Từ chân núi, quý vị leo chín mươi chín bậc đá dưới bóng cây rồi đột ngột bước ra một khoảng sân hẹp. Trước mặt là một mặt tiền bảy cửa vòm sơn vàng, trên đó rồng, phượng và mây được ghép bằng mảnh sành sứ nhiều màu, thứ ánh lên chứ không bóng, vì mỗi mảnh bắt nắng theo một góc riêng. Sau lưng mặt tiền ấy là đá: cả khối núi Bình Điện áp ngay vào phần sau của ngôi chùa, và có chỗ vách đá chính là tường.
Đây là Bửu Phong Cổ Tự, thường được kể trong nhóm những ngôi chùa xưa nhất của đất Nam Bộ. Điều đáng nói ở đây không phải một pho tượng hay một bảo vật, mà là cách ngôi chùa ăn vào thế đất: nó không dựng trên một khoảnh ruộng bằng như chùa làng Bắc Bộ, mà bám vào một sườn đá, và mọi thứ khác trong bố cục đều phải theo cái bám ấy.
壹Tổ Đình Và Dòng Thiền
Nơi này mang mấy tên cùng lúc. Bửu Phong Cổ Tự là tên chữ, nghĩa mặt chữ là ngôi chùa cổ trên ngọn núi báu. Tổ đình Bửu Phong là cách gọi theo vai trò trong tông môn. Chùa Bửu Phong là tên quen dùng. Chữ Hán ghi ở đầu bài là cách chúng tôi chuyển tên Bửu Phong Cổ Tự sang chữ, chứ không phải chép lại một tấm hoành phi cụ thể trên công trình.
Chữ tổ đình cần được hiểu cho đúng. Trong nếp nhà Phật, tổ đình là ngôi chùa gốc của một dòng truyền thừa, nơi vị khai sơn đặt nền và nơi các thế hệ sau nhận là chốn tổ. Một tổ đình vì thế không chỉ là chùa lớn hay chùa cổ; nó là điểm đầu của một mạch truyền, và các chùa sinh ra từ mạch ấy đều hướng về.
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông. Về dòng thiền, các tư liệu cho biết buổi đầu nơi đây gắn với Tào Động, về sau có thêm ảnh hưởng của Lâm Tế. Hai dòng ấy đều là thiền tông truyền từ Trung Hoa sang, khác nhau ở lối tiếp dẫn người học: Lâm Tế thiên về cách khai mở đột ngột, Tào Động thiên về lối tọa thiền đều đặn và lặng lẽ. Việc một ngôi chùa mang dấu của cả hai là chuyện thường thấy ở Nam Bộ.
Theo tư liệu, ngôi chùa khởi đầu chỉ là một am tranh do một nhà sư người Việt dựng trên núi khi vùng này còn hoang vu. Bước ngoặt thứ hai đến vào cuối thế kỷ 17, khi những nhóm di dân người Hoa đến lập nghiệp ở vùng Biên Hòa góp công dựng lại chùa bằng gạch ngói thay cho am tranh, và thỉnh thiền sư Thành Trí, pháp danh Pháp Thông, hiệu Thiện Hỷ, về làm trụ trì.
Cần nói rõ một chỗ dễ lẫn: việc người Hoa góp công dựng chùa không biến nơi đây thành một cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng Hoa. Bửu Phong là chùa Phật Giáo Bắc Tông với hệ tượng và nghi thức nhà Phật, khác hẳn các hội quán người Hoa thờ Thiên Hậu hay Quan Đế, vốn thuộc tín ngưỡng dân gian Hoa pha Đạo Giáo. Ở vùng Biên Hòa có cả hai loại, và hai loại ấy không nên gộp làm một.
Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất ở đây là con số 1616. Con số ấy đến từ hai chữ khắc trên cột gỗ ở giảng đường và từ truyền ngôn trong chùa, chứ không đến từ một bộ sử biên niên. Cột ghi năm Bính Thìn; trong vòng can chi thì năm 1616 đúng là một năm Bính Thìn, nhưng Bính Thìn trở lại sau mỗi sáu mươi năm, nên riêng hai chữ ấy không đủ để chốt đó là Bính Thìn nào.
Vì vậy các nguồn ghi khác nhau. Có nguồn giữ mốc 1616 và gọi đây là chùa gần bốn trăm tuổi; có nguồn lấy mốc dựng lại bằng gạch ngói cuối thế kỷ 17 và gọi đây là chùa hơn ba trăm tuổi. Chúng tôi ghi cả hai cách, không chọn bừa một con số. Bảng dữ liệu của thư viện lấy mốc 1616 theo cách ghi phổ biến nhất.
貳Từ Am Tranh Tới Ngôi Chùa Gạch
Lịch sử ngôi chùa là một chuỗi trùng tu dày đặc, trải suốt ba thế kỷ. Điều ấy dễ hiểu với một công trình dựng trên sườn núi: mưa nắng và nền dốc bào mòn nhanh hơn ở đồng bằng, nên bộ khung phải được làm lại nhiều lần hơn.
- 1616Dựng am tranhTheo cột gỗ ở giảng đường và truyền ngôn trong chùa, một nhà sư người Việt dựng am tranh trên núi Bình Điện, đặt tên Bửu Phong. Đây là mốc được nhắc nhiều nhất, tuy không có sử biên niên xác nhận.
- Cuối thế kỷ 17Dựng lại bằng gạch ngóiNhững nhóm di dân người Hoa đến lập nghiệp ở vùng Biên Hòa góp công dựng lại chùa bằng gạch ngói, và thỉnh thiền sư Thành Trí, pháp danh Pháp Thông, hiệu Thiện Hỷ, về làm trụ trì.
- 1760Trùng tuMột trong các đợt sửa lớn được tư liệu ghi lại, thuộc giai đoạn ngôi chùa đã ổn định thành một tổ đình của vùng.
- 1829Trùng tu thời NguyễnĐợt sửa lớn đầu thời Nguyễn. Phần lớn hệ tượng và đồ thờ mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn đến từ lớp này và các lớp kế tiếp.
- 1898Trùng tu cuối thế kỷ 19Đợt sửa lớn định hình nhiều phần của bộ khung còn thấy hôm nay, trong đó có phần mặt tiền với hệ cửa vòm.
- 1944Trùng tu giữa thế kỷ 20Một đợt tu bổ nữa, tiếp nối chuỗi sửa chữa định kỳ của ngôi chùa trên sườn núi.
- 1963 tới 1964Trùng tuĐợt tu bổ kiến trúc trong hai năm liền, ghi theo việc xây dựng.
- 1974Chuyển thành chùa niTừ năm này, việc trông coi chùa chuyển sang chư ni, và nếp tu học tại chỗ theo đó mà đổi. Chùa vẫn giữ vai trò tổ đình của dòng truyền thừa cũ.
Về xếp hạng di tích, các nguồn ghi vênh nhau và chúng tôi ghi cả ba cách. Một số bài ghi chùa được công nhận di tích lịch sử nghệ thuật cấp quốc gia vào tháng 4 năm 1991; một số bài khác ghi mốc 1994 cho cùng loại xếp hạng ấy; và nhiều bài nhắc thêm mốc 2013, gắn với việc xếp hạng cho cả cụm di tích và danh thắng vùng Bửu Long chứ không riêng ngôi chùa. Bảng dữ liệu của thư viện chỉ ghi loại xếp hạng là di tích quốc gia mà không ghi năm, và đó là cách ghi thận trọng đúng với tình trạng tư liệu hiện nay.
參Chữ Tam Gá Vào Vách Đá
Chùa dựng theo lối chữ Tam, tức ba nếp nhà nằm song song nối tiếp nhau: chánh điện ngoài cùng, giảng đường ở giữa, nhà thờ Tổ trong cùng. Đây là bố cục quen của chùa Nam Bộ. Nhưng ở Bửu Phong nó có một ràng buộc mà chùa đồng bằng không có: cả ba nếp nhà phải xếp theo thế của sườn núi, và phần sau của chùa áp thẳng vào khối đá.
Chính vì thế mà mặt bằng ở đây không thể dàn rộng. Ngôi chùa phát triển theo chiều sâu và chiều cao thay vì chiều ngang, sân trước hẹp, và lối tiếp cận duy nhất là chín mươi chín bậc đá từ chân núi lên. Đá không chỉ là nền mà là một phần của công trình: có chỗ vách núi thay cho tường, có chỗ tảng đá lớn nằm ngay trong khuôn viên và được giữ nguyên chứ không phá đi lấy chỗ.
Mặt trước chánh điện mở bảy cửa vòm sơn vàng, trong đó ba cửa chính ở giữa cao khoảng 3 mét và rộng khoảng 2 mét, hai bên là bốn cửa nhỏ hơn. Đây là phần gây ấn tượng đầu tiên khi lên hết bậc đá.
Mặt tiền và các mảng trang trí được ghép bằng mảnh sành sứ nhiều màu, tạo hình rồng uốn, phượng, lân và mây. Lối khảm sành này là đặc trưng của chùa miếu Nam Bộ, khác hẳn lối chạm gỗ và đắp vữa của chùa Bắc Bộ.
Xây gạch thẻ, quét vôi, mái lợp ngói âm dương. Trong đặt bộ Di Đà Tam Tôn cùng tượng Thích Ca và các vị Bồ Tát, bố trí theo lối bày tượng của chùa Bắc Tông.
Hai nếp nhà phía sau chánh điện. Giảng đường là nơi giảng pháp và là chỗ giữ những cột gỗ mang chữ khắc được dùng để suy niên đại; nhà thờ Tổ đặt long vị các vị trụ trì đã khuất.
Khối đá của núi Bình Điện áp vào phần sau công trình. Trong khuôn viên còn giữ những tảng đá lớn có tên riêng, trong đó có hòn đá Long Đầu, cùng một giếng cổ thành xếp bằng đá vuông.
Ngoài sân và trên sườn núi có các pho tượng lớn đặt ngoài trời, trong đó có tượng Phật nằm và tượng Quan Âm. Đây là lớp tượng làm về sau, không cùng niên đại với hệ tượng trong chánh điện.
Riêng phần cổng và câu đối đáng dừng lại. Cổng được khảm sành sứ với hình rồng uốn chạy dọc hai trụ, và trên cổng có đôi câu đối mà tư liệu chép lại là Bửu thạch long đầu, cổ cảnh linh quy tại và Phong sơn hổ cứ, vạn đại chiếu phùng tồn. Đôi câu này chơi chữ ngay trên tên chùa: chữ Bửu mở câu trên, chữ Phong mở câu dưới, và cả hai câu đều lấy hình ảnh của đá và núi. Cách đặt câu đối gài tên như vậy là lối quen của chùa miếu phương Nam. Chúng tôi ghi lại theo bản chép của tư liệu, và lưu ý rằng các bản phiên âm lưu hành có chỗ khác nhau ở vài chữ.
Một chỗ hay bị nói sai là chất liệu của các pho tượng cổ. Vì ngôi chùa nằm giữa một vùng đá nổi tiếng và có nghề đá lâu đời, nhiều người mặc nhiên cho rằng pho tượng A Di Đà và các tượng xưa trong chánh điện là tượng tạc bằng đá.
Tư liệu khảo về hệ tượng thờ của chùa cho biết khác: nhóm tượng cổ nhất trong chánh điện, gồm bộ năm pho, được đục chạm bằng gỗ, sơn son thếp vàng, và các mô tả khác cũng nhắc tới tượng Phật bằng gỗ mít. Đá ở Bửu Phong nằm ở vách núi, ở nền, ở bậc thang và ở những tảng lớn trong khuôn viên, chứ không nằm ở pho tượng chính. Điều ấy đáng chú ý theo hướng khác: ở một ngôi chùa dựng giữa vùng đá, người xưa vẫn chọn gỗ cho pho tượng thờ, theo đúng lệ tạc tượng của chùa Bắc Tông.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đáng đọc trước nhất là chỗ dựa. Khác với phần lớn chùa ở châu thổ phương Nam vốn dựng trên đất bằng, Bửu Phong tựa lưng vào khối đá của núi Bình Điện. Trong phép xem đất, đây là hậu chẩm theo đúng nghĩa đen: có núi thật để tựa, không phải mượn gò đất hay mặt nước thay thế. Ở một vùng đất mà núi là của hiếm, một ngôi chùa có được chỗ tựa như vậy thì được xem là đắc thế, tức được cái thế mà sách địa lý đòi.
Thứ hai là đường lên. Chín mươi chín bậc đá không chỉ là lối đi mà là một đoạn dẫn. Đọc theo lối cổ truyền, một lối vào dốc và dài buộc người đi phải chậm lại, và sự chậm ấy chính là cái mà phép xem đất gọi là làm cho khí không xổ thẳng. Ở chùa đồng bằng, vai trò này do sân rộng, hồ nước và tam quan đảm nhận; ở chùa núi, bậc thang làm thay cả ba.
Thứ ba là ngũ hành của thế đất. Núi đá vươn lên thuộc Thổ pha Kim, vì đá là phần cứng và bền của đất. Vùng Bửu Long lại là vùng có nhiều hồ nước hình thành trong các hố khai thác đá cũ, tức có Thủy nằm kề chân núi. Thổ gặp Thủy thì đất được nuôi, và theo lối đọc cũ thì một ngôi chùa đứng giữa thế ấy được coi là có chỗ đứng vững mà không khô cằn. Đây là kiến giải đọc theo hình thế, không phải một phán đoán về cát hung.
Cuối cùng là hướng và tầm nhìn. Chùa đặt trên lưng chừng núi, mặt quay ra phía thấp, nhìn xuống vùng đồng và sông Đồng Nai ở xa. Trong phép xem đất, thế nhìn xuống từ chỗ cao mà phía trước trống trải được gọi là có minh đường rộng, và cái rộng ấy bù cho việc sân chùa hẹp. Ngôi chùa lấy cả một vùng làm khoảng sáng trước cửa, thay vì lấy khoảnh sân của riêng mình.
伍Lễ Và Lệ Trong Năm
Chùa theo lịch lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, tính theo âm lịch, kèm một ngày riêng của chính tổ đình này là ngày giỗ Tổ. Bài chỉ ghi những ngày cố định theo âm lịch, không ghi giờ giấc.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 12 tháng Tám | Giỗ Tổ khai sơn | Ngày riêng của tổ đình, tưởng niệm vị khai sơn. Đây là dịp chư tăng ni các chùa cùng mạch truyền thừa và người trong vùng cùng về. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật Đản | Kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh, một trong hai lễ lớn nhất trong năm của mọi chùa Bắc Tông. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan | Lễ báo hiếu và cúng cầu siêu, dịp đông người lên chùa bậc nhất trong năm. |
| Ngày 17 tháng Mười Một | Vía Đức Phật A Di Đà | Ngày vía của vị Phật được thờ ở ban chính trong chánh điện, nên có ý nghĩa riêng với ngôi chùa này. |
| Ngày sóc và ngày vọng hằng tháng | Lễ thường kỳ | Mùng Một và ngày rằm âm lịch, chư ni tụng kinh và người trong vùng lên chùa lễ Phật theo nếp thường. |
Một điểm về nếp đi lễ ở đây: vì chùa nằm trong cụm di tích và danh thắng vùng Bửu Long, người trong vùng có lệ đi liền mấy nơi trong một buổi chứ không đi lẻ. Văn miếu Trấn Biên nằm ngay gần, và một số chùa cổ khác của Biên Hòa cũng ở cùng tuyến.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Bình Điện, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa cũ, tỉnh Đồng Nai
- Đường tới
- Chùa nằm trên núi Bình Điện, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa cũ, tỉnh Đồng Nai, trong cụm danh thắng Bửu Long, cách trung tâm Biên Hòa chừng ba cây số. Lối lên chùa là chín mươi chín bậc đá từ đường dưới chân núi. Văn miếu Trấn Biên ở ngay gần, đi cùng tuyến được.
- Toạ độ
- 10.9533, 106.8158
Vài lệ của chính nơi này: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ ở nhà thờ Tổ. Không chạm tay vào hệ tượng gỗ sơn son thếp vàng và các đồ thờ cổ. Chín mươi chín bậc đá trơn khi trời mưa, xin quý vị bám tay vịn và nhường lối cho người lên xuống. Không trèo lên các tảng đá trong khuôn viên và không khắc chữ lên đá. Việc chụp ảnh trong chánh điện tùy lệ từng lúc, xin hỏi chư ni trông coi trước khi giơ máy.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Bửu Phong ở đâu
Chùa ở trên núi Bình Điện, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa cũ, tỉnh Đồng Nai, nằm trong cụm danh thắng Bửu Long cách trung tâm Biên Hòa chừng ba cây số. Lối lên là chín mươi chín bậc đá từ đường dưới chân núi. Văn miếu Trấn Biên nằm ngay gần, nhiều người đi hai nơi trong cùng một buổi.
Chùa Bửu Phong có từ năm nào
Con số được nhắc nhiều nhất là 1616, lấy từ chữ khắc trên cột gỗ ở giảng đường và từ truyền ngôn trong chùa, không phải từ sử biên niên. Cột ghi năm Bính Thìn, mà Bính Thìn trở lại sau mỗi sáu mươi năm nên không đủ chốt. Có nguồn lấy mốc dựng lại bằng gạch ngói cuối thế kỷ 17, gọi chùa là hơn ba trăm tuổi.
Chùa Bửu Phong thuộc dòng thiền nào
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông. Buổi đầu gắn với dòng Tào Động, qua thiền sư Thành Trí pháp danh Pháp Thông hiệu Thiện Hỷ được thỉnh về trụ trì cuối thế kỷ 17; về sau có thêm ảnh hưởng của dòng Lâm Tế khi các vị thuộc dòng này về trụ trì. Từ năm 1974 chùa do chư ni trông coi.
Tượng cổ trong chùa Bửu Phong làm bằng gì
Tư liệu khảo về hệ tượng cho biết nhóm tượng cổ nhất trong chánh điện được đục chạm bằng gỗ rồi sơn son thếp vàng, và có nhắc tới tượng Phật bằng gỗ mít. Đá ở Bửu Phong nằm ở vách núi, ở nền, ở bậc thang và ở các tảng lớn trong khuôn viên, chứ không nằm ở pho tượng thờ chính.
Chùa Bửu Phong có ngày lễ riêng nào không
Ngày riêng của chùa là giỗ Tổ khai sơn vào ngày mười hai tháng Tám âm lịch, dịp chư tăng ni cùng mạch truyền thừa và người trong vùng cùng về. Ngoài ra chùa theo lịch lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, gồm rằm tháng Tư là lễ Phật Đản, rằm tháng Bảy là lễ Vu Lan và ngày mười bảy tháng Mười Một là vía Đức Phật A Di Đà.