VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Đức Thánh Trần Sài Gòn

興道大王 · Đền thờ Trần Hưng Đạo, Trần Hưng Đạo Vương Từ

Ngôi đền thờ Đức Thánh Trần giữa phố Tân Định, nơi mạch thờ Trần Triều của người Việt bén rễ ở phương Nam.

Khởi dựng
1932
trên phần đất chùa Vạn An cũ
Xây lại
1957 tới 1958
đồ án kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Bảo
Xếp hạng
Di tích cấp thành phố
loại hình kiến trúc nghệ thuật, công bố tháng 11 năm 2024

Đi trên đường Võ Thị Sáu, quãng gần ngã tư Hai Bà Trưng, quý vị sẽ thấy một cổng tam quan mái ngói uốn cong đứng lùi vào sau hàng cây, trên bảng giữa đắp bốn chữ Hán lớn Hưng Đạo Đại Vương. Hai bên bậc tam cấp có hai tượng hổ chầu. Qua cổng là một khoảng sân, giữa sân đặt pho tượng Trần Hưng Đạo, và sau lưng pho tượng mới là nếp đền chính mái lợp ngói vảy cá.

Cái lạ của nơi này không nằm ở quy mô, vì đền không lớn, chỉ chừng hai trăm mét vuông mặt bằng thờ tự. Cái lạ nằm ở chỗ đứng. Đây là một ngôi đền thờ Đức Thánh Trần, tức một mạch tín ngưỡng vốn dày đặc ở Bắc Bộ, lại đứng giữa một khu phố cũ của Sài Gòn và giữ đủ lệ tế của mạch ấy. Quý vị đang đứng trước một nhánh phương Nam của dòng thờ Trần Triều.

Đức Thánh Trần Và Dòng Trần Triều

Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nhân vật của thế kỷ 13 mà người Việt đời sau tôn là Đức Thánh Trần. Trang này chỉ bàn về việc thờ tự và về ngôi đền, không kể lại phần sự nghiệp binh bị của ông; phần ấy thuộc về sách sử chứ không thuộc về một trang địa điểm.

Cần nói rõ ngay từ đầu vì chỗ này hay bị xếp nhầm: đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, thờ một người thật đã khuất như một vị thánh che chở. Lối thờ ấy không có giáo chủ, không có kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Ngôi đền này không phải đạo quán của Đạo Giáo, cũng không phải chùa của nhà Phật, dù chữ Thánh trong tên gọi dễ khiến người ta nghĩ khác.

Theo giáo nghĩa

Theo cách dòng thờ này tự nói về mình, Đức Thánh Trần đứng đầu một hệ thần linh riêng thường được gọi là Trần Triều. Dưới ngài là bốn vị vương tử, hai vị vương cô, cùng hàng các tướng theo hầu, trong đó có những tên quen như Yết Kiêu và Dã Tượng, rồi tới các vị đứng chầu hai bên. Mỗi vị có ban riêng, có bản văn riêng, và trật tự các ban trong đền chính là trật tự của hệ ấy.

Người thực hành dòng này được gọi là thanh đồng, và nghi thức hầu Thánh của Trần Triều có lối riêng, khác với lối hầu của hệ Tứ phủ. Trong dân gian còn câu tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ: chữ Cha chỉ Đức Thánh Trần với ngày giỗ hai mươi tháng Tám âm lịch, chữ Mẹ chỉ Thánh Mẫu Liễu Hạnh với ngày giỗ tháng Ba. Hai vế ấy nói gọn hai mạch thờ lớn của người Việt, và nói luôn rằng chúng là hai chứ không phải một.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, việc tôn Trần Quốc Tuấn lên hàng thánh thành hình dần từ các thế kỷ sau khi ông mất, trước hết ở vùng quê hương và các nơi có đền thờ ông ở Bắc Bộ, rồi lan thành một hệ thống đền phủ trải rộng. Khi lớp cư dân miền Bắc vào Nam sinh sống, mạch thờ ấy đi theo họ; ngôi đền ở Tân Định là một trong những chỗ đậu rõ nhất của mạch ấy trên đất Sài Gòn. Tên gọi khác của đền ghi trong tư liệu là Trần Hưng Đạo Vương Từ, chữ từ nghĩa là đền thờ.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm: nhiều người xếp việc thờ Đức Thánh Trần vào chung với Đạo Mẫu Tứ phủ, coi ngài như một vị trong hệ Tứ phủ. Xét theo tư liệu nghiên cứu, hai mạch này không đồng nhất.

Trần Triều có hệ thần linh riêng, có bản văn riêng, có lối hành lễ riêng, và trong nhiều đền phủ Bắc Bộ thì ban Trần Triều được đặt tách hẳn ra một bên chứ không nhập vào ban Tứ phủ. Việc hai mạch cùng có mặt trong một khuôn viên và cùng chung nhiều người đi lễ là chuyện có thật, và sự pha trộn ấy cũng là chuyện có thật trong thực hành đời nay; nhưng về nguồn gốc thì đây là hai dòng khác nhau. Chúng tôi ghi chỗ khác nhau ấy bằng giọng sử liệu, không xếp bên nào đúng hơn bên nào và không bàn về cách hành lễ của bất cứ ai.

Chín Mươi Năm Trên Đất Tân Định

So với các đền thờ Đức Thánh Trần ở Bắc Bộ, ngôi đền này còn trẻ. Toàn bộ lịch sử của nó nằm gọn trong chưa đầy một trăm năm, và chia làm hai lớp rõ rệt: lớp đền nhỏ dựng đầu thập niên 1930, rồi lớp đền lớn xây lại cuối thập niên 1950 mà quý vị thấy hôm nay. Các mốc dưới đây chỉ ghi việc xây dựng, trùng tu và thờ tự.

  • 1932Khởi dựng
    Đền được khởi dựng trên phần đất của chùa Vạn An cũ, với quy mô nhỏ. Đây là mốc thường được lấy làm năm ra đời của ngôi đền.
  • Thập niên 1950Lớp người đi lễ đông thêm
    Số gia đình gốc miền Bắc sinh sống quanh vùng Tân Định tăng lên, và ngôi đền trở thành chỗ tụ họp thờ tự quen thuộc của lớp cư dân ấy.
  • 1957Khởi công xây lại
    Đền được khởi công xây lại với quy mô lớn hơn hẳn, theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Bảo.
  • 1958Hoàn thành
    Công trình hoàn thành ngày 11 tháng 7. Bộ khung nhà, mặt bằng chữ đinh và lối trang trí hiện còn phần lớn định hình từ lần xây dựng này.
  • 1972Dựng pho tượng ngoài sân
    Theo tư liệu báo chí, pho tượng Trần Hưng Đạo đặt giữa sân đền được đúc trong năm này. Chất liệu và kích thước được các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu ở mục kiến trúc.
  • Các thập niên sauNhiều đợt tu bổ
    Đền trải qua nhiều lần tu bổ nối nhau, chủ yếu là lợp lại mái, sơn thếp lại hoành phi câu đối và sửa sang sân vườn, không làm đổi mặt bằng.
  • 2024Xếp hạng di tích cấp thành phố
    Đền được xếp hạng di tích cấp thành phố, loại hình kiến trúc nghệ thuật. Quyết định được công bố ngày 22 tháng 11 năm 2024, cùng đợt với bốn công trình khác của thành phố.
Theo sử liệu

Về việc đền dựng trên nền chùa Vạn An cũ, tư liệu công bố khi xếp hạng di tích có nhắc, nhưng không cho biết ngôi chùa ấy có từ bao giờ và vì sao không còn. Chúng tôi ghi lại đúng chừng ấy, không suy thêm. Chi tiết này đáng lưu ý ở một điểm: khu đất vốn là đất thờ tự từ trước, và ngôi đền không dựng trên một mảnh đất trống.

Chữ Đinh Năm Gian

Mặt bằng đền theo lối chữ đinh, tức một dãy nhà ngang nối với một dãy nhà dọc đâm vào giữa, tạo thành hình chữ đinh trong chữ Hán. Đây là mặt bằng quen của đình đền người Việt, nhưng ở đây nó được dựng bằng vật liệu của thời xây: gỗ kết hợp bê tông cốt thép, mái lợp ngói vảy cá. Nếp nhà chính rộng năm gian, toàn bộ mặt bằng thờ tự chừng hai trăm mét vuông.

Cổng tam quan

Cổng chính cùng hai cổng phụ, mái ngói uốn cong, trang trí đề tài rồng phượng. Bảng giữa đắp bốn chữ Hán Hưng Đạo Đại Vương; bốn chữ này chép từ chính bảng cổng chứ không do chúng tôi suy ra. Hai bên bậc tam cấp đặt hai tượng hổ chầu.

Sân đền và pho tượng

Khoảng sân giữa cổng và nếp nhà chính, ở giữa đặt pho tượng Trần Hưng Đạo trong tư thế đứng. Sân đóng vai trò làm chậm bước chân, đưa người từ nhịp phố sang nhịp thờ tự.

Tiền điện

Lớp nhà ngoài, đặt các ban thờ hàng tướng lĩnh thời Trần theo trật tự của hệ Trần Triều. Đây là nơi diễn ra phần lớn việc dâng hương thường ngày.

Hậu điện

Lớp trong cùng, đặt ban thờ chính của Đức Thánh Trần. Không gian hẹp và tối hơn tiền điện, theo đúng lối dồn trọng tâm vào gian trong của đền miếu người Việt.

Hoành phi, câu đối và phù điêu

Hệ hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng treo kín các gian. Trong khuôn viên còn một phù điêu đá khắc một áng văn chữ Hán của Hưng Đạo Đại Vương, đặt như một hiện vật trưng bày.

Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về pho tượng Trần Hưng Đạo ở đền, một tài liệu giới thiệu di tích ghi đây là tượng đồng cao 1,7 mét; trong khi một bài báo lớn lại ghi pho tượng cao gần 2 mét, đúc năm 1972 bằng xi măng cốt thép; một bài khác chỉ ghi gọn tượng cao 2 mét đặt ngoài sân.

Khoảng chênh này có thể đến từ chỗ trong khuôn viên có hơn một pho tượng, một pho đặt ngoài sân và một pho nhỏ hơn đặt trong đền, và mỗi nguồn tả một pho. Chúng tôi chưa tra được bản kiểm kê hiện vật nào nói dứt điểm, nên ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số và cũng không quả quyết chất liệu.

Một điểm đáng để ý: đền được xây lại vào cuối thập niên 1950 theo đồ án của một kiến trúc sư có tên tuổi, chứ không do thợ nề làm theo lệ truyền miệng. Điều đó giải thích vì sao ngôi đền vừa giữ được mặt bằng và đề tài trang trí cổ truyền, vừa có bộ khung bê tông và những tỷ lệ gọn gàng của kiến trúc thế kỷ 20. Đây là một trường hợp khá tiêu biểu cho lớp đền miếu dựng ở đô thị miền Nam trong giai đoạn ấy.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết phải nói thẳng một điều: đây là một ngôi đền phố, không phải một ngôi đền chọn đất. Đền dựng năm 1932 trên phần đất một ngôi chùa cũ, giữa một khu dân cư đã thành hình, nên không có chuyện tìm huyệt rồi mới đặt nhà. Khi đọc thế đất ở đây, ta đọc cách người xưa xoay xở với một mảnh đất có sẵn, và đó mới là chỗ đáng học.

Trong phép xem đất đô thị, con đường thay chỗ cho dòng nước: nó dẫn khí, mang người tới, và cũng cuốn khí đi. Đền quay mặt ra đường Võ Thị Sáu, một trục lớn xe chạy suốt ngày, tức là đứng trước một dòng chảy mạnh. Cách hóa giải hiện còn thấy nguyên trên hiện vật: cổng tam quan lùi vào sau hàng cây, rồi tới một khoảng sân, rồi mới tới nếp nhà chính. Ba lớp ấy làm việc đúng như một minh đường thu nhỏ, giữ lại phần khí đi vào và chặn bớt phần ồn ào của mặt đường.

Cặp tượng hổ hai bên bậc tam cấp cũng nằm trong mạch tính toán ấy. Trong mỹ thuật thờ tự người Việt, hổ là con vật giữ cửa, đặt ở lối vào để trấn. Ở một ngôi đền mở thẳng ra phố, chỗ giáp ranh giữa ngoài và trong là chỗ mỏng nhất, và cặp hổ đánh dấu đúng chỗ mỏng ấy.

Sau cùng là trục dọc. Cổng, sân, tiền điện, hậu điện xếp thẳng hàng theo mặt bằng chữ đinh, khiến người vào phải đi một đường thẳng mỗi lúc một sâu và một tối. Đọc theo lối phong thủy, trục dọc là lối dẫn khí đi sâu; đặt ban thờ chính ở điểm sâu nhất là đặt nó vào chỗ tĩnh nhất mà mảnh đất này có được. Với một khuôn viên chừng ấy nằm giữa phố, đó gần như là cách duy nhất.

Lễ Và Ngày Lễ

Đền có ba dịp lễ chính trong năm, đều tính theo âm lịch. Dịp trọng nhất là ngày giỗ Đức Thánh Trần, hai mươi tháng Tám, đúng ngày mà cả hệ thống đền thờ Đức Thánh Trần trong nước cùng hành lễ.

Các kỳ lễ chính trong năm của đền, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu giới thiệu di tích và các bản tin về đền..
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 9 tháng GiêngLễ khai xuânLễ mở đầu năm mới của đền, có dâng hương và tế. Mốc này ghi theo tài liệu giới thiệu di tích.
Ngày 20 tháng TámLễ giỗ Đức Thánh TrầnKỳ lễ trọng nhất trong năm, cử hành theo nghi thức tế cổ truyền, có đọc văn tế, dâng hương, dâng rượu, dâng trà. Đây cũng là ngày ứng với câu tháng Tám giỗ Cha.
Ngày 10 tháng ChạpLễ kỷ niệm ngày sinhKỳ lễ thứ hai trong năm, quy mô gọn hơn lễ tháng Tám nhưng giữ đủ phần tế và dâng hương.
Rằm và mùng một hằng thángLệ dâng hươngNgày người đi lễ tới đông đều đặn quanh năm, ngoài ba kỳ lễ lớn.

Kỳ lễ tháng Tám ở đây theo đúng nếp của các đền thờ Đức Thánh Trần: phần tế do một ban tế đứng chủ, mặc áo tế, đi theo nhịp trống và nhịp chiêng, có người xướng, người đọc văn tế, người dâng lễ. Sau phần tế là phần dâng hương của người đi lễ, kéo dài suốt ngày.

Một điểm nên biết để hiểu nhịp của đền: ngày hai mươi tháng Tám không phải ngày riêng của nơi này. Cùng ngày ấy, các đền thờ Đức Thánh Trần khắp nơi đều vào kỳ chính lễ. Ngôi đền ở Tân Định vì thế là một điểm trong một mạng lưới, và cái nhịp tháng Tám mà quý vị thấy ở đây là nhịp chung của cả mạch thờ Trần Triều.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 36 đường Võ Thị Sáu, phường Tân Định, quận 1 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Nằm ở số 36 đường Võ Thị Sáu, phường Tân Định, quận 1 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh, cách ngã tư Hai Bà Trưng một quãng ngắn. Đi bộ được từ khu chợ Tân Định và từ khu vực hồ Con Rùa.
Toạ độ
10.7892, 106.6947
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào tiền điện và hậu điện, đi nhẹ nói khẽ ở gian trong, không chạm tay vào hoành phi câu đối sơn thếp và vào các đồ thờ. Lễ vật đặt đúng ban theo trật tự các vị trong hệ Trần Triều, tiền bỏ hòm công đức chứ không gài lên hương án. Ngày hai mươi tháng Tám âm lịch là ngày đông nhất trong năm.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Đền Đức Thánh Trần ở Sài Gòn thờ ai

Thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nhân vật thế kỷ 13 được người Việt đời sau tôn là Đức Thánh Trần. Tiền điện đặt các ban thờ hàng tướng lĩnh thời Trần, hậu điện đặt ban thờ chính của ngài. Đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.

Đền thờ Trần Hưng Đạo ở quận 1 xây năm nào

Khởi dựng năm 1932 trên phần đất chùa Vạn An cũ với quy mô nhỏ, rồi khởi công xây lại năm 1957 theo đồ án kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Bảo và hoàn thành ngày 11 tháng 7 năm 1958. Đền được xếp hạng di tích cấp thành phố loại hình kiến trúc nghệ thuật, công bố tháng 11 năm 2024.

Thờ Đức Thánh Trần có phải là Đạo Mẫu không

Không hẳn. Trần Triều là một dòng thờ riêng, có hệ thần linh riêng, bản văn riêng và lối hành lễ riêng, tách khỏi hệ Tứ phủ của Đạo Mẫu; ở nhiều đền phủ Bắc Bộ, ban Trần Triều được đặt tách hẳn một bên. Hai mạch có chỗ giao nhau trong thực hành đời nay, nhưng về nguồn gốc là hai dòng khác nhau.

Lễ giỗ Đức Thánh Trần vào ngày nào

Ngày 20 tháng Tám âm lịch, ứng với câu tháng Tám giỗ Cha tháng Ba giỗ Mẹ trong dân gian. Đó là kỳ lễ trọng nhất trong năm của đền, cử hành theo nghi thức tế cổ truyền. Ngoài ra đền còn lễ khai xuân mùng 9 tháng Giêng và lễ kỷ niệm ngày sinh ngày 10 tháng Chạp.

Tượng Trần Hưng Đạo ở đền làm bằng gì

Nguồn vênh nhau. Một tài liệu giới thiệu di tích ghi tượng đồng cao 1,7 mét; một bài báo lớn ghi pho tượng cao gần 2 mét, đúc năm 1972 bằng xi măng cốt thép; bài khác chỉ ghi tượng cao 2 mét ngoài sân. Có thể trong khuôn viên có hơn một pho và mỗi nguồn tả một pho, nên chúng tôi ghi cả hai.

Đọc Tiếp