VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nhà thờ Tân Định

· Nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, nhà thờ hồng

Ngôi giáo đường màu hồng trên đường Hai Bà Trưng, một trong những nhà thờ lâu đời và lớn nhất của Tổng giáo phận Sài Gòn, được nhớ vì lớp sơn hơn là vì tuổi.

Khánh thành
16 tháng 12 năm 1876
tư liệu giáo phận ghi khởi công năm 1870
Tháp chuông
52,6 m
trên đỉnh có thánh giá bằng đồng cao 3 m
Chuông
Năm quả
tổng trọng lượng khoảng 5,5 tấn

Đi trên đường Hai Bà Trưng về phía cầu Kiệu, quý vị sẽ thấy một khối kiến trúc màu hồng dựng lên giữa hai hàng nhà phố. Mặt tiền hồng, hoa văn viền trắng, và chính giữa là một ngọn tháp vuông thu dần lên cao, đỉnh tháp có cây thánh giá bằng đồng. Xe cộ chạy sát chân tường, còn ngôi nhà thờ thì đứng đó với một màu mà không công trình nào quanh nó dám mang.

Người Sài Gòn gọi đây là nhà thờ hồng, một cái tên đặt theo lớp sơn. Tên chính thức thì khác hẳn: Nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, thuộc giáo xứ Tân Định. Hai lớp tên ấy nói hai lối nhìn. Lớp sơn là thứ người qua đường nhớ; tước hiệu Thánh Tâm mới là thứ định ra căn tính của ngôi nhà thờ này và định ra ngày lễ riêng của nó trong năm.

Nhà thờ Tân Định
Nhà thờ Tân Định. Ảnh: Ngô Trung, giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tước Hiệu Thánh Tâm Và Các Lớp Tên Gọi

Ngôi nhà thờ này mang ba tên cùng lúc. Nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu là tên chính thức, đặt theo tước hiệu được dâng kính. Nhà thờ Tân Định là tên quen dùng, gọi theo địa danh của giáo xứ. Nhà thờ hồng là tên dân gian mới, gọi theo lớp sơn bên ngoài; đây là tên được dùng nhiều nhất hiện nay, và cũng là tên nói ít nhất về nội dung của công trình.

Theo giáo nghĩa

Trong nếp Công Giáo, mỗi nhà thờ đều được dâng kính một vị thánh hoặc một tước hiệu, và tước hiệu ấy thành tên chính thức đồng thời thành bổn mạng của nhà thờ. Ở đây tước hiệu là Thánh Tâm Chúa Giêsu, tức Trái Tim Cực Thánh của Chúa Giêsu.

Lòng sùng kính Thánh Tâm không nhắm vào quả tim theo nghĩa cơ thể, mà lấy trái tim làm dấu chỉ cho tình thương của Chúa Giêsu đối với loài người. Đây là lối sùng kính hình thành trong Giáo hội phương Tây rồi lan rộng thời cận đại, với hình ảnh quen thuộc là Chúa Giêsu chỉ tay vào trái tim trên ngực. Lễ kính Thánh Tâm không rơi vào một ngày cố định của dương lịch mà di động theo lịch phụng vụ, nằm vào thứ Sáu sau tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa, thường vào tháng Sáu.

Theo sử liệu

Về phần tư liệu, giáo xứ nơi đây được lập từ năm 1861, ban đầu gắn với họ đạo An Hòa, dưới sự trông coi của linh mục Theodore Louis Joseph Wibaux. Ngôi nhà thờ xây gạch hiện còn thuộc thời linh mục Donatien Éveillard, người mà tư liệu giáo xứ ghi tên Việt là cha Sơn, đến nhận nhiệm sở từ năm 1874. Cùng thời với việc dựng nhà thờ, khu vực này còn có nhà xứ, nhà in và trường dạy học, tức một cụm cơ sở chứ không phải một công trình đứng lẻ. Địa danh Tân Định là tên một vùng đất cũ ở phía bắc trung tâm Sài Gòn xưa; tên giáo xứ lấy theo tên đất chứ không phải ngược lại.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay bị hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, đây không phải nhà thờ chính tòa. Nhiều người thấy quy mô lớn rồi xếp ngay nơi này ngang với Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Hai vai trò khác hẳn nhau: nhà thờ chính tòa là nơi đặt ngai tòa của vị tổng giám mục và là nhà thờ mẹ của cả giáo phận, còn Tân Định là một nhà thờ giáo xứ.

Thứ hai, màu hồng không phải màu gốc. Các tư liệu đều cho thấy sắc hồng là kết quả của những đợt sơn lại trong thế kỷ 20, chứ không phải màu có từ ngày khánh thành.

Một Trăm Năm Mươi Năm Trên Một Nền Đất

Lịch sử của nơi này đi theo lối cộng dồn. Ngôi nhà thờ khánh thành năm 1876 là một khối đơn giản hơn nhiều so với thứ quý vị thấy hôm nay; tháp chuông, các bàn thờ đá và lớp sơn đều được thêm vào sau, cách nhau hàng chục năm.

  • 1861Lập giáo xứ
    Giáo xứ Tân Định được lập, gắn với họ đạo An Hòa, dưới sự trông coi của linh mục Theodore Louis Joseph Wibaux, trước khi có ngôi nhà thờ xây gạch.
  • 1870Khởi công nhà thờ
    Tư liệu của Tổng giáo phận ghi mốc này. Một số tư liệu khác ghi công trình do linh mục Donatien Éveillard sáng lập từ năm 1874; đây là chỗ các nguồn ghi khác nhau.
  • 1876Khánh thành
    Nhà thờ khánh thành ngày 16 tháng 12 năm 1876, mốc được dùng chung trong hầu hết tư liệu và cũng là mốc ghi trong bảng dữ liệu của thư viện.
  • 1896Nối thêm và xây tường bao
    Công trình được nối thêm hai căn và xây tường chung quanh khuôn viên. Một số tư liệu gọi đây là đợt đại trùng tu kéo dài tới năm 1898.
  • 1926Nới rộng và xây tháp chuông
    Tư liệu Tổng giáo phận ghi việc nới rộng bắt đầu từ năm này, trong đó có việc xây ngọn tháp cao 52,6 mét nay đã thành dấu nhận biết của công trình.
  • 1929Ba bàn thờ đá cẩm thạch Ý
    Nhà thờ nhận ba bàn thờ điêu khắc bằng đá cẩm thạch đưa từ nước Ý sang, do ông François Haasz và bà Anne Tống Thị Mực dâng cúng.
  • 1949Gia cố bộ sườn
    Đợt sửa chữa nhắm vào phần sườn và hệ cột, thuộc loại tu bổ kết cấu chứ không thay đổi hình dáng bên ngoài.
  • 1976 tới 2000Các đợt sơn lại
    Sơn lại nhân một trăm năm khánh thành vào năm 1976, rồi sơn mặt ngoài và phần trong vào các năm 1999 và 2000. Chuỗi đợt sơn này định ra sắc hồng viền trắng hiện nay.
Theo sử liệu

Có ba chỗ nguồn vênh nhau, chúng tôi ghi thẳng thay vì chọn bừa một con số.

Năm khởi công. Tư liệu của Tổng giáo phận ghi khởi công năm 1870. Một bài khảo về di sản lại ghi nhà thờ do linh mục Donatien Éveillard sáng lập năm 1874. Hai mốc cách nhau bốn năm; riêng mốc khánh thành năm 1876 thì các nguồn thống nhất.

Năm xây tháp chuông. Tư liệu Tổng giáo phận ghi việc nới rộng và xây tháp bắt đầu năm 1926. Trang của giáo xứ lại xếp ngọn tháp bát giác cao 52,62 mét vào đợt trùng tu 1896 tới 1898. Một nguồn thứ ba đặt tháp vào đợt 1928 tới 1929.

Số quả chuông. Phần lớn tư liệu ghi năm quả, tổng nặng khoảng 5,5 tấn; một nguồn ghi sáu quả. Bảng dữ liệu của thư viện theo con số năm quả, và quý vị nên coi con số sáu là điều cần đối chiếu thêm.

Roman Pha Gothic Và Một Chút Baroque

Công trình không thuộc trọn một lối nào. Tư liệu giáo xứ mô tả đây là kiến trúc La Mã, tức Roman, phối với các yếu tố GothicPhục Hưng; các tư liệu khác gọi là Gothic pha Roman và điểm thêm nét Baroque ở phần trang trí. Cách gọi khác nhau ấy phản ánh đúng một thực tế: đây là công trình pha trộn, và mỗi người đặt tên theo lớp mà mình nhìn thấy trước.

Muốn phân biệt cho dễ thì nhớ ba chỗ. Lối Roman lộ ra ở các vòm cửa nửa tròn và ở cảm giác tường dày, khối nặng. Lối Gothic lộ ra ở chiều cao vươn lên của tháp và ở nhịp cột chia lòng nhà thờ thành trục dọc hút mắt về cuối. Nét Baroque lộ ra ở phần trang trí: hoa văn đắp nổi, đường viền nhiều lớp, các chi tiết uốn lượn bám trên mặt tường.

Tháp chuông

Ngọn tháp giữa mặt tiền, cao 52,6 mét, trên đỉnh có cây thánh giá bằng đồng cao khoảng 3 mét. Hai bên là hai tháp phụ nhỏ hơn có chóp kiểu đèn lồng, thành thế ba ngọn không bằng nhau.

Năm quả chuông

Bộ chuông treo trên tháp, tổng trọng lượng khoảng 5,5 tấn. Chuông đổ theo lượt chứ không cùng lúc, và tiếng chuông từ lâu đã thành một âm quen của khu vực quanh đường Hai Bà Trưng.

Ba bàn thờ đá cẩm thạch Ý

Bàn thờ chính và hai bàn thờ phụ điêu khắc bằng đá cẩm thạch đưa từ nước Ý sang, nhận về năm 1929. Đây là hạng mục có giá trị nghệ thuật cao nhất trong lòng nhà thờ.

Lòng nhà thờ và hai hàng cột

Gian giữa cao, hai bên là hai hàng cột chia lối đi, phía trên có hành lang vòm, hai bên có hai nhà nguyện nhỏ. Trần vòm nguyên thủy của gian giữa hiện bị che bởi một lớp trần giả làm sau.

Mười bốn chặng đàng Thánh Giá

Bộ mười bốn chặng gắn dọc hai bên tường, kể lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu; tư liệu giáo xứ ghi bộ này có từ năm 1890. Trên các cột còn có tượng các thánh.

Về bố cục mặt bằng, lòng nhà thờ chia theo chiều dài thành gian giữa rộng và hai gian bên hẹp hơn, hai đầu là khu cung thánh và khu dưới chân tháp. Cách chia này đưa cái nhìn của người bước vào chạy thẳng theo trục dọc tới bàn thờ chính ở cuối. Chính vì trục ấy mà ba bàn thờ đá cẩm thạch, tuy nằm ở chỗ xa cửa nhất, lại là thứ người ta thấy trước tiên khi bước qua ngưỡng.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất ở nơi này là lớp sơn hồng. Nhiều người tin rằng nhà thờ vốn màu hồng từ ngày dựng, và coi màu ấy như một lựa chọn của người thiết kế thời thế kỷ 19.

Tư liệu cho thấy khác. Các đợt sơn được ghi lại gồm năm 1957, khi theo một nguồn công trình được sơn sắc hồng cam bên ngoài cùng sắc dâu và kem bên trong; rồi đợt sơn lại năm 1976 nhân một trăm năm khánh thành, và các đợt năm 1999 và 2000. Sắc hồng viền trắng hôm nay là kết quả của chuỗi đợt sơn ấy, không phải màu nguyên thủy. Các nguồn ghi năm sơn và sắc độ khác nhau nên chúng tôi ghi cả hai lớp thông tin. Điều đáng nói không phải màu nào đúng, mà là một lớp sơn thêm vào sau đã lấn át cả ba lối kiến trúc bên dưới nó trong trí nhớ của người đi đường.

Thế Đất Và Hướng

Phần này cần một lời rào trước rõ ràng. Công Giáo không dạy phong thủy. Hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt cung thánh và bàn thờ theo quy tắc của việc cử hành, và trong thực tế đô thị thì còn phụ thuộc vào hình thửa đất cùng hướng con đường trước mặt. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra để bạn đọc quen lối ấy có một chỗ đối chiếu. Đây không phải điều được chép trong tư liệu của nhà thờ, cũng không phải điều mà những người dựng công trình này tính tới.

Thế đất và hướng

Điều đọc được trước nhất là thế lộ. Nhà thờ không đứng ở một khoảng trống riêng mà áp mặt vào một trục đường dài, đường Hai Bà Trưng, con đường nối khu trung tâm cũ chạy lên phía cầu Kiệu. Trong phép xem đất, một công trình đặt bên trục dài và thẳng thì hưởng cái mà sách địa lý gọi là lai lộ, tức đường đến. Thế này cũng có mặt trái, vì công trình không có minh đường rộng ở phía trước; sân trước mặt tiền hẹp, và bên kia mặt sân là lòng đường. Đây là thế đất của một ngôi nhà thờ đô thị, khác hẳn thế đất của đình chùa làng quê.

Xét theo hình thể, mặt tiền dựng một ngọn tháp cao ở chính giữa, hai bên kèm hai chóp nhỏ hơn, khác với thế hai ngọn cân nhau mà nhiều nhà thờ khác mang. Hình nhọn vươn lên thì theo ngũ hành thuộc Mộc, chủ về sinh trưởng. Còn sắc hồng là sắc pha giữa đỏ và trắng, tức giữa HỏaKim; lối đọc cổ truyền không xem đây là xung khắc, vì hồng là sắc đã được làm dịu, không còn cái gắt của đỏ nguyên. Cần nhắc lại rằng bố cục một tháp giữa là quy ước của kiến trúc nhà thờ châu Âu có từ trước công trình này rất lâu, và sự trùng khớp với các khái niệm trên chỉ là trùng khớp của hình thể chứ không phải của chủ ý.

Cuối cùng là hướng. Mặt tiền quay thẳng ra đường Hai Bà Trưng, lưng công trình quay về phía khu dân cư phía sau, xa hơn nữa về phía bắc là kênh Nhiêu Lộc. Trục dọc của lòng nhà thờ vì thế chạy vuông góc với mặt đường, tức là bị con đường định trước chứ không được chọn theo la bàn. Đây là chỗ cho thấy rõ nhất vì sao không nên đem thước phong thủy ra đo một ngôi nhà thờ: thứ quyết định hướng ở đây là hình thửa đất trong lòng phố và quy tắc bố trí cung thánh của việc cử hành, hai thứ nằm ngoài hệ quy chiếu của phép xem đất cổ truyền.

Lễ Theo Lịch Phụng Vụ

Nơi này theo lịch phụng vụ chung của Giáo hội, kèm mấy dịp riêng gắn với tước hiệu Thánh Tâm và với nếp của người Công Giáo Việt Nam. Bài chỉ ghi những dịp cố định trong lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc, vì giờ cử hành thay đổi theo từng năm.

Các dịp lễ chính theo lịch phụng vụ. Bài không ghi giờ lễ vì lịch cử hành thay đổi theo từng năm và từng dịp. Nguồn: Tư liệu của Tổng giáo phận Sài Gòn và của giáo xứ Tân Định..
Thời điểmLễNội dung
Thứ Sáu sau tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh ChúaLễ Thánh Tâm Chúa GiêsuLễ bổn mạng của nhà thờ. Ngày lễ di động theo lịch phụng vụ, thường rơi vào tháng Sáu.
Cả tháng SáuTháng kính Thánh TâmTháng Giáo hội dành riêng cho lòng sùng kính Thánh Tâm, gắn trực tiếp với tước hiệu của nhà thờ.
Mùa Vọng và lễ Giáng SinhChuẩn bị và mừng Chúa giáng sinhDịp đông người nhất trong năm quanh nhà thờ, kể cả người không theo đạo, vì mặt tiền được trang hoàng và nhìn thấy được từ ngoài đường.
Tuần Thánh và lễ Phục SinhĐỉnh cao của năm phụng vụChuỗi nghi thức trọng nhất trong năm, gồm Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Đêm Vọng Phục Sinh.
Ba ngày đầu Tết Nguyên ĐánLễ Tết theo nếp ViệtMùng Một cầu bình an cho năm mới, mùng Hai kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ, mùng Ba xin thánh hóa công ăn việc làm.

Ngoài lịch phụng vụ, quanh nhà thờ còn có một nếp đời thường đã thành quen: khúc vỉa hè trước mặt tiền từ lâu là chỗ người ta dừng lại ngắm công trình, nhất là lúc chiều muộn khi nắng xiên làm lớp sơn hồng ngả sắc đậm hơn.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 289 đường Hai Bà Trưng, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Nhà thờ ở số 289 đường Hai Bà Trưng, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ngay trên trục đường nối khu trung tâm lên phía cầu Kiệu. Chợ Tân Định ở gần đó, đi bộ được.
Toạ độ
10.7886, 106.6906
Khi tới nơi

Đây là nơi cử hành phụng vụ chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ. Khi đang có Thánh lễ, khách xin đứng phía cuối, không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh; muốn xem kiến trúc thì đợi cho tới khi lễ xong. Việc vào khu cung thánh dành cho người có phận sự. Ngoài đường, xin đứng sát vỉa hè khi chụp ảnh vì xe chạy liên tục.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Nhà thờ Tân Định tên chính thức là gì

Tên chính thức là Nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, thuộc giáo xứ Tân Định của Tổng giáo phận Sài Gòn. Tên Nhà thờ Tân Định là cách gọi theo địa danh, còn tên nhà thờ hồng là cách gọi dân gian mới, đặt theo lớp sơn bên ngoài chứ không nói gì về tước hiệu của công trình.

Nhà thờ Tân Định xây năm nào

Tư liệu của Tổng giáo phận ghi nhà thờ khởi công năm 1870 và khánh thành ngày 16 tháng 12 năm 1876. Một số tư liệu khác ghi công trình được linh mục Donatien Éveillard sáng lập năm 1874. Hai mốc khởi công này vênh nhau, còn mốc khánh thành năm 1876 thì các nguồn thống nhất.

Nhà thờ Tân Định có phải màu hồng từ đầu không

Không. Sắc hồng là kết quả của các đợt sơn trong thế kỷ 20, trong đó có đợt năm 1957, đợt sơn lại năm 1976 nhân một trăm năm khánh thành, và các đợt năm 1999 và 2000. Các nguồn ghi năm sơn và sắc độ khác nhau, nhưng đều cho thấy đây không phải màu có từ ngày khánh thành.

Tháp chuông nhà thờ Tân Định cao bao nhiêu và có mấy quả chuông

Tháp cao 52,6 mét, trên đỉnh có cây thánh giá bằng đồng cao khoảng 3 mét. Phần lớn tư liệu ghi năm quả chuông với tổng trọng lượng khoảng 5,5 tấn, riêng một nguồn ghi sáu quả. Năm xây tháp cũng được các nguồn ghi khác nhau, có nguồn ghi 1926, có nguồn ghi giai đoạn 1896 tới 1898.

Bàn thờ đá cẩm thạch trong nhà thờ có từ đâu

Ba bàn thờ gồm bàn thờ chính và hai bàn thờ phụ được điêu khắc bằng đá cẩm thạch đưa từ nước Ý sang, nhà thờ nhận về năm 1929. Tư liệu ghi hai người dâng cúng là ông François Haasz và bà Anne Tống Thị Mực. Đây là hạng mục có giá trị nghệ thuật cao nhất trong lòng nhà thờ.

Đọc Tiếp