VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Việt Nam Quốc Tự

越南國寺 · Quốc tự Việt Nam

Ngôi chùa lấy tên nước làm tên chùa, dựng dở dang từ đồ án của một kiến trúc sư lớn, rồi làm lại thành khối bảo tháp cao nhất thành phố.

Khởi dựng
1964
theo đồ án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
Bảo tháp
63 m
mười ba tầng, khánh thành tháng 11 năm 2017
Tổng sàn
23.354 mét vuông
trên khu đất hiện nay khoảng 11.000 mét vuông

Đi trên đường Ba Tháng Hai, khúc gần vòng xoay Dân Chủ, quý vị khó mà không nhìn thấy nơi này. Một khối tháp mười ba tầng vươn thẳng lên, mái ngói sắc nâu đỏ xếp lớp thu dần về đỉnh, trên chóp là một khối đồng lớn. Dưới chân tháp là một khối nhà bề thế, sắc vàng và nâu, mở ra mặt đường bằng một sân rộng. Lui về phía trong khuôn viên còn một ngôi tháp khác, thấp hơn, bảy tầng, gầy và cũ.

Hai ngọn tháp ấy là hai chặng khác nhau của cùng một ngôi chùa. Ngôi tháp bảy tầng thuộc về đồ án ban đầu năm 1964, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ. Khối bảo tháp mười ba tầng thuộc về đợt xây mới bốn mươi năm sau đó, hoàn thành cuối năm 2017. Đứng giữa sân mà nhìn hai ngọn tháp cùng lúc là cách nhanh nhất để hiểu lịch sử của nơi mang tên nước này.

Việt Nam Quốc Tự
Việt Nam Quốc Tự. Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Hai Chữ Quốc Tự

Tên gọi Việt Nam Quốc Tự dịch sát là chùa nước Việt Nam. Đây là một cái tên bất thường: chùa Việt xưa nay đặt tên theo chữ nghĩa nhà Phật như Giác Lâm, Vĩnh Nghiêm, Phổ Minh, hoặc theo địa danh như chùa Dâu, chùa Keo. Lấy quốc hiệu đặt làm tên chùa là chuyện hiếm, và chính cái hiếm ấy nói lên ý của người đặt tên. Chữ Hán 越南國寺 ghi ở đầu bài là tên chữ tương ứng với tên gọi, do thư viện ghi lại theo lối chữ Hán quen dùng, không phải chép từ một tấm hoành phi cụ thể.

Theo giáo nghĩa

Chữ tự vốn không phải chữ nhà Phật. Thời Hán, tự là tên gọi một loại nha môn, tức công sở của triều đình; khi các vị tăng đầu tiên từ Tây Vực sang được nhà nước tiếp đón và cho ở trong công sở ấy, chữ tự theo đó chuyển nghĩa thành nơi ở của chư tăng, rồi thành chữ chỉ ngôi chùa. Nguồn gốc hành chính của chữ này giải thích vì sao ghép nó với chữ quốc lại thành một cụm nghe rất trang trọng: quốc tự hàm ý ngôi chùa đứng ở tầm cả nước chứ không ở tầm một làng, một phủ.

Theo sử liệu

Trong lịch sử nước ta, danh xưng quốc tự có nghĩa khá chặt. Đời Lý và đời Trần, một số ngôi chùa được triều đình dựng, cấp ruộng và cấp người trông coi, vua thân hành tới lễ, thì được coi là chùa của nhà nước. Tới thời Nguyễn, cách gọi này thành lệ rõ hơn: các ngôi như Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên ở Huế được triều đình sắc phong là quốc tự, có sư trụ trì do triều đình bổ, có kinh phí từ công quỹ.

Ngôi chùa ở đường Ba Tháng Hai thì khác. Tên Việt Nam Quốc Tự là một tên riêng do một tổ chức Phật giáo miền Nam đặt cho công trình của mình khi khởi dựng năm 1964, mang ý là ngôi chùa chung của Phật giáo cả nước, chứ không phải một danh hiệu được ban theo lệ sắc phong thời trước. Hai chữ quốc tự ở đây là phần của tên gọi, không phải phần của tước hiệu.

Chỗ hay hiểu lầm

Từ chỗ ấy sinh ra một hiểu lầm rất phổ biến: nhiều người gặp cái tên rồi đoán rằng đây là ngôi chùa chính thức của quốc gia theo nghĩa hành chính. Không phải vậy. Chế định quốc tự theo lệ cũ đã thôi được dùng từ lâu, và tên gọi này thuần túy là tên riêng của một ngôi chùa, do người dựng chùa đặt.

Một hiểu lầm thứ hai đi kèm: vì chùa nay là nơi đặt trụ sở Ban Trị sự Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, có người suy ra cái tên bắt nguồn từ vai trò trụ sở ấy. Thứ tự thực ra ngược lại: tên có từ năm 1964, còn việc đặt trụ sở là chuyện về sau.

Một Đồ Án Dở Dang Và Một Công Trình Mới

Lịch sử xây cất ở đây chia làm hai đoạn cách nhau gần nửa thế kỷ. Đoạn thứ nhất thuộc thập niên sáu mươi, để lại một ngôi tháp và một đồ án chưa làm xong. Đoạn thứ hai thuộc thập niên hai nghìn mười, làm lại gần như toàn bộ trên nền cũ.

  • 1964Khởi dựng theo đồ án Ngô Viết Thụ
    Công trình khởi dựng trên khu đất mà tư liệu ghi khoảng 4 hecta, theo một đồ án quy mô lớn do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ, trong đó có một ngôi tháp bảy tầng lấy hình các đài sen xếp chồng.
  • Trước 1975Dựng ngôi tháp bảy tầng
    Ngôi tháp theo đồ án được dựng trong giai đoạn này; các tư liệu ghi khác nhau về mức độ hoàn thiện, có nguồn chỉ nói tới phần chân tháp. Phần lớn các hạng mục còn lại của đồ án không được thực hiện.
  • 1993Khởi sự tu bổ
    Khu chùa bắt đầu một đợt sửa chữa và tu bổ sau nhiều năm dở dang.
  • 1997Hoàn tất đợt tu bổ
    Đợt sửa chữa khép lại, giữ được nếp sinh hoạt thờ tự nhưng chưa động tới quy mô của đồ án cũ.
  • 2014Khởi công công trình mới
    Tháng 10 năm 2014, công trình mới khởi công. Khu đất được bổ sung thêm 7.201,5 mét vuông vào phần 3.700 mét vuông cũ, thành khoảng 11.000 mét vuông.
  • 2017Khánh thành bảo tháp
    Tháng 11 năm 2017, công trình khánh thành. Bảo tháp mười ba tầng cao 63 mét là hạng mục cao nhất, tổng diện tích sàn sử dụng của cả khu là 23.354 mét vuông.
  • Từ 2017Trụ sở giáo hội cấp thành phố
    Khu chùa mới trở thành nơi đặt trụ sở Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là chỗ tổ chức các khóa tu và các kỳ lễ lớn của Phật giáo thành phố.

Cần nói thêm về người vẽ đồ án đầu tiên. Ngô Viết Thụ là kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên đoạt giải Khôi nguyên La Mã, giải thưởng lớn của ngành kiến trúc Pháp, và là tác giả của nhiều công trình có tiếng ở miền Nam. Điểm đáng chú ý trong đồ án ông vẽ cho ngôi chùa này là ngọn tháp: thay vì xếp mỗi tầng thành một khối hộp thu nhỏ dần theo lối cổ, ông xếp các tầng thành hình những đài sen chồng lên nhau. Đó là cách lấy một mô típ rất quen của nhà Phật rồi chuyển thành hình khối kiến trúc, thay vì đắp lên như hoa văn.

Bảo Tháp Mười Ba Tầng Và Cách Xếp Tầng

Khu chùa hiện nay là một công trình nhiều tầng, xếp mọi chức năng chồng lên nhau trong một khối lớn chứ không dàn ra thành nhiều nếp nhà riêng như chùa cổ. Đây là lối làm quen thuộc của các ngôi chùa lớn dựng trong lòng đô thị: đất hẹp, nhu cầu nhiều, nên thay vì mở rộng mặt bằng thì cộng thêm tầng. Điểm khác với chùa Xá Lợi hay chùa Vĩnh Nghiêm cùng thành phố là ở đây quy mô lớn hơn hẳn, vì ngôi chùa còn gánh phần việc của một cơ quan giáo hội.

Bảo tháp mười ba tầng

Cao 63 mét, hạng mục cao nhất của khu chùa và là một trong những công trình tôn giáo cao nhất thành phố. Phần chóp trên đỉnh tháp đúc bằng đồng nguyên khối, nặng 6 tấn.

Chính điện

Đặt ở tầng bốn, diện tích 2.167 mét vuông, trong đó khu thờ Phật chiếm 1.081 mét vuông. Sức chứa khoảng 1.500 người, tức bằng một hội trường trung bình.

Tượng Phật Thích Ca

Pho tượng chính bằng đồng, cao 7,5 mét, nặng 35 tấn, đặt ở khu thờ trong chính điện. Đây là một trong những pho tượng đồng lớn nhất trong các chùa của thành phố.

Hội trường tầng một

Rộng 730 mét vuông, một nghìn chỗ ngồi và có thể mở rộng thêm. Đây là nơi diễn ra các buổi thuyết giảng, các kỳ họp và các khóa tu đông người.

Văn phòng và tăng xá

Tầng hai dành cho văn phòng, 885 mét vuông; tầng ba là khu tăng phòng gồm mười lăm phòng trên diện tích 580 mét vuông. Hai tầng này gánh phần việc thường nhật của một trụ sở giáo hội.

Ngôi tháp bảy tầng cũ

Ngọn tháp thuộc đồ án năm 1964 của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, xếp tầng theo hình những đài sen chồng lên nhau. Tháp vẫn đứng trong khuôn viên, là phần vật chất duy nhất còn lại của lớp công trình đầu.

Vì sao khối nhà lại xếp như vậy

Cách phân tầng ở đây đáng chú ý hơn là các con số. Từ dưới lên, tầng hầm để xe rộng 7.850 mét vuông, tầng một là hội trường, tầng hai là văn phòng, tầng ba là tăng phòng, tầng bốn mới là chính điện. Nghĩa là toàn bộ phần việc thuộc về đời, gồm để xe, hội họp, giấy tờ và chỗ ở, đều nằm dưới; phần thờ tự nằm trên cùng. Quý vị muốn lễ Phật thì phải đi qua hoặc đi vượt qua tất cả các lớp ấy.

Lối xếp này nối tiếp cách làm đã thấy ở chùa Xá Lợi từ cuối thập niên năm mươi, trên là chỗ lễ, dưới là chỗ giảng, nhưng đẩy xa thêm một bậc. Về mặt kiến trúc, nó cho phép một khu đất hơn một hecta chứa được hơn hai hecta sàn. Về mặt bố trí thờ tự, nó dựng ra một thứ thứ bậc theo chiều đứng thay cho thứ bậc theo chiều sâu của chùa cổ, nơi càng vào trong càng thiêng.

Theo giáo nghĩa

Về hình thức bảo tháp nói chung, kiến trúc Phật giáo có một quy ước lâu đời: tháp thờ thường lấy số tầng lẻ, và phần tướng luân trên chóp tháp, tức những vòng tròn xếp chồng, cũng đếm theo số lẻ. Lý do nằm trong cách chia âm dương của phương Đông, số lẻ thuộc dương, hợp với vật hướng lên trời. Ngôi tháp bảy tầng và ngôi bảo tháp mười ba tầng ở đây đều giữ đúng quy ước ấy. Chúng tôi nêu như một quy ước chung của kiến trúc bảo tháp, không dùng nó để giải thích riêng cho từng ngọn tháp.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong hồ sơ thiết kế hay trong tư liệu của nhà chùa. Công trình này do các đơn vị thiết kế hiện đại thực hiện, và không có bằng chứng nào cho thấy phép xem đất cổ truyền đã được dùng khi lập bản vẽ.

Thế đất và hướng

Trước hết là con đường trước mặt. Khu chùa nằm trên một trục lớn của thành phố, mặt tiền rộng và thẳng. Trong phép xem đất, một khoảng trống rộng trước cửa là minh đường tốt, vì khí có chỗ tụ trước khi vào nhà. Nhưng phép cũ cũng xem đường lớn như dòng nước: nước chảy chậm và uốn thì tụ khí, nước chảy xiết và thẳng thì cuốn khí đi. Một đại lộ thẳng, xe chạy không ngớt, đọc theo lối ấy là thủy cấp, tức dòng gấp. Cách hóa giải quen thuộc là lùi công trình vào trong, lấy một khoảng sân đệm giữa mặt đường và cửa chính, và khu chùa đúng là làm như vậy.

Thứ hai là khối tháp. Một trụ cao 63 mét đứng trên nền một khối nhà lớn tạo ra thế mà phép cũ gọi là trung cung có trụ: cả khu đất có một điểm cao duy nhất giữ vai trò tâm, mọi phần còn lại quy chiếu về đó. Xét theo hình khối ngũ hành, thân tháp thẳng đứng thuộc hình Mộc, phần thu nhọn dần lên đỉnh thuộc hình Hỏa, và khối nhà bệ vệ bên dưới thuộc hình Thổ. Thổ làm nền cho Mộc đứng, Mộc dẫn lên Hỏa, ba hình xếp từ dưới lên theo đúng chiều sinh. Đọc theo lối cũ thì đây là một tổ hợp vững, hình nào đỡ hình nấy chứ không có hình nào chọi nhau.

Thứ ba là chiều đứng của các lớp công năng. Chùa cổ đặt chỗ thiêng ở lớp trong cùng, càng vào sâu càng kín; ở đây chỗ thiêng đặt ở tầng cao nhất của phần thờ tự, còn bên dưới là các lớp việc đời. Đọc theo lối cũ, đó là phép dương thượng âm hạ, cái động và cái đông người ở dưới, cái tĩnh ở trên. Hầm để xe nằm sâu nhất, dưới cả mặt đất, hợp với chỗ đứng của nó trong thứ bậc ấy.

Sau cùng, về hướng, chúng tôi xin không quả quyết. Khu chùa quay mặt ra đường Ba Tháng Hai, nhưng hồ sơ thiết kế công bố không ghi tọa độ la bàn của chính điện và chúng tôi chưa đo tại chỗ. Điều nói được chắc chắn là hướng công trình bị quy định bởi hướng lô đất và trục đường có từ trước, chứ không do người xem đất chọn.

Lễ Tiết Và Các Khóa Tu

Chùa theo Phật giáo Bắc tông, nên lịch lễ trong năm đi theo lịch chung của dòng này, tính bằng âm lịch. Vì đây còn là nơi đặt trụ sở giáo hội cấp thành phố nên nhiều kỳ lễ ở đây mang quy mô của cả thành phố chứ không chỉ của một ngôi chùa, và hội trường tầng một cùng chính điện tầng bốn là hai chỗ gánh phần lớn các sinh hoạt ấy.

Lịch lễ theo âm lịch và nếp tu học chính tại chùa. Nguồn: Thông báo của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh về khóa tu Ngày an lạc tại Việt Nam Quốc Tự..
Thời điểmLễ hoặc khóaNội dung
Rằm tháng GiêngLễ Thượng nguyênLễ cầu an đầu năm, tụng kinh và thuyết giảng, một trong những dịp đông người nhất trong năm.
Rằm tháng TưĐại lễ Phật đảnKỷ niệm Đức Phật đản sinh theo lịch Bắc tông hiện hành. Tại đây lễ thường tổ chức ở quy mô của Phật giáo thành phố.
Rằm tháng Tư tới rằm tháng BảyMùa an cư kiết hạBa tháng chư tăng ni cấm túc tu học theo giới luật. Đây là kỳ sinh hoạt quan trọng nhất trong năm của người xuất gia.
Rằm tháng BảyLễ Vu lan và tự tứLễ báo hiếu, đồng thời là lễ khép mùa an cư, có tụng kinh Vu lan và cầu siêu.
Định kỳ trong nămKhóa tu Ngày an lạcKhóa tu dành cho cư sĩ do Ban Hoằng pháp của giáo hội thành phố tổ chức tại chùa, gồm nghe pháp, tụng kinh và tọa thiền.

Khóa tu Ngày an lạc là nếp đáng nói nhất ở đây, vì nó cho thấy một ngôi chùa trụ sở làm gì với cái hội trường một nghìn chỗ của mình. Đây là hình thức tu tập ngắn dành cho người tại gia, gói gọn trong một ngày, gồm phần nghe giảng, phần tụng kinh và phần ngồi thiền. Người dự không phải xuống tóc, không phải bỏ việc dài ngày, chỉ dành ra một ngày. Lối tổ chức này phổ biến ở các đô thị lớn, nơi phần đông Phật tử là người đi làm, và nó là lý do thực tế khiến các ngôi chùa mới xây trong phố đều dành một khối tích lớn cho hội trường.

Bên cạnh đó, chùa còn là nơi mở các lớp giáo lý, các buổi thuyết giảng định kỳ và nhiều kỳ họp của giáo hội thành phố.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 244 đường 3 Tháng 2, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Chùa ở số 244 đường 3 Tháng 2, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh, gần vòng xoay Dân Chủ. Bảo tháp mười ba tầng nhìn thấy từ xa trên trục đường, nên cứ nhắm khối tháp mà tới.
Toạ độ
10.7714, 106.6672
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và cũng là trụ sở làm việc, nên lệ nhà chặt hơn chùa vãn cảnh. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ ở khu văn phòng và khu tăng phòng, không tự ý vào các tầng dành riêng cho chư tăng. Việc lên bảo tháp tùy lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi trước. Ngày có khóa tu hoặc đại lễ thì rất đông, xin theo hướng dẫn tại chỗ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Việt Nam Quốc Tự nghĩa là gì

Dịch sát là chùa nước Việt Nam. Chữ tự vốn chỉ công sở thời Hán, sau chuyển nghĩa thành chùa; ghép với chữ quốc thành cụm chỉ ngôi chùa ở tầm cả nước. Đây là tên riêng do người dựng chùa đặt năm 1964, không phải một tước hiệu do nhà nước phong như lệ quốc tự thời Nguyễn.

Bảo tháp Việt Nam Quốc Tự cao bao nhiêu và có mấy tầng

Bảo tháp hiện nay cao 63 mét, mười ba tầng, khánh thành tháng 11 năm 2017, chóp trên đỉnh đúc bằng đồng nguyên khối nặng 6 tấn. Trong khuôn viên còn một ngôi tháp bảy tầng cũ thuộc đồ án năm 1964, nên quý vị sẽ thấy hai ngọn tháp khác nhau ở cùng một nơi.

Việt Nam Quốc Tự do ai thiết kế

Đồ án đầu tiên năm 1964 do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ, trong đó có ngôi tháp bảy tầng xếp theo hình những đài sen chồng lên nhau. Công trình hiện nay là đợt xây mới từ tháng 10 năm 2014 tới tháng 11 năm 2017, do một đơn vị thiết kế khác thực hiện.

Chính điện Việt Nam Quốc Tự ở tầng mấy

Chính điện đặt ở tầng bốn, rộng 2.167 mét vuông, chứa khoảng 1.500 người, trong đó khu thờ Phật chiếm 1.081 mét vuông. Tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao 7,5 mét, nặng 35 tấn. Bên dưới lần lượt là hầm để xe, hội trường, văn phòng và khu tăng phòng.

Việt Nam Quốc Tự có tổ chức khóa tu không

Có. Chùa là nơi tổ chức khóa tu Ngày an lạc dành cho cư sĩ, do Ban Hoằng pháp của giáo hội thành phố đứng ra tổ chức tại hội trường tầng một, gồm nghe pháp, tụng kinh và tọa thiền trong một ngày. Ngoài ra chùa còn mở các lớp giáo lý và các buổi thuyết giảng định kỳ.

Đọc Tiếp