Đứng ở ngã sáu giữa phố Nha Trang ngẩng lên, quý vị thấy một khối tường xám dựng trên mỏm núi, và trên cùng là một tháp vuông có bốn mặt đồng hồ, đỉnh gắn thánh giá. Muốn lên thì đi theo con dốc vòng quanh sườn núi, hai bên dốc là các bức tượng và những hốc nhỏ gắn vào vách đá. Hết dốc là một khoảng sân bằng, và từ sân ấy nhìn ra được gần trọn khu trung tâm thành phố nằm thấp bên dưới.
Người Nha Trang gọi nơi này bằng nhiều tên: nhà thờ Núi theo chỗ đứng, nhà thờ Ngã Sáu theo ngã đường dưới chân, và nhà thờ Đá theo màu tường. Tên chính thức thì khác cả ba: Nhà thờ Chính tòa Kitô Vua. Hai phần trong tên ấy nói hai việc riêng, và trong ba tên dân gian kia thì có một tên nói sai về vật liệu công trình.

壹Tên Gọi Và Tước Hiệu Kitô Vua
Trong nếp Công giáo, mỗi nhà thờ được dâng kính một vị thánh hoặc một tước hiệu, và tước hiệu ấy thành tên chính thức đồng thời là bổn mạng của nhà thờ. Ở đây tước hiệu là Kitô Vua, tức tôn Chúa Giêsu dưới danh nghĩa vua vũ trụ. Lễ kính tước hiệu này rơi vào Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, ngay trước Mùa Vọng, nên ngày lễ riêng của nhà thờ không cố định theo một ngày dương lịch mà theo lịch phụng vụ từng năm.
Chữ chính tòa cần nói rõ vì nó không phải một tính từ chỉ độ lớn. Trong tổ chức của Giáo hội Công giáo, một vùng được chia thành các giáo phận, mỗi giáo phận do một vị giám mục coi sóc. Nhà thờ nào có đặt cathedra, tức ngai tòa của vị giám mục, thì gọi là nhà thờ chính tòa, và được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận.
Ngai tòa không phải món đồ trang trí mà là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc. Vì vậy những nghi lễ trọng nhất trong năm của cả giáo phận được cử hành tại đây, do vị giám mục chủ sự, chứ không ở một nhà thờ khác dù nhà thờ ấy lớn hơn hay đông giáo dân hơn.
Về mặt tư liệu, ngôi nhà thờ này ra đời trước cái vai trò chính tòa của nó khá lâu. Nhà thờ khánh thành năm 1933 và giáo xứ được lập cùng năm ấy. Giáo phận Nha Trang được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1957, tách ra từ Giáo phận Quy Nhơn, vị giám mục tiên khởi là Marcel Piquet Lợi. Tới ngày 24 tháng 11 năm 1960, khi hàng giáo phẩm được thiết lập, giáo phận thành giáo phận chính tòa và giáo xứ Nha Trang trở thành giáo xứ chính tòa. Nói cách khác, công trình đứng trên núi Bông suốt hai mươi bảy năm trước khi mang chức năng nhà thờ mẹ của giáo phận.
Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất về nơi này nằm ngay trong cái tên quen thuộc: nhà thờ Đá. Công trình không xây bằng đá khối. Theo các tư liệu khảo tả, tường được xây bằng bê tông trộn đá sạn cùng gạch táp lô, tức gạch xi măng đúc sẵn; chính hỗn hợp ấy để lại màu xám tro đặc trưng, và chính màu xám ấy sinh ra cái tên. Đá chẻ có được dùng, nhưng dùng cho lối đi, bậc cấp và phần kè quanh khuôn viên chứ không phải cho tường nhà thờ.
Đây là một tên gọi hình thành tự nhiên từ cảm nhận mắt thường, không phải sự nhầm lẫn của riêng ai. Chúng tôi ghi lại theo lối sử liệu để quý vị biết mình đang nhìn vật liệu gì, không nhằm bác bỏ một cách gọi đã quen hàng chục năm. Hai tên còn lại thì đều đúng với thực tế: một theo chỗ đứng, một theo ngã đường dưới chân dốc.
貳Phá Nửa Ngọn Núi Để Lấy Nền
Việc dựng nhà thờ ở đây bắt đầu bằng một việc không thuộc về kiến trúc: tạo mặt bằng. Núi Bông, mà một số tư liệu gọi là Hòn Một, là một mỏm đá nhô lên giữa vùng đất bằng, cao hơn mặt đường chừng mười hai mét. Để có chỗ đặt công trình, người ta phải bạt đi một phần ngọn núi, và các tư liệu ghi con số khoảng năm trăm quả mìn đã được dùng, lấy được mặt bằng rộng khoảng 4.500 mét vuông.
- 1928Khởi côngCông trình chính thức khởi công ngày 3 tháng 9 năm 1928, do linh mục người Pháp Louis Vallet, sinh năm 1869 và mất năm 1945, chủ trương xây dựng.
- 1933Khánh thành và lập giáo xứNhà thờ hoàn thành và được khánh thành trong năm 1933, cùng năm giáo xứ Nha Trang được thành lập. Ngày cụ thể các nguồn ghi khác nhau, nói rõ ở dưới.
- 1934Quả chuông đầu tiênQuả chuông thứ nhất được làm phép ngày 29 tháng 7 năm 1934. Bộ chuông do hãng đúc chuông Bourdon Carillon của Pháp chế tạo.
- 1935Khánh thành tháp chuôngTháp chuông cao 38 mét tính từ mặt đường được khánh thành ngày 3 tháng 12 năm 1935, cùng bộ đồng hồ lớn gắn trên bốn mặt tháp.
- 1939Hai quả chuông còn lạiHai quả chuông tiếp theo được đưa lên tháp, hoàn chỉnh bộ ba quả. Chuông và bộ máy đồng hồ nối với nhau thành một cơ cấu chung.
- 1957Lập Giáo phận Nha TrangGiáo phận Nha Trang được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1957, tách từ Giáo phận Quy Nhơn, vị giám mục tiên khởi là Marcel Piquet Lợi.
- 1960Thành nhà thờ chính tòaNgày 24 tháng 11 năm 1960, giáo phận được nâng lên hàng giáo phận chính tòa, giáo xứ Nha Trang thành giáo xứ chính tòa và ngôi nhà thờ này thành nhà thờ chính tòa.
- Những thập niên gần đâyCác đợt tu bổViệc tu bổ tiến hành theo từng hạng mục, gồm phần tường ngoài, tháp chuông, bộ máy đồng hồ, hệ cửa kính màu và các bậc dốc lên núi, chứ không làm một đợt lớn.
Có hai chỗ nguồn ghi vênh nhau mà chúng tôi ghi thẳng ra đây thay vì chọn bừa. Thứ nhất là năm hoàn thành: phần lớn tư liệu ghi công trình hoàn thành và khánh thành năm 1933, nhưng một bài khảo tả của báo địa phương lại ghi công trình hoàn thành vào tháng Mười Hai năm 1941. Cách đọc hợp lý nhất là coi 1933 là mốc hoàn thành và đưa vào sử dụng phần nhà thờ, còn 1941 là mốc hoàn tất toàn bộ công trình gồm tháp chuông, bộ chuông và các hạng mục phụ; nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm.
Thứ hai là ngày khánh thành trong năm 1933: có tư liệu ghi ngày 14 tháng Năm, có tư liệu ghi ngày 14 tháng Ba, và cũng chính ngày 14 tháng Năm năm 1933 được ghi là ngày thành lập giáo xứ. Nhiều khả năng đây là hai sự kiện gần nhau bị gộp làm một, nhưng chúng tôi ghi cả hai con số.
參Gothic Trên Một Mỏm Đá
Công trình theo lối Gothic châu Âu, thứ ngôn ngữ kiến trúc lấy chiều cao và ánh sáng làm phương tiện chính. Nhìn từ ngoài, mặt đứng chia ba tầng rõ: tầng dưới là hệ cửa vào, tầng giữa là các ô cửa kính, tầng trên là tháp chuông. Vòm bên trong là vòm cung nhọn, cột lớn đỡ hai bên, và toàn bộ ánh sáng vào lòng nhà thờ đều đi qua kính màu trước khi tới người ngồi.
Điều làm nơi này khác các nhà thờ Gothic khác ở nước ta là chỗ đặt. Phần lớn nhà thờ dựng trên đất bằng, có sân trước rộng; ở đây công trình ngồi trên mỏm đá đã bạt phẳng, mặt bằng có hạn, nên cả khối nhà thờ lẫn con dốc dẫn lên đều phải ôm theo hình núi. Người đi lễ vì thế bao giờ cũng tới nhà thờ bằng cách đi lên.
Khối tháp vuông cao 38 mét tính từ mặt đường, khánh thành cuối năm 1935, đỉnh gắn thánh giá. Đây là phần định hình bóng dáng công trình khi nhìn từ các ngả phố bên dưới.
Bộ chuông đồng do hãng Bourdon Carillon của Pháp đúc, quả đầu làm phép năm 1934, hai quả sau đưa lên năm 1939, nối với bộ máy đồng hồ thành một cơ cấu chung.
Bốn mặt đồng hồ lớn gắn trên bốn mặt tháp, quay về bốn hướng, đặt ngay dưới cây thánh giá trên đỉnh. Nhờ bốn mặt mà từ ngả phố nào dưới chân núi cũng đọc được giờ.
Hệ cửa kính màu vẽ các vị thánh và các tích trong Kinh Thánh, làm nhiệm vụ lọc ánh sáng thành màu trước khi đưa vào lòng nhà thờ. Lòng nhà thờ nhận sáng cả hướng đông lẫn hướng tây.
Đường dốc vòng quanh sườn núi dẫn lên sân nhà thờ, hai bên đặt tượng và các hốc nhỏ gắn vào vách. Đây cũng là nơi có phần mộ của linh mục Louis Vallet, người chủ trương xây dựng.
Vật Liệu Và Màu Tường
Vật liệu là chỗ đáng chú ý nhất của công trình này, vì nó ngược với cái tên quen thuộc. Tường xây bằng bê tông trộn đá sạn cùng gạch táp lô, tức gạch xi măng đúc sẵn, với hệ khung chịu lực bằng bê tông cốt thép. Lối làm ấy vào cuối thập niên 1920 là một chọn lựa mới và rất hợp cảnh: đá khối phải chở tới và phải có thợ đẽo, còn xi măng thì đổ được tại chỗ, ngay trên một mặt bằng vừa mới bạt xong giữa lưng chừng núi.
Màu xám tro của tường không phải màu sơn mà là màu của chính vật liệu, và gần một trăm năm mưa nắng biển đã làm nó loang không đều. Đó là lý do nhìn xa ai cũng tưởng là đá. Ở nước ta có những nhà thờ xây đá thật, nhưng ngôi này thuộc lớp công trình bê tông sớm, và đó chính là điểm đáng ghi của nó về mặt kỹ thuật.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này cần một lời rào trước rõ ràng. Công giáo không dạy phong thủy, và hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành, chứ không phải hướng chọn theo la bàn phong thủy. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra để bạn đọc quen lối ấy có một chỗ đối chiếu; nó không phải điều chép trong tư liệu nhà thờ, cũng không phải điều những người dựng công trình này tính tới.
Điều đáng đọc trước nhất là thế độc sơn. Công trình ngồi trên một mỏm đá nổi lên giữa vùng đất bằng ven biển, chung quanh không có ngọn nào cao hơn kèm giữ. Trong phép xem đất, một ngọn đứng lẻ như vậy gọi là cô phong, và sách xưa coi đó là thế mạnh về khí thế nhưng thiếu chỗ dựa, thường dành cho công trình mang tính biểu tượng chứ ít dùng cho nhà ở. Ngôi nhà thờ này đúng là một công trình như thế: nó không cần chỗ dựa, nó cần được nhìn thấy.
Thứ hai là đường lên. Con dốc vòng quanh sườn núi, không đi thẳng. Theo lối đọc cổ truyền, đường dẫn tới cửa mà đi vòng thì khí vào chậm và đều, khác với đường đâm thẳng vốn bị coi là quá gấp. Ở đây cái vòng ấy do địa hình bắt buộc chứ không do ai tính, nhưng kết quả nhìn thấy được là người tới nơi bao giờ cũng đã đi một quãng chậm trước khi bước vào sân.
Thứ ba là minh đường. Chỗ đất bằng ngay trước cửa, thứ mà phép xem đất gọi là minh đường, ở đây rất hẹp vì mặt bằng phải bạt núi mà có. Bù lại, tầm nhìn từ sân trải xuống cả khu phố phía dưới và ra tới phía biển, tức minh đường ở xa thì rộng dù ở gần thì chật. Đây là biến thể hay gặp ở công trình dựng trên cao.
Cuối cùng, xin nhắc lại điều đã nói ở trên bằng một ví dụ: khối tháp chuông vuông vươn cao trên đỉnh núi, đọc theo con mắt cổ truyền thì giống thế bút phong, tức một ngọn nhọn dựng đứng, thứ mà sách địa lý gắn với văn khí. Trùng khớp ấy hoàn toàn là trùng khớp hình thể: tháp chuông có mặt vì nhà thờ cần chỗ treo chuông và đặt đồng hồ, không vì lý do nào khác.
伍Lễ Theo Lịch Phụng Vụ
Là nhà thờ chính tòa, nơi này theo lịch phụng vụ chung của Giáo hội, đồng thời có mấy dịp riêng gắn với tước hiệu và với vai trò đứng đầu giáo phận. Bài chỉ ghi những dịp cố định theo lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc, vì giờ cử hành thay đổi theo từng năm.
| Thời điểm | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Chúa Nhật cuối năm phụng vụ | Lễ Chúa Kitô Vua | Lễ bổn mạng của nhà thờ, vì đây là tước hiệu mà công trình được dâng kính. Ngày rơi vào Chúa Nhật ngay trước Mùa Vọng nên không cố định theo dương lịch. |
| Mùa Vọng và lễ Giáng Sinh | Chuẩn bị và mừng Chúa giáng sinh | Dịp đông người nhất trong năm ở khu vực quanh nhà thờ, kể cả người không theo đạo. |
| Tuần Thánh và lễ Phục Sinh | Đỉnh cao của năm phụng vụ | Trong Tuần Thánh có thánh lễ Dầu, nghi lễ mang tính giáo phận do vị giám mục chủ sự tại nhà thờ chính tòa. |
| Các dịp trọng của giáo phận | Nghi lễ do giám mục chủ sự | Vì đây là nơi đặt ngai tòa, những nghi lễ trọng nhất của cả giáo phận được cử hành tại đây chứ không ở nhà thờ khác. |
| Tháng Mười Một | Cầu cho các tín hữu đã qua đời | Dịp gắn với khu hốc mộ đặt trong vách núi thuộc khuôn viên, nơi người trong giáo xứ tới cầu nguyện. |
Ngoài lịch phụng vụ, nơi này còn một nếp riêng do địa hình mà có: tiếng chuông. Bộ ba chuông đặt trên tháp cao ba mươi tám mét giữa một vùng phố thấp nên tiếng đi rất xa, và trong nhiều thập niên nó là một trong những âm thanh định giờ của cả khu trung tâm, bên cạnh bốn mặt đồng hồ trên tháp.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Bông, đường Thái Nguyên, phường Phước Tân, thành phố Nha Trang cũ, tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Nhà thờ nằm trên núi Bông, đường Thái Nguyên, phường Phước Tân, thuộc thành phố Nha Trang cũ, tỉnh Khánh Hòa, ngay cạnh ngã sáu trung tâm và cách ga Nha Trang một quãng ngắn. Lối lên là con dốc vòng quanh sườn núi.
- Toạ độ
- 12.2469, 109.1856
Đây là nơi cử hành phụng vụ chứ không phải điểm tham quan thuần túy, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ. Khi đang có Thánh lễ, khách xin không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh; muốn xem kiến trúc thì đợi tới khi lễ xong. Việc vào cung thánh dành cho người có phận sự. Khu hốc mộ trong vách núi là phần mộ phần, xin đi nhẹ và không tựa vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ Núi Nha Trang tên chính thức là gì
Tên chính thức là Nhà thờ Chính tòa Kitô Vua, nhà thờ chính tòa của Giáo phận Nha Trang. Nhà thờ Núi, nhà thờ Đá và nhà thờ Ngã Sáu đều là cách gọi dân gian, lần lượt đặt theo chỗ đứng trên núi, theo màu tường xám và theo ngã đường ngay dưới chân dốc.
Nhà thờ Đá Nha Trang có xây bằng đá không
Không. Theo các tư liệu khảo tả, tường xây bằng bê tông trộn đá sạn cùng gạch táp lô, tức gạch xi măng đúc sẵn, khung chịu lực bằng bê tông cốt thép. Đá chẻ chỉ dùng cho lối đi, bậc cấp và phần kè quanh khuôn viên. Cái tên đến từ màu xám tro của vật liệu chứ không từ chất liệu tường.
Nhà thờ xây năm nào và hoàn thành năm nào
Khởi công ngày 3 tháng 9 năm 1928 do linh mục Louis Vallet chủ trương. Phần lớn tư liệu ghi hoàn thành và khánh thành năm 1933, riêng một bài khảo tả của báo địa phương ghi hoàn thành tháng Mười Hai năm 1941. Tháp chuông thì khánh thành riêng vào ngày 3 tháng 12 năm 1935.
Nhà thờ chính tòa nghĩa là gì
Là nhà thờ có đặt ngai tòa của vị giám mục coi sóc giáo phận. Ngai tòa là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc, nên nhà thờ chính tòa được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận. Nơi này thành nhà thờ chính tòa từ ngày 24 tháng 11 năm 1960, còn Giáo phận Nha Trang lập ngày 5 tháng 7 năm 1957.
Tháp chuông cao bao nhiêu và có mấy quả chuông
Tháp cao 38 mét tính từ mặt đường, khánh thành ngày 3 tháng 12 năm 1935. Trên tháp treo ba quả chuông do hãng Bourdon Carillon của Pháp đúc, quả đầu làm phép ngày 29 tháng 7 năm 1934 và hai quả sau đưa lên năm 1939. Bốn mặt tháp gắn bốn mặt đồng hồ lớn.