Quý vị đi theo con đường men chân núi Độc, một bên là vách đá, một bên là biển, rồi đường hết ở một khoảng sân hẹp. Đền nằm ngay đó, thấp, nhỏ, lưng áp vào vách núi, mặt trước cách mép nước chỉ vài bước. Ngày sóng lớn, nước vỗ vào bờ thành đá trước cửa đền và bụi nước bay tới sân.
Khoảng cách ấy giải thích gần hết những gì cần biết về nơi này. Đây không phải một ngôi đền dựng ở chỗ thuận tiện; đây là ngôi đền dựng ở đúng chỗ việc đã xảy ra, tức ở mép nước, và mọi thứ về sau, từ bờ thành chắn sóng cho tới tục của dân đi biển, đều mọc ra từ vị trí không đổi ấy.
壹Bà Đế Và Nỗi Hàm Oan
Vị được thờ chính ở đây là bà Đào Thị Hương, một người thật theo thần tích nhà đền, chứ không phải một vị trong hệ thần linh sẵn có. Danh hiệu Bà Đế mà người đời quen dùng không phải tên gọi ban đầu; nó rút ra từ bốn chữ Đông Nhạc Đế Bà trong sắc phong về sau. Nắm được thứ tự ấy, tên gọi có sau người, thì mới đọc đúng lớp lang của nơi thờ tự này.
Trong lối thờ tự cổ truyền của người Việt, một nơi thờ thường có nhiều lớp. Lớp gốc ở đây là nhân thần, tức người thật được thờ như thần. Lớp thứ hai là hệ Đạo Mẫu, mà trung tâm là hàng Tam toà Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên cai miền trời sắc đỏ, Mẫu Thượng Ngàn cai miền rừng núi sắc xanh, Mẫu Thoải cai miền sông nước sắc trắng. Lớp thứ ba là nhà Phật. Ba lớp khác nhau cả về hệ thần linh cả về nghi thức, mà ở đền Bà Đế thì cùng có mặt trong một khuôn viên chật: các lớp không loại trừ nhau mà xếp cạnh nhau, mỗi lớp một ban.
Thần tích theo tài liệu nhà đền như sau. Bà Đào Thị Hương sinh năm 1718 ở vùng Ngọc, Đồ Sơn, con một đôi vợ chồng làm nghề biển đã cầu tự hai mươi năm. Bà mang thai với một vị chúa Trịnh; đến năm 1736, khi việc vỡ ra mà gia đình không nộp được khoản phạt của làng tổng, bà bị dìm xuống biển. Thần tích kể thi thể nổi lên ba lần ở chân núi Độc, dân sở tại lập miếu thờ ngay tại chỗ. Về sau, đời Tự Đức, bà được ban sắc phong Đông Nhạc Đế Bà, Trịnh chúa phu nhân, và từ đó ngôi đền mang tên đền Bà Đế.
Đây là thần tích do nhà đền và truyền tụng địa phương giữ, không phải một mục trong sử biên niên; các chi tiết như hương thơm khi sinh hay việc nổi lên ba lần thuộc lớp truyện linh dị. Các nguồn cũng vênh nhau về vị chúa: phần lớn ghi là Trịnh Giang, một số ghi là Trịnh Doanh, và có bài báo nêu thẳng rằng đây là chỗ nhầm giữa hai vị. Năm 1736 nằm trong giai đoạn Trịnh Giang cầm quyền nên hướng ấy khớp hơn, nhưng niên đại ấy cũng chỉ có trong thần tích, nên chúng tôi nêu cả hai.
Hai chỗ hay được hiểu lệch, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm vào ai.
Thứ nhất, bốn chữ Đông Nhạc Đế Bà là một danh hiệu được ban, không phải một tước vị trong triều. Chữ đế bà không có nghĩa bà từng là vua hay hoàng hậu; Đông Nhạc vốn chỉ ngọn núi phương Đông trong bộ ngũ nhạc và về sau thành chữ dùng cho các vị thần núi. Bốn chữ Trịnh chúa phu nhân đi kèm cũng là lời trong sắc phong đời Tự Đức, viết ra sau việc hơn một trăm năm, chứ không phải ghi chép đương thời về một cuộc hôn phối được phủ chúa công nhận. Sắc phong là văn bản nói về địa vị thờ tự, không phải về hộ tịch.
Thứ hai, Bà Đế không phải một vị trong hàng Tam toà Thánh Mẫu, và đền Bà Đế không phải một phủ thờ Mẫu. Trong đền có ban Tam toà, nhưng ban ấy là một lớp thờ tự thêm vào; chính điện vẫn là ban của Bà Đế cùng song thân. Lẫn lộn dễ xảy ra vì cả hai đều thờ một vị nữ và vì chữ Bà hay được đọc theo khuôn hệ Tứ phủ. Xếp đúng thì Bà Đế thuộc lớp nhân thần bản địa của một làng biển, và việc hệ Đạo Mẫu về sau đặt thêm ban thờ tại đây là hiện tượng đáng ghi chứ không phải một sự sai lệch.
貳Từ Miếu Bên Sóng Thành Ngôi Đền
Lịch sử nơi này đi theo một đường rất rõ: một cái miếu nhỏ dựng tại chỗ, rồi một sắc phong nâng cái miếu ấy lên hàng đền có danh hiệu, rồi những đợt xây dựng về sau nhằm giữ cho đền khỏi bị biển lấy đi. Vị trí sát mép nước vừa là lý do tồn tại của đền, vừa là vấn đề lớn nhất của nó.
- 1718Năm sinh theo thần tíchTài liệu nhà đền chép bà Đào Thị Hương sinh năm này ở vùng Ngọc, Đồ Sơn, trong một gia đình làm nghề biển. Đây là niên đại của thần tích, không có văn bản đương thời xác nhận.
- 1736Việc xảy ra và lập miếuNăm mà thần tích ghi là năm bà bị dìm xuống biển. Dân sở tại lập miếu thờ ngay dưới chân núi Độc, tại chỗ thi thể được cho là nổi lên.
- Đời Tự ĐứcBan sắc phong Đông Nhạc Đế BàSắc phong đời Tự Đức ban danh hiệu Đông Nhạc Đế Bà, Trịnh chúa phu nhân. Từ mốc này nơi thờ mang tên đền Bà Đế và có danh hiệu chính thức.
- Thế kỷ 19 và 20Lớp thờ tự nhiều banCác ban thờ Tam toà Thánh Mẫu, ban Phật và ban Đức Thánh Trần lần lượt được đặt trong khuôn viên, đưa nơi thờ tự từ một ban duy nhất thành một nơi nhiều lớp.
- Sau năm 1988Trùng tu và mở rộngĐền được xây dựng lại với quy mô lớn hơn: dựng bờ thành đá chắn sóng trước mặt đền, làm tháp chuông và sửa các lớp nhà. Diện mạo hôm nay chủ yếu định hình từ đợt này.
- Những năm gần đâyTiếp tục tu bổKhuôn viên tiếp tục được tu bổ theo từng đợt, phần lớn nhằm gia cố mặt tiếp biển. Bảng dữ kiện của thư viện để trống phần xếp hạng, và chúng tôi chưa tra được quyết định xếp hạng nào để ghi vào.
Một lời về chữ Hán ghi ở đầu bài. Danh hiệu Đông Nhạc Đế Bà được các tài liệu chép bằng chữ quốc ngữ; chúng tôi chưa tra được bản chụp sắc phong hay hoành phi nào để đối chiếu tự dạng. Bốn chữ ở đầu bài do chúng tôi suy ra theo nghĩa từng chữ trong danh hiệu ấy, không chép từ hiện vật tại đền.
參Một Khuôn Viên Chật Và Ba Lớp Thờ Tự
Đền không dàn theo trục dọc nhiều lớp như đền miếu vùng đồng bằng, đơn giản vì không có chỗ. Vách núi Độc chặn phía sau, biển chặn phía trước, nên khuôn viên phải trải theo bề ngang, các ban thờ xếp cạnh nhau chứ không xếp nối vào sâu. Lối kiến trúc được các tài liệu tả là giản dị, thanh nhã; ở một nơi quanh năm hứng hơi muối, sự giản dị ấy vừa là thẩm mỹ vừa là điều kiện sống còn của vật liệu.
Ban thờ Bà Đế cùng song thân, lớp thờ tự gốc của nơi này. Ban được đặt ở vị trí trung tâm, và trật tự ấy cho biết đâu là chủ, đâu là lớp thêm vào.
Đặt về phía bên phải theo mô tả của các tài liệu. Đây là lớp thờ tự thuộc hệ Đạo Mẫu, với ba vị Mẫu và các sắc đỏ, xanh, trắng ứng với ba miền.
Đặt về phía bên trái, cùng chỗ thờ vong linh chúng sinh. Ba danh hiệu này thuộc tín ngưỡng dân gian vùng biển, thờ các lực tự nhiên mà người làm nghề phải kể đến.
Đặt ở phía đối diện theo mô tả của tài liệu. Một ban Phật trong khuôn viên đền thờ nhân thần là chỗ đan xen đáng ghi nhất về mặt thờ tự tại đây.
Thuộc lớp xây dựng sau năm 1988. Bờ thành là công trình quyết định việc ngôi đền còn giữ được vị trí sát mép nước hay không.
Điều quý vị nên để ý khi đi hết các ban: bốn lớp thờ tự ở đây không hoà vào nhau mà đứng cạnh nhau và giữ nguyên khác biệt. Ban Bà Đế thờ một người có tên, có năm sinh, có câu chuyện. Ban Tam toà thờ một hệ thần linh trừu tượng theo miền và theo sắc. Ban Vua Biển, Vua Đất, Vua Núi thờ các lực tự nhiên không mang hình người. Ban Phật thuộc một hệ giáo nghĩa khác hẳn. Bốn cách nghĩ về thiêng liêng, trong một khuôn viên chưa bằng cái sân đình.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay sắc phong. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Thế đất ở đây rõ tới mức không cần suy: lưng tựa núi Độc, mặt hướng ra biển, và các tài liệu địa phương gọi thẳng bằng bốn chữ toạ sơn vọng hải. Trong phép xem đất, đây là dạng thuần của công thức tựa sơn hướng thủy: sau lưng có chỗ dựa vững để khí không tán, trước mặt có nước để khí tụ, hai bên vách đá làm tay long tay hổ. Đền miếu vùng châu thổ thường phải lấy mặt nước làm chỗ dựa vì không có núi; ở Đồ Sơn thì không phải thay thế gì.
Nhưng một điểm khiến thế đất này khác hẳn sách vở. Nước trước mặt chỉ được chuộng khi nó lặng, tức là hồ, là đầm, là khúc sông chảy chậm, vì nước lặng mới giữ được khí. Biển hở trước mặt đền Bà Đế thì không lặng: sóng vỗ trực tiếp vào chân đền, có ngày nước tràn lên sân. Theo sách vở, nước động mạnh là thế xung, tức đâm thẳng vào, điều phải tránh. Vậy mà nơi thờ vẫn được giữ đúng chỗ ấy suốt gần ba trăm năm, và bờ thành đá chắn sóng dựng về sau chính là lời đáp của người đời: không dời đền để tránh nước, mà dựng một lớp đá để làm nước dịu lại. Khi đền đã đứng ở nơi việc đã xảy ra thì vị trí không đổi được, chỉ có thể sửa cái thế quanh nó.
Xét theo ngũ hành, vị được thờ ở đây gắn với nước theo cả ba đường: bà là con nhà làm nghề biển, bà hoá trong nước, và đền bà đứng trên mép nước. Hành Thủy bao trọn cả thần tích lẫn chỗ đứng, và sự trùng khớp ấy là điều phong thủy gọi là đắc vị. Sau cùng, đền trông ra biển hở, tức minh đường mở gần như không giới hạn; ở đây cái minh đường ấy còn trùng với đường đi làm của cả một cộng đồng, vì hướng đền nhìn ra chính là hướng thuyền ra khơi.
伍Lễ Tiết Và Tục Của Người Đi Biển
Lễ ở đây gồm hai phần khác nhau về tính chất: các ngày lễ theo âm lịch của nhà đền, và tục của người làm nghề biển, thứ không có ngày cố định mà theo nhịp của từng chuyến đi.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 24 tháng Hai | Lễ tạ Đức Bà, ngày thứ nhất | Mở đầu kỳ lễ lớn nhất trong năm, gồm dâng hương và tế lễ tại chính điện. |
| Ngày 25 tháng Hai | Lễ tạ Đức Bà, ngày thứ hai | Ngày tế chính của kỳ lễ, đông người tới nhất trong ba ngày. |
| Ngày 26 tháng Hai | Khai xuân và cúng cơm | Ngày khép kỳ lễ. Một số tài liệu lại đặt lễ này vào ngày 26 tháng Giêng, chi tiết nêu ở dưới. |
| Mùng 1 và ngày rằm | Lệ thường kỳ | Nhịp lui tới đều đặn hằng tháng của dân sở tại, không gắn với kỳ lễ nào. |
| Không có ngày cố định | Lễ trước chuyến ra khơi | Người làm nghề biển tới lễ trước khi đi biển và tạ sau khi về, theo mùa cá và thời tiết chứ không theo lịch. |
Về ngày lễ, nguồn vênh nhau một chỗ, xin ghi thẳng. Một hướng tài liệu tách hai mốc: ngày 26 tháng Giêng là lễ khai xuân và cúng cơm, còn ngày 24 tới 26 tháng Hai là lễ tạ Đức Bà. Hướng khác gộp cả vào kỳ tháng Hai, coi hai ngày đầu là lễ tạ và ngày 26 tháng Hai là ngày khai xuân cúng cơm. Chúng tôi chưa tra được bản quy định lễ tiết nào của nhà đền để nói dứt điểm nên nêu cả hai. Điều các nguồn thống nhất là kỳ lễ lớn nhất trong năm rơi vào cuối tháng Hai âm lịch.
Phần đáng nói hơn là tục của dân đi biển. Đồ Sơn là đất làm nghề biển, và trong nghề ấy chuyện lành chuyện dữ phụ thuộc vào những thứ không ai điều khiển được: sóng, gió, luồng cá, sương mù. Lệ tới đền trước khi ra khơi và tới tạ khi về là lệ của những người sống với sự không chắc chắn ấy hằng ngày; nó nằm trong nhịp lao động chứ không trong lịch lễ, và chính nó giữ cho dòng người ở đây rải quanh năm theo con nước chứ không dồn vào mùa hội.
Một lớp nữa gắn với thần tích: vì Bà Đế được thờ như một người từng chịu hàm oan, nên bên cạnh dân làm nghề biển, đền còn được tìm đến bởi những người đang có chuyện oan khuất. Đây là hiện tượng quen thấy trong tín ngưỡng người Việt, một vị thần có thân thế nào thì được cầu về việc ấy. Chúng tôi ghi lại như một dữ kiện về tập quán.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Độc, phường Ngọc Hải cũ, nay là phường Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
- Đường tới
- Đền nằm dưới chân núi Độc, thuộc phường Ngọc Hải cũ, nay là phường Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, ở phía tây nam khu Đồ Sơn. Đoạn cuối là đường men chân núi sát biển, thường phải đi bộ vào những ngày đông người.
- Toạ độ
- 20.7058, 106.7853
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, không đặt tiền lên hương án và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Khuôn viên rất chật và nhiều bậc, phần sân trước sát mép nước nên trơn vào ngày sóng lớn và ngày mưa. Nếu đi đủ các ban, thứ tự thường được theo là chính điện trước, rồi mới tới ban Tam toà, ban Phật và các ban bên.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Bà Đế thờ ai
Thờ bà Đào Thị Hương, một người con gái làng chài ở vùng Ngọc, Đồ Sơn, theo thần tích đã bị dìm xuống biển vì hàm oan năm 1736 rồi được ban sắc phong Đông Nhạc Đế Bà. Chính điện thờ bà cùng song thân; trong khuôn viên còn có ban Tam toà Thánh Mẫu, ban Phật và ban Đức Thánh Trần.
Bà Đế có phải một vị trong Tam toà Thánh Mẫu không
Không. Bà Đế thuộc lớp nhân thần bản địa, tức người thật được thờ như thần, còn Tam toà Thánh Mẫu là một hệ thần linh khác. Trong đền có ban Tam toà, nhưng đó là lớp thờ tự thêm vào theo lối một nơi thờ nhiều lớp; chính điện vẫn là ban của Bà Đế.
Đông Nhạc Đế Bà nghĩa là gì
Là danh hiệu được ban trong sắc phong đời Tự Đức, kèm bốn chữ Trịnh chúa phu nhân. Chữ đế bà không có nghĩa bà từng là vua hay hoàng hậu; Đông Nhạc vốn chỉ ngọn núi phương Đông trong bộ ngũ nhạc và về sau thành chữ dùng cho các vị thần núi.
Thần tích nói bà có quan hệ với chúa Trịnh nào
Nguồn vênh nhau. Phần lớn tài liệu ghi là Trịnh Giang, một số ghi là Trịnh Doanh, và có bài báo nêu thẳng rằng đây là chỗ nhầm giữa hai vị. Năm 1736 trong thần tích nằm trong giai đoạn Trịnh Giang cầm quyền nên khớp hơn, nhưng niên đại ấy cũng chỉ có trong thần tích.
Lễ lớn ở đền Bà Đế vào ngày nào
Kỳ lễ lớn nhất trong năm rơi vào cuối tháng Hai âm lịch, khoảng ngày 24 tới 26, gọi là lễ tạ Đức Bà. Về lễ khai xuân và cúng cơm thì nguồn vênh: có tài liệu đặt vào ngày 26 tháng Giêng, tài liệu khác đặt vào ngày 26 tháng Hai.