VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tháp Po Sah Inư

· Tháp Chăm Phố Hài, Pô Sah Inư

Ba nếp tháp gạch trên một quả đồi thấp nhìn ra cửa biển, thuộc lớp sớm nhất của nghệ thuật đền tháp Chăm còn lại tới nay.

Khởi dựng
Thế kỷ 8
phong cách Hòa Lai, lớp sớm của nghệ thuật đền tháp Chăm
Tháp chính
16 m
ba tầng, còn nguyên bệ Linga Yoni từ thời dựng
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1991

Đồi Bà Nài không cao, leo chừng vài phút là tới đỉnh. Nhưng lên tới nơi thì quý vị hiểu vì sao người xưa chọn chỗ này: phía trước là cửa biển Phú Hài, gió mặn thổi thẳng vào mặt, còn sau lưng là dải cát trắng chạy dài. Ba nếp tháp gạch đứng trên đỉnh đồi, nếp cao nhất mới mười sáu mét, nhỏ hơn nhiều cụm tháp Chăm khác, nhưng đặt ở đây thì lại vừa đúng tầm.

Đây là lớp sớm của nghệ thuật đền tháp Chăm, dựng vào quãng thế kỷ thứ tám, tức trước tháp Po Klong Garai ngoài Phan Rang tới năm thế kỷ. Gạch đã bạc, hoa văn đã mòn, nhiều mảng tường đã phải vá. Nhưng bệ thờ trong lòng tháp chính thì vẫn là bệ gốc, và mỗi năm nó vẫn được tắm bằng nước thánh đúng như nghi thức cũ.

Tháp Po Sah Inư
Tháp Po Sah Inư. Ảnh: Vinnie Cartabiano, giấy phép CC BY 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

Thần Shiva Và Công Chúa Po Sah Inư

Cần nói rõ ngay để khỏi xếp nhầm chỗ. Đây là đền tháp Ấn Độ Giáo của người Chăm, quen gọi là Bàlamôn Chăm, không phải chùa Phật và cũng không phải đền thờ thần của người Kinh. Chủ thể của nơi này là cộng đồng người Chăm theo đạo Bàlamôn ở vùng Bình Thuận cũ.

Nơi này có hai lớp thờ tự chồng lên nhau, cách nhau tới sáu bảy trăm năm. Lớp gốc, cũng là lớp dựng nên ba nếp tháp, thờ thần Shiva. Lớp sau, từ khoảng thế kỷ 15, thờ thêm công chúa Po Sah Inư, và chính tên vị công chúa ấy về sau thành tên gọi của cả cụm tháp.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Shiva giáo, thần Shiva không được thờ bằng tượng người mà bằng linga, một khối trụ đứng đặt trên bệ yoni hình vuông có rãnh dẫn nước. Linga là nguyên lý sinh, yoni là nguyên lý dưỡng, hai vật làm thành một cặp không tách rời. Bệ Linga Yoni trong lòng tháp chính ở đây là bệ có từ thời dựng tháp, không phải đồ thờ bổ sung về sau.

Chung quanh tháp thờ chính, một cụm đền tháp đủ bộ còn có nếp thờ bò thần Nandin, vật cưỡi của Shiva, và nếp giữ lửa thiêng dùng trong tế lễ. Ba chức năng ấy chia cho ba nếp tháp ở đây, và đó là lý do vì sao ba nếp có kích thước rất chênh nhau: nếp thờ chính phải cao, nếp giữ lửa chỉ cần bằng một gian nhà nhỏ.

Nghi thức quan trọng nhất còn giữ được là lễ tắm bệ Linga Yoni. Nước tắm được pha từ nước thơm và thảo mộc, dội lên bệ thờ rồi chảy theo rãnh yoni ra ngoài; người dự lễ xin nước ấy về, coi là nước cầu an và cầu mùa.

Theo sử liệu

Về phía sử liệu, công chúa Po Sah Inư được các nguồn chép là con gái vua Para Chanh, nhân vật mà sử Việt gọi là La Khải, sống vào quãng thế kỷ 15. Công trạng của bà thì các nguồn ghi không giống nhau: có nguồn nhấn vào tài đức và phép ứng xử, có nguồn kể bà dạy dân nghề đánh cá, nghề làm gốm và nghề dệt vải. Chúng tôi ghi cả hai cách chép, vì đây thuộc lớp truyền thuyết chứ không phải bia ký.

Cái chắc chắn hơn nằm ở khảo cổ học. Các đợt khai quật trong khoảng 1992 tới 1995 đã lộ ra nền móng của nhiều ngôi đền đã sụp quanh ba nếp tháp còn đứng, cùng hiện vật thuộc lớp thế kỷ 15. Điều ấy khớp với truyền thuyết ở một điểm quan trọng: vào thế kỷ 15 nơi đây quả có một đợt xây dựng mới, và đợt ấy gắn với lớp thờ công chúa. Năm 1994, cuộc khai quật còn tìm được mảnh chân và mảnh tai của một tượng bò bằng đá xanh đen, hiện lưu tại bảo tàng tỉnh.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm về nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, tháp không được dựng lên để thờ công chúa. Cụm tháp mang tên bà, nên nhiều người hiểu rằng người Chăm đã xây ba nếp tháp này cho bà. Trình tự thực ra ngược lại: tháp có trước, khoảng thế kỷ 8, dựng để thờ Shiva; công chúa Po Sah Inư sống vào thế kỷ 15, và lớp thờ bà được thêm vào sau đó, kèm những công trình phụ nay chỉ còn nền móng. Cái tên đến sau công trình chừng sáu bảy trăm năm, rồi ở lại và thay luôn tên cũ.

Thứ hai, tên gọi và niên đại đều có chỗ vênh giữa các nguồn. Tên vị công chúa được viết là Po Sah Inư, Pô Sah Inư hoặc Poshanư tùy tài liệu. Về niên đại, bảng di tích ghi gọn là thế kỷ 8, còn phần lớn bài khảo tả ghi cụ thể hơn là cuối thế kỷ 8 sang đầu thế kỷ 9. Chiều cao tháp chính cũng vậy: nhiều nguồn ghi 16 mét, có nguồn ghi khoảng 15 mét. Chúng tôi ghi các con số ấy nguyên như nguồn cho, không chọn bừa một con số.

Mười Hai Thế Kỷ Trên Đồi Cát

Cụm tháp thuộc phong cách Hòa Lai, một trong những phong cách sớm nhất của nghệ thuật đền tháp Chăm, đặt tên theo cụm tháp Hòa Lai ở phía bắc. Đặc điểm của phong cách này là khối tháp gọn, tường ít chạm, vòm cửa hình mũi giáo và các trụ ốp dẹt chạy dọc thân tháp. Ai đã xem tháp Po Klong Garai hay các tháp lớp muộn trước rồi mới tới đây sẽ thấy nơi này giản dị hơn hẳn, và cái giản dị ấy là dấu của tuổi.

  • Thế kỷ 8Dựng nhóm tháp
    Ba nếp tháp được dựng theo phong cách Hòa Lai để thờ thần Shiva. Các bản khảo tả thường ghi cụ thể hơn là cuối thế kỷ 8 sang đầu thế kỷ 9.
  • Thế kỷ 15Lớp thờ công chúa
    Người Chăm dựng thêm công trình thờ công chúa Po Sah Inư, con vua Para Chanh. Tên bà về sau thành tên gọi của cả cụm tháp.
  • 1991Di tích quốc gia
    Nhóm đền tháp được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
  • 1992 tới 1995Khai quật khảo cổ
    Các đợt khai quật làm lộ nền móng nhiều ngôi đền đã sụp quanh ba nếp tháp còn đứng, cùng hiện vật thuộc lớp thế kỷ 15.
  • 1994Mảnh tượng bò đá
    Tìm được mảnh chân và mảnh tai của một tượng bò bằng đá xanh đen, hiện lưu tại bảo tàng tỉnh, là chứng cứ vật chất cho nếp thờ bò thần Nandin.
  • 2005Phục dựng lễ Katê tại tháp
    Lễ Katê được phục dựng và tổ chức đều đặn hằng năm tại khu tháp từ năm này.
  • 2022Katê thành di sản phi vật thể
    Lễ hội Katê của người Chăm ở Bình Thuận cũ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 776 công bố ngày 4 tháng 4 năm 2022. Katê của người Chăm ở Ninh Thuận cũ được ghi danh riêng từ năm 2017.

Sau Nghị quyết về sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, khu tháp nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, trên địa bàn thành phố Phan Thiết cũ. Trong các tài liệu xuất bản trước đó, nơi này vẫn được ghi thuộc tỉnh Bình Thuận, và bài viết này dùng chữ mỗi khi phải nhắc tới tên đơn vị trước đây.

Ba Nếp Tháp Và Phong Cách Hòa Lai

Ba nếp tháp còn đứng trên đỉnh đồi không xếp thành một hàng mà đặt lệch nhau, nếp lớn nhất ở giữa, nếp nhỏ nhất tách ra một quãng. Cách bố trí ấy không phải ngẫu nhiên: mỗi nếp một chức năng, và khoảng cách giữa chúng đủ để việc trong nếp này không vướng việc trong nếp kia.

Tháp A, nếp thờ chính

Cao 16 mét theo phần lớn các nguồn, ba tầng mái thu nhỏ dần. Một cửa thật mở về hướng Đông, ba mặt còn lại là cửa giả. Trong lòng tháp còn nguyên bệ Linga Yoni từ thời dựng, và đây là nơi diễn ra lễ tắm bệ thờ.

Tháp B, nếp thờ bò thần

Cao 12 mét, ba tầng, dựng để thờ bò thần Nandin. Pho tượng bò nay không còn; chỉ còn mảnh chân và mảnh tai bằng đá xanh đen tìm được khi khai quật.

Tháp C, nếp giữ lửa

Cao 5 mét, một tầng, là nếp nhỏ nhất và đặt tách ra một quãng. Đây là nơi giữ lửa thiêng dùng trong tế lễ, thường gọi gọn là tháp thờ thần Lửa.

Nền móng đã lộ

Quanh ba nếp tháp còn đứng là nền móng của nhiều công trình đã sụp, lộ ra trong các đợt khai quật những năm 1990. Chúng cho thấy cụm tháp xưa lớn hơn nhiều so với phần còn thấy hôm nay.

Về vật liệu, toàn bộ tháp xây bằng gạch nung, đá chỉ dùng cho một vài bệ thờ và tượng. Cách gắn kết các viên gạch vẫn là câu hỏi chưa có lời đáp dứt khoát: mặt tường không thấy mạch vữa, các viên áp sát nhau sau hơn một nghìn hai trăm năm mưa gió biển. Giả thuyết được nhắc nhiều nhất ở đây là dùng nhựa cây dầu rái làm chất kết dính, nhưng đó vẫn là giả thuyết chứ chưa phải kết luận.

Một điểm hay bị bỏ qua: tháp Chăm ở đây không dùng đá làm vật liệu chịu lực. Cả khối tháp, cả vòm cửa, cả mái tầng đều là gạch. Kỹ thuật xếp gạch nhô dần vào để khép vòm mà không cần cột chống chính là chỗ khéo nhất của lối xây này, và cũng là lý do khiến các mái tháp trụ được lâu đến vậy.

Thế Đất Và Hướng

Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Phong thủy là một hệ thuật số của vùng Đông Á, người Chăm khi chọn đồi dựng tháp không dùng nó. Việc cửa thật của tháp chính mở về hướng Đông là theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp Ấn Độ, trong đó hướng Đông là hướng mặt trời mọc, hướng mà ánh sáng đầu ngày phải rọi tới bệ thờ. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều chép trong bia ký.

Thế đất và hướng

Đọc theo lối cũ của người Việt thì trước hết là thế đồi thấp trước biển. Cụm tháp đặt trên đỉnh một quả đồi không cao, phía trước là cửa biển Phú Hài, phía sau là dải cồn cát. Trong phép xem đất, đây gần với thế hướng thủy: có mặt nước lớn làm minh đường phía trước, và có chỗ đất cao làm chỗ đứng. Điểm khác với lối chuẩn mực tựa sơn hướng thủy nằm ở chỗ sau lưng không có núi thật mà chỉ có cồn cát, tức chỗ dựa yếu hơn nhiều so với các cuộc đất mà sách vở người Việt lấy làm mẫu.

Thứ hai là hướng Đông và mặt biển. Ở đây hai điều ngẫu nhiên gặp nhau: cửa tháp mở hướng Đông theo quy tắc đền tháp Ấn Độ, mà phía Đông của quả đồi này lại đúng là phía biển. Cho nên ánh sáng đầu ngày rọi vào bệ thờ là ánh sáng dội lên từ mặt nước. Trong phép cũ của người Việt, hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với khí sinh phát buổi sáng, và có nước ở phía ấy thì được coi là tụ khí. Hai hệ đi tới cùng một chỗ bằng hai đường lý giải khác nhau, và chỗ đáng học nằm ở sự khác nhau ấy.

Thứ ba là gió. Đây là điều mà phép xem đất của người Việt ở đồng bằng châu thổ ít phải tính tới, còn ở dải cát Nam Trung Bộ thì lại là điều đầu tiên. Đồi Bà Nài hứng gió biển quanh năm, và gió mặn ăn mòn gạch. Cụm tháp chọn được một quả đồi vừa đủ cao để nhìn ra biển nhưng không phải là mỏm nhô hẳn ra chịu gió trực diện, và trong hơn một nghìn hai trăm năm, sự vừa phải ấy có lẽ đã cứu công trình nhiều hơn bất cứ điều gì khác.

Cuối cùng là ngọn núi bên trong. Người Việt đọc thế đất từ ngoài vào, lấy núi thật làm chỗ dựa. Kiến trúc Ấn Độ Giáo làm ngược lại: khối tháp ba tầng mái thu nhỏ dần lên chóp chính là hình ảnh núi thiêng Meru. Nơi này không có núi để tựa, nhưng bản thân nếp tháp giữa đã là một ngọn núi thu nhỏ dựng ngay trên đồi cát.

Katê Và Các Lễ Trong Năm

Khác với nhiều di tích Chăm chỉ còn là phế tích, khu tháp này vẫn là nơi hành lễ của người Chăm Bàlamôn trong vùng. Các lễ đều tính theo lịch riêng của người Chăm, nên ngày dương lịch thay đổi qua từng năm.

Các lễ chính của người Chăm Bàlamôn tổ chức tại khu tháp. Nguồn: Theo hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội Katê và các bản mô tả nghi lễ đã công bố..
LễThời điểm theo lịch ChămNội dung
Rija NagarĐầu tháng GiêngLễ đầu năm của người Chăm, cầu cho mưa thuận gió hòa và tống tiễn cái cũ. Có múa lễ và nhạc lễ với trống ghi năng cùng kèn saranai.
Poh Mbang YangTrong nửa đầu nămLễ cầu mưa và cầu mùa, gắn với nhịp canh tác của vùng đất khô hạn quanh chân đồi.
KatêĐầu tháng BảyLễ lớn nhất trong năm, hướng về các vị thần nam và các vị đã được thần hóa. Thường rơi vào khoảng tháng Chín tháng Mười dương lịch.
Mở cửa tháp và tắm bệ thờTrong dịp KatêCả sư làm lễ xin mở cửa tháp chính, sau đó dội nước thơm pha thảo mộc lên bệ Linga Yoni. Nước chảy theo rãnh yoni ra ngoài được người dự lễ xin về.
Dâng lễ và múaSân trước tháp chínhDâng lễ vật, hát tụng công đức, múa cầu an. Phần này mở cho khách ngoài cộng đồng cùng xem.
Katê làng và Katê nhàSau phần lễ ở thápLễ chuyển về làng Chăm rồi về từng gia đình, kéo dài thêm nhiều ngày.

Xin lưu ý một chỗ hay bị gộp. Katê là lễ của người Chăm Bàlamôn, tức nhánh theo Ấn Độ Giáo bản địa hóa, tổ chức tại đền tháp. Còn Ramưwan là tháng lễ của người Chăm Bàni, tức nhánh theo Hồi Giáo bản địa hóa, tổ chức tại thánh đường và tại nhà. Hai lễ khác nhau cả về đối tượng thờ, chức sắc chủ trì lẫn lịch, và không nên gọi chung là tết của người Chăm.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đồi Bà Nài, phường Phú Thủy, tỉnh Lâm Đồng
Đường tới
Nằm trên đồi Bà Nài, phường Phú Thủy, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm Phan Thiết chừng bảy cây số về phía đông bắc, trên trục đường đi Mũi Né.
Toạ độ
10.9411, 108.1333
Khi tới nơi

Đây là đền tháp còn được hành lễ chứ không phải phế tích, nên lệ của người Chăm là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày trước khi vào lòng tháp chính, không sờ tay lên bệ Linga Yoni, không đặt đồ vật lên bệ thờ và không trèo lên thân tháp. Trong các ngày lễ, phần nghi thức trong lòng tháp do chức sắc chủ trì, khách ngoài cộng đồng đứng ngoài theo hướng dẫn.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Tháp Po Sah Inư thờ ai

Lớp thờ gốc là thần Shiva của Ấn Độ Giáo, thể hiện bằng bệ Linga Yoni còn nguyên trong lòng tháp chính. Từ khoảng thế kỷ 15, người Chăm thờ thêm công chúa Po Sah Inư, con vua Para Chanh, và tên bà về sau thành tên gọi của cả cụm tháp. Đây là đền tháp Bàlamôn Chăm, không phải chùa Phật.

Tháp Po Sah Inư xây từ năm nào

Từ khoảng thế kỷ 8, theo phong cách Hòa Lai, một trong những phong cách sớm nhất của nghệ thuật đền tháp Chăm. Phần lớn bản khảo tả ghi cụ thể hơn là cuối thế kỷ 8 sang đầu thế kỷ 9. Như vậy cụm tháp này có trước tháp Po Klong Garai ở Phan Rang chừng năm thế kỷ.

Tháp Po Sah Inư nay thuộc tỉnh nào

Sau việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, khu tháp thuộc tỉnh Lâm Đồng, trên địa bàn thành phố Phan Thiết cũ, cách trung tâm Phan Thiết chừng bảy cây số về phía đông bắc. Các tài liệu xuất bản trước đó ghi nơi này thuộc tỉnh Bình Thuận, nên khi tra cứu quý vị sẽ gặp cả hai tên tỉnh cho cùng một địa điểm.

Vì sao tháp mang tên công chúa mà lại thờ thần Shiva

Vì hai lớp thờ tự cách nhau sáu bảy trăm năm. Ba nếp tháp dựng khoảng thế kỷ 8 để thờ Shiva; công chúa Po Sah Inư sống vào thế kỷ 15 và lớp thờ bà được thêm vào sau đó. Cái tên đến sau công trình rất lâu rồi ở lại và thay luôn tên cũ.

Lễ Katê ở tháp Po Sah Inư diễn ra khi nào

Vào đầu tháng Bảy theo lịch Chăm, thường rơi vào khoảng tháng Chín tháng Mười dương lịch. Lễ được phục dựng tại khu tháp từ năm 2005 và tổ chức đều đặn hằng năm. Ngoài Katê, tại đây còn có lễ Rija Nagar đầu năm và lễ cầu mưa Poh Mbang Yang.

Đọc Tiếp