh trừu tượng nói về địa hình. Ở đây hình ảnh ấy được làm thành vật thể, một thân rồng bốn mươi chín mét uốn quanh mặt nước ngay lối vào. Đọc theo lối cũ thì đây là cách lấy hình mà gọi khí, và rồng uốn quanh nước lại càng hợp, vì rồng thuộc về nước trong quan niệm cổ truyền.
Sau cùng là chất liệu. Mảnh sành sứ vốn là đất nung, tức hành Thổ, đã qua lửa, tức hành Hỏa; Hỏa sinh Thổ là một quan hệ tương sinh trong ngũ hành, nên một ngôi chùa đứng trên nền đất đồi mà phủ kín bằng thứ vật liệu ấy được đọc là Thổ được bồi. Đây là một cách đọc, không phải điều những người dựng chùa đã tính tới; rất có thể họ chọn vật liệu vì nghề và vì nó bền với sương mù cao nguyên, chứ không vì ngũ hành.
伍Lễ Tiết Theo Âm Lịch
Chùa theo lịch lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, tính theo âm lịch. Bài chỉ ghi những ngày cố định theo lịch ấy, không ghi giờ giấc, vì giờ tụng niệm thay đổi theo từng năm và từng mùa.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 và ngày rằm hằng tháng | Lễ sám hối và tụng kinh | Hai kỳ đều đặn nhất trong tháng của chùa Bắc Tông, Phật tử về tụng kinh, lễ Phật và làm lễ sám hối. |
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng Nguyên | Còn gọi là rằm tháng Giêng hay Tết Nguyên Tiêu, là kỳ cầu an đầu năm, một trong ba kỳ rằm lớn của năm. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật Đản | Kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh. Đây là ngày lễ trọng nhất trong năm của Phật Giáo Bắc Tông tại Việt Nam. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan và lễ Trung Nguyên | Lễ báo hiếu cha mẹ, gắn với tích Bồ Tát Mục Kiền Liên cứu mẹ khỏi cảnh khổ. Đây là kỳ lễ hợp mạch nhất với công trình mười tám tầng địa ngục trong khuôn viên. |
| 19 tháng Hai, 19 tháng Sáu, 19 tháng Chín | Ba ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm | Ba ngày vía đản sinh, thành đạo và xuất gia của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ở chùa này ba ngày ấy được coi trọng vì khu tượng Bồ Tát là công trình lớn nhất khuôn viên. |
| Rằm tháng Mười | Lễ Hạ Nguyên | Kỳ rằm lớn cuối cùng trong năm, gắn với việc tạ ơn sau mùa gặt theo nếp cũ của người Việt. |
| Mùng 8 tháng Chạp | Vía Phật Thích Ca thành đạo | Ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề, thường có khoá lễ riêng. |
Ngoài các kỳ lễ trên, chùa đông người vào dịp đầu xuân, khi nhiều gia đình ở Đà Lạt và vùng lân cận giữ lệ đi lễ chùa những ngày đầu năm.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 120 đường Tự Phước, phường 11, thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng
- Đường tới
- Chùa ở số 120 đường Tự Phước, phường 11, thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm Đà Lạt chừng tám cây số về phía đông. Ngoài đường bộ còn có tuyến đường sắt ngắn từ ga Đà Lạt tới ga Trại Mát, ga này nằm gần chùa và đi bộ được.
- Toạ độ
- 11.9403, 108.4903
Vài lệ của chính nơi này. Ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, giữ im lặng khi đang có thời kinh. Không chạm tay và không tựa vào các mảng khảm: mảnh sành sứ có cạnh sắc và lớp vữa gắn dễ bong khi bị đè. Không trèo lên thân rồng ở Long Hoa Viên. Cầu thang trong Linh Tháp hẹp và xoáy, xin quý vị lên xuống theo một chiều. Đường hầm mười tám tầng địa ngục tối và thấp trần, đi theo lối một chiều và không dừng lâu ở chỗ hẹp.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Linh Phước và chùa Ve Chai có phải một không
Là một. Linh Phước là tên chữ ghi trên biển chùa và trong mọi văn bản, còn Ve Chai là tên dân gian đặt theo hàng triệu mảnh vỏ chai và mảnh sành sứ khảm khắp các công trình trong khuôn viên. Tên dân gian nay được dùng nhiều hơn tên chữ, kể cả trên các bảng chỉ đường.
Chùa Linh Phước xây năm nào
Chùa khởi dựng năm 1949, hoàn thành lần đầu vào đầu thập niên 1950; các nguồn ghi năm hoàn thành là 1951 hoặc 1952. Nhưng toàn bộ diện mạo khảm sành sứ mà quý vị thấy hôm nay hình thành từ đợt dựng lại năm 1990 trở đi và còn được bồi đắp thêm nhiều năm sau đó.
Con rồng ở chùa Ve Chai làm bằng gì và dài bao nhiêu
Thân rồng trong Long Hoa Viên dài 49 mét, uốn quanh hồ nước ngay lối vào, vảy ghép bằng mảnh vỏ chai. Về số lượng vỏ chai thì các nguồn ghi rất khác nhau, có nguồn ghi khoảng 12.000, có nguồn ghi tới 50.000, nên thư viện ghi cả hai thay vì chọn một.
Tháp chuông chùa Linh Phước cao bao nhiêu và có gì bên trong
Linh Tháp có bảy tầng, phần lớn nguồn ghi cao 36 mét, một số ghi 37 mét, và được ghi nhận là tháp chuông cao nhất Việt Nam từ năm 2008. Trong tháp treo quả đại hồng chung đúc năm 1999, nặng khoảng 8.500 kg, cao 4,3 mét hoặc 4,38 mét tuỳ nguồn.
Tượng Bồ Tát kết bằng hoa bất tử làm khi nào
Pho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm kết từ hoa bất tử, loài hoa khô đặc trưng của vùng Đà Lạt, nặng khoảng 3 tấn. Các nguồn ghi lệch nhau nhiều: chiều cao 17 hoặc 18 mét, số hoa 600.000 hoặc 650.000 bông, thời gian làm 20 hoặc 36 ngày, do khoảng 30 nghệ nhân cùng 300 hoặc 600 Phật tử thực hiện.