Rời đường lớn, quý vị đi qua cổng tam quan rồi ra tới khoảng sân đền, và ngay sau lưng dãy mái là dòng sông Hồng chảy sát chân đất. Phía trên là đồi Cấm, cây kín, đổ bóng xuống cả khu đền. Đứng ở sân này thì thấy ngay cái thế của nơi thờ tự: lưng dựa vào đồi, mặt mở thẳng ra mặt nước.
Cần nói rõ ngay từ đầu: đây là một ngôi đền thờ nhân thần, tức nơi thờ một người thật đã được phong thần, thuộc lớp tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt. Vị được thờ là Hoàng Bảy, danh tướng trấn ải vùng biên, được triều đình phong Thần Vệ quốc. Nhưng trong cùng khuôn viên còn có cung Mẫu và ban Sơn Trang, nên nơi này mang hai lớp thờ tự cùng lúc, và cái tên dân gian quen dùng, Đền Ông Hoàng Bảy, lại thuộc về lớp thứ hai chứ không thuộc lớp thứ nhất.

壹Thần Vệ Quốc Hoàng Bảy Và Lớp Thờ Mẫu
Nơi này có hai cái tên, và hai cái tên ấy đến từ hai hệ thống khác nhau. Tên thứ nhất là Thần Vệ quốc Hoàng Bảy, tức danh hiệu triều đình ban cho một người thật; chữ vệ quốc nghĩa là giữ nước. Tên thứ hai là Ông Hoàng Bảy, cách gọi theo hàng Ông Hoàng trong hệ thần linh Tứ phủ. Cùng một vị, nhưng gọi bằng tên thứ nhất thì đang nói tới một nhân thần của nhà nước phong kiến, gọi bằng tên thứ hai thì đang nói tới một vị trong hệ Tứ phủ.
Sự có mặt của cả hai lớp ấy trong một khuôn viên là điểm riêng của đền Bảo Hà. Gian trong cùng thờ Đức Thánh Hoàng Bảy, nhưng bên cạnh còn cung Mẫu, ban Sơn Trang, ban thờ các Cô các Cậu, cùng ban Đức Vua Cha Ngọc Hoàng và Ngũ vị Tôn quan: bố cục của một nơi thờ Tứ phủ đủ lớp, dựng quanh một vị nhân thần làm chủ.
Theo cách hệ Tứ phủ tự nói về mình, dưới hàng Mẫu và hàng Quan là hàng Ông Hoàng, gồm mười vị được đánh số, phần nhiều gắn với những người có thật trong sử hoặc trong truyền tụng, về sau được nhận vào hệ thần linh. Ông Hoàng Bảy là vị thứ bảy trong hàng ấy, được coi là vị trấn giữ miền thượng du phía bắc, ngự đồng với khăn áo sắc tím chàm. Còn theo lối thờ tự của nhà nước phong kiến, một người có công được triều đình ban sắc phong thì trở thành thần, có nơi thờ và có lệ tế; đó là lối thờ nhân thần. Hai lối ấy gặp nhau ở đền Bảo Hà.
Về mặt khảo được, các tư liệu địa phương chép rằng vị được thờ tên là Nguyễn Hoàng Bảy, danh tướng miền sơn cước thời Cảnh Hưng, tức khoảng 1740 tới 1786, được phái lên trấn giữ vùng biên ải phía bắc và đã tử tiết tại đây. Thần tích chép tiếp rằng dân địa phương đưa thi thể ông lên khỏi dòng sông Hồng, mai táng rồi lập miếu thờ; ngôi miếu ấy là gốc của khu đền hôm nay. Đền được người Kinh, người Tày và người Dao trong vùng cùng thờ.
Cần nói thẳng một chỗ: thân thế cụ thể của vị được thờ chưa dứt điểm về mặt sử liệu. Báo chí dẫn ý kiến của giới nghiên cứu văn hóa cho biết gốc tích thật của nhân vật vẫn còn chỗ tranh luận, và tư liệu hiện có phần lớn là thần tích cùng truyền tụng địa phương chứ không phải sử biên niên. Việc triều đình ban danh hiệu Thần Vệ quốc thì các tư liệu nhắc đều, nhưng niên hiệu của lần ban sắc ấy không nguồn nào chúng tôi tra được nêu rõ, nên bài không ghi niên hiệu.
Vì có hai cái tên nên hay xảy ra hai kiểu hiểu lệch trái ngược nhau. Một bên nghe tên Ông Hoàng Bảy rồi cho rằng đây thuần là một vị thần trong hệ Tứ phủ, không có gốc người thật; một bên đọc chữ Thần Vệ quốc rồi cho rằng mọi chuyện kể về vị này đều đã chép trong sắc phong. Theo tư liệu thì cả hai đều đi quá: có một lớp nhân thần được nhà nước phong kiến công nhận, và có một lớp Tứ phủ hình thành sau đó trong dân gian, hai lớp ấy xếp lên nhau chứ không thay nhau.
貳Từ Ngôi Miếu Bên Sông Đến Khu Đền Hôm Nay
Lịch sử của nơi này đi từ một ngôi miếu nhỏ dựng bên bờ sông tới một khu đền có nhiều lớp cung thờ. Các mốc dưới đây lấy theo tư liệu di tích và tư liệu báo chí địa phương; chỗ nào tư liệu không nêu niên đại thì chúng tôi để trống chứ không suy ra.
- 1740 tới 1786Thời của vị được thờNiên hiệu Cảnh Hưng, khoảng thời gian mà các tư liệu địa phương xếp thân thế của danh tướng Nguyễn Hoàng Bảy vào.
- Thế kỷ XVIIILập miếu thờDân địa phương lập miếu thờ ngay bên dòng sông Hồng, dưới chân đồi Cấm. Đây là mốc khởi dựng mà bảng dữ liệu của thư viện ghi cho đền.
- Không rõ niên hiệuBan danh hiệu Thần Vệ quốcCác tư liệu đều chép việc triều đình ban danh hiệu Thần Vệ quốc cho vị được thờ, nhưng không nguồn nào nêu rõ niên hiệu của lần ban ấy.
- Tháng 11 năm 1997Di tích quốc giaĐền Bảo Hà được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, theo mốc mà các tư liệu địa phương ghi.
- 2016Lễ hội vào danh mục di sản quốc giaLễ hội đền Bảo Hà được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điều được ghi danh là tập quán lễ hội cùng các nghi thức của nó.
- Những năm gần đâyTu bổ theo từng hạng mụcKhu đền được tu bổ và khuôn viên được sắp xếp lại theo từng hạng mục, gồm cổng tam quan, sân đền, nhà khách và các cung thờ, chứ không làm một đợt lớn.
Hai chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng thay vì chọn bừa. Thứ nhất là tên thôn: bảng dữ liệu của thư viện ghi đền ở thôn Bảo Hà, xã Bảo Hà, còn trang của chính khu đền ghi thôn Bảo Vinh cùng xã ấy; khả năng cao là do ranh thôn đã đổi qua các lần sắp xếp đơn vị hành chính, và chúng tôi nêu cả hai. Thứ hai là cách gọi thế đất: có nguồn ghi đền dựng dưới chân đồi Cấm, có nguồn gọi là núi Cấm. Đây là chênh nhau ở cách gọi một quả đồi thấp vùng trung du chứ không phải hai địa điểm khác nhau, nhưng con mắt phong thủy có phân biệt đồi với núi, nên chỗ này đáng lưu ý khi đọc phần thế đất phía dưới.
參Các Lớp Cung Thờ Và Khuôn Viên
Khu đền không dựng theo một khối lớn mà dàn thành nhiều hạng mục nối nhau, đi từ ngoài vào gồm cổng tam quan, sân đền, nhà khách, phủ chúa Sơn Trang, toà đại bái, rồi các lớp cung thờ trong cùng; ngoài ra còn đền Trình ở phía ngoài và mộ của vị được thờ. Cách bày ấy cho thấy khu đền lớn dần theo thời gian chứ không được thiết kế trọn một lần.
Lớp ngoài cùng, nơi người tới lễ tập trung trước khi vào các cung. Sân mở về phía sông Hồng, nên đứng ở đây thấy được cả mặt nước và sườn đồi phía sau đền.
Lớp nhà lớn phía trước, nơi đặt ban Công đồng và diễn ra phần lớn việc dâng hương thường ngày. Theo lệ chung của các đền Tứ phủ, ban Công đồng là ban được lễ trước tiên.
Hai lớp trong, trong đó cung cấm là lớp sâu nhất, đặt tượng Đức Thánh Hoàng Bảy. Không gian hẹp và tối hơn các lớp ngoài, theo đúng lối bố trí hậu cung của đền miếu Bắc Bộ.
Phần thuộc lớp thờ Mẫu trong khuôn viên, gồm cung thờ Tam toà Thánh Mẫu và phủ chúa Sơn Trang gắn với miền rừng núi. Đây là chỗ cho thấy rõ nhất tính lưỡng tính của nơi thờ tự này.
Các ban thuộc hàng trên trong hệ Tứ phủ. Trong khuôn viên còn có ban thờ Đức Thánh Trần cùng các ban hàng Cô hàng Cậu.
Nằm trong quần thể, gắn với đoạn thần tích về việc dân địa phương mai táng vị tướng bên bờ sông. Một ngôi mộ trong khu đền là dấu hiệu rõ nhất cho biết đây là nơi thờ người thật chứ không phải thờ thần tự nhiên.
Một điều về chữ Hán. Bài ghi hai chữ 保河 cho tên Bảo Hà, và xin nói rõ đó là chữ chúng tôi suy ra từ địa danh, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay tấm bia nào tại đền mà chúng tôi đã đối chiếu được. Đọc theo nghĩa thì bảo là giữ gìn và hà là sông, nghĩa ấy khớp với vị trí của đền bên một khúc sông Hồng vùng biên; nhưng khớp về nghĩa không thay được việc đối chiếu văn bản.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, thần tích hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều rõ nhất ở đây là thế tựa sơn hướng thủy gần như đúng theo sách vở, điều mà phần lớn đền miếu vùng châu thổ không có được. Đền dựa lưng vào đồi Cấm, mặt trông ra sông Hồng. Trong phép xem đất, chỗ dựa phía sau gọi là hậu chẩm, có nhiệm vụ chắn gió và giữ cho khí không thổi tán; mặt nước phía trước là minh đường, có nhiệm vụ tụ khí và mở tầm. Ở đền Bảo Hà, quả đồi và dòng sông nhận đúng hai vai ấy mà không cần bù thêm bằng việc đào hồ như các đền đất bằng.
Kế đến là chuyện đồi hay núi. Với con mắt phong thủy thì hai cách gọi có khác biệt: núi cao thì thế dốc và mạnh, dễ sinh cái gọi là khí xạ, tức khí đến quá gấp; đồi thấp thì thế thoải và hoà, chỗ dựa vừa đủ mà không đè. Nhìn tỷ lệ giữa mái đền và sườn đất phía sau thì đây thuộc lối thứ hai.
Thứ ba là hướng nước. Sông Hồng ở khúc này đi qua trước mặt đền rồi xuôi về hạ lưu. Trong phép xem đất, nước đi ngang trước cửa mà không xói vào chân đất thì gọi là thủy hoàn, tức nước vòng qua, và lối ấy được coi là lành hơn thế nước xói thẳng vào cửa. Riêng chỗ đền đứng gần mép nước kéo theo một mặt khác: đất ven sông chịu nước lên xuống theo mùa, nên việc giữ được nền đền qua hàng trăm năm ở một khúc sông như vậy thuộc về công chăm giữ của người tại chỗ, không thuộc về thế đất.
Sau cùng là lớp nghĩa của địa danh. Bảo Hà đọc theo chữ là giữ sông, và vùng này nằm trên đường nước từ biên giới xuôi về châu thổ. Con mắt cổ truyền đọc những nơi như vậy là cửa ngõ, tức chỗ một dòng khí lớn phải đi qua. Xin nhắc lại rằng đây là kiến giải, không phải tư liệu.
伍Lễ Tiết Trong Năm Và Lệ Dâng Lễ
Nhịp lễ trong năm của đền tính theo âm lịch, mở đầu bằng lễ Thượng nguyên rằm tháng Giêng và dồn về chính tiệc ngày mười bảy tháng Bảy, tức ngày giỗ của vị được thờ. Bảng dưới đây chỉ ghi những mốc cố định theo âm lịch, không ghi giờ giấc, vì giờ giấc thay đổi theo từng năm.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng nguyên | Lễ đầu năm của đền, mở đầu nhịp lễ trong năm và là dịp đông người của mùa xuân. |
| Ngày 25 tháng Năm | Tiệc Quan Tuần Tranh | Một ngày tiệc thuộc hệ Tứ phủ được giữ tại đền, thuộc lớp thờ Mẫu chứ không thuộc lớp nhân thần. |
| Ngày 17 tháng Bảy | Lễ giỗ Ông Hoàng Bảy | Chính tiệc trong năm, gồm lễ cầu an, lễ cúng khao quân, lễ dâng hương và phần rước. |
| Trong dịp chính tiệc | Phần hội | Thi mâm lễ, diễn xướng về vị được thờ, giao lưu giữa các thôn bản và trưng bày nghề thủ công trong vùng. |
| Mùng một và ngày rằm hằng tháng | Lệ thường kỳ | Nhịp dâng hương đều đặn quanh năm, đông nhất vào các tháng đầu năm âm lịch. |
Hai lệ khiến nơi này khác các đền khác là lệ dâng ngựa và lệ dâng trà. Ngựa được dâng là ngựa mã sắc tím chàm, thường gọi là ngựa tía, kèm bộ minh nghi gồm mũ, áo và hài. Các tư liệu hướng dẫn giải thích rằng ngựa là phương tiện để vị được thờ tuần du, còn sắc tím chàm là sắc áo của vị ấy khi ngự đồng; đó là cách hệ Tứ phủ giải thích, và chúng tôi ghi lại đúng mức ấy. Trà mạn cùng thuốc lá được dâng với ý là thú thanh nhã của bậc quyền quý thời xưa. Bên cạnh đó là lễ chay gồm oản, bánh, ngũ quả, và lễ mặn gồm gà luộc với xôi.
Chỗ hay hiểu lệch ở đền này không nằm ở lễ vật mà nằm ở nội dung người ta gửi vào lễ vật. Xin ghi bằng giọng sử liệu.
Danh hiệu được tư liệu chép là Thần Vệ quốc, nghĩa là thần giữ nước, và thần tích của đền nói về việc trấn ải một vùng biên. Không có tư liệu nào về đền chép rằng vị được thờ nhận việc ban vận may trong cờ bạc hay số đề. Tuy vậy trong mấy chục năm gần đây, báo chí ghi nhận một dòng người tới đền để xin những điều thuộc loại ấy, và ghi nhận cả việc trong khuôn viên đền phải dán thông báo về những thứ không được dâng. Chúng tôi chép lại hiện tượng này đúng như một sự việc được báo chí ghi nhận, không bàn tới người đi lễ.
Về lễ vật thì các tư liệu hướng dẫn khá thống nhất: ngựa tía kèm minh nghi, trà mạn, thuốc lá, oản, ngũ quả, gà và xôi. Riêng thuốc phiện cùng bộ đèn thuốc phiện, thứ thỉnh thoảng được nhắc trong lời truyền miệng, thì chính nơi thờ tự đã ghi rõ là không nhận, nên không thuộc lệ của đền. Nói cách khác, lệ của đền hẹp hơn những gì lời truyền miệng gán cho nó.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Bảo Hà, xã Bảo Hà, tỉnh Lào Cai
- Đường tới
- Đền nằm ở thôn Bảo Hà, xã Bảo Hà, tỉnh Lào Cai, thuộc địa bàn huyện Bảo Yên cũ, cách thành phố Lào Cai chừng sáu mươi cây số về phía nam. Khu đền ở ngay bên bờ sông Hồng, có cả đường bộ và đường sắt chạy qua vùng này.
- Toạ độ
- 22.1103, 104.4436
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Theo trật tự quen của đền, việc dâng hương bắt đầu ở ban Công đồng ngoài đại bái, rồi tới cung Ông, sau đó mới sang cung Mẫu và ban Sơn Trang. Trong cung cấm xin đi nhẹ, không chạm vào tượng và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức. Những thứ đền ghi là không nhận thì xin đừng mang theo. Ngày mười bảy tháng Bảy âm lịch là lúc đông nhất, lối vào được phân luồng.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Bảo Hà thờ ai
Thờ Thần Vệ quốc Hoàng Bảy, dân gian quen gọi là Ông Hoàng Bảy. Các tư liệu địa phương chép ông tên Nguyễn Hoàng Bảy, danh tướng thời Cảnh Hưng trấn giữ vùng biên ải phía bắc. Đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, tức thờ một người thật đã được triều đình ban danh hiệu thần, chứ không phải thờ thần tự nhiên.
Đền Bảo Hà có phải đền thờ Mẫu không
Không hẳn, và đây là điểm riêng của đền. Vị chủ của nơi thờ tự là một nhân thần, nhưng trong khuôn viên còn có cung Mẫu, phủ chúa Sơn Trang, ban Ngũ vị Tôn quan cùng các ban hàng Cô hàng Cậu. Nói cách khác, một lớp thờ Mẫu đã dựng lên quanh một vị nhân thần, và hai lớp ấy cùng tồn tại.
Lễ giỗ Ông Hoàng Bảy là ngày nào
Ngày mười bảy tháng Bảy âm lịch, chính tiệc trong năm của đền, gồm lễ cầu an, lễ cúng khao quân, lễ dâng hương và phần rước, kèm phần hội với thi mâm lễ và diễn xướng. Ngoài ngày ấy, đền còn lễ Thượng nguyên rằm tháng Giêng và tiệc Quan Tuần Tranh ngày hai mươi lăm tháng Năm âm lịch.
Đi đền Ông Hoàng Bảy dâng lễ gì
Các tư liệu hướng dẫn kể ngựa mã sắc tím chàm kèm bộ minh nghi gồm mũ áo hài, trà mạn, thuốc lá, cùng lễ chay gồm oản bánh ngũ quả và lễ mặn gồm gà luộc với xôi. Riêng thuốc phiện và bộ đèn thuốc phiện thì chính nơi thờ tự ghi rõ là không nhận, nên thứ ấy không thuộc lệ của đền.
Đền Bảo Hà ở đâu và được xếp hạng gì
Đền ở thôn Bảo Hà, xã Bảo Hà, tỉnh Lào Cai, thuộc địa bàn huyện Bảo Yên cũ, dựng dưới chân đồi Cấm bên bờ sông Hồng. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tháng 11 năm 1997, và lễ hội đền vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.