VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tháp Po Klong Garai

· Tháp Chàm Phan Rang

Cụm tháp gạch còn đủ ba nếp trên đồi Trầu, nơi người Chăm Bàlamôn vẫn mở cửa tháp hành lễ Katê mỗi năm một lần.

Khởi dựng
Cuối thế kỷ 13
đời Jaya Simhavarman III, trên nền một công trình sớm hơn
Tháp chính
Hơn 20 m
mặt bằng 10,5 x 10,5 m, ba tầng mái thu nhỏ dần
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016

Từ quốc lộ nhìn lên, quý vị thấy ba khối gạch đỏ sẫm đứng trơ trên một quả đồi thấp đầy đá và xương rồng. Đó là đồi Trầu, và ba khối gạch ấy là cụm tháp Po Klong Garai. Leo hết con dốc, thứ đập vào mắt trước tiên không phải chiều cao mà là màu gạch: đỏ nâu, mịn, và tuyệt nhiên không thấy một đường mạch vữa nào giữa các viên.

Trong hàng chục cụm tháp Chăm còn lại dọc miền Trung, đây là cụm giữ được đủ ba nếp: tháp cổng, tháp lửa và tháp chính, cả ba đều còn mái. Nhưng điều làm nơi này khác hẳn một khu di tích thông thường nằm ở chỗ khác. Mỗi năm một lần, cửa tháp chính được mở ra, và người Chăm Bàlamôn lên đồi làm lễ đúng như tổ tiên họ đã làm. Tháp ở đây chưa bao giờ ngừng là một nơi thờ tự.

Tháp Po Klong Garai
Tháp Po Klong Garai. Ảnh: Lam Tr Th, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Vị Vua Được Thần Hóa

Cần nói ngay một điều để tránh xếp nhầm chỗ. Đây là đền tháp Ấn Độ Giáo của người Chăm, quen gọi là Bàlamôn Chăm, không phải chùa Phật, cũng không phải đền thờ thần của người Kinh. Chủ thể của nơi này là cộng đồng Chăm theo đạo Bàlamôn ở vùng Panduranga cũ, tức khu vực Phan Rang ngày nay.

Nơi đây thờ Po Klong Garai, một vị vua Chăm được đời sau thần hóa. Người Chăm không thờ ông như thờ một bậc tiền nhân trong nhà thờ họ, mà thờ ông trong hình của thần Shiva, tức đặt ông vào đúng vị trí mà một ngôi đền tháp vốn dành cho vị thần tối cao.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Shiva giáo, thần Shiva được thờ không bằng tượng người mà bằng linga, một khối trụ đứng cắm trên bệ yoni hình vuông có rãnh dẫn nước. Linga là biểu tượng của nguyên lý sinh, yoni là biểu tượng của nguyên lý dưỡng; hai vật đặt chồng lên nhau làm thành một cặp không tách rời, và nước tắm tượng chảy theo rãnh yoni ra ngoài là nước thiêng mà người dự lễ xin về.

Khi một vị vua được thần hóa, người Chăm không dựng tượng chân dung mà tạc một mukhalinga, tức linga có gắn mặt. Thông thường mặt ấy là mặt thần Shiva. Ở đây, mặt gắn vào linga là đầu và cổ của một vị vua, có mũ, có râu, tai đeo trang sức. Cách tạo hình ấy nói rất gọn một ý khó nói bằng lời: vua và thần nhập làm một khối.

Theo sử liệu

Về phương diện sử liệu, các nguồn ghi khác nhau về việc Po Klong Garai là vị vua nào, và chúng tôi ghi đủ cả mấy hướng chứ không chọn bừa một hướng.

Các bản giới thiệu di tích thường ghi niên đại trị vì là 1151 tới 1205. Giới nghiên cứu chưa thống nhất: một hướng cho rằng đó là vua Suryavarman, trị vì khoảng 1190 tới 1203, vốn cai quản Panduranga trước khi nắm cả vương quốc; hướng khác cho rằng đó là vua Jaya Indravarman IV, trị vì khoảng 1167 tới 1190, cũng có công lớn về đê đập ở vùng Phan Rang. Lại có nhà nghiên cứu xếp Po Klong Garai vào loại vua huyền sử, nhân vật của truyền thuyết chứ không khớp được với ông vua nào trong bia ký.

Điểm mà các hướng đều gặp nhau là công trạng: Po Klong Garai gắn với việc đắp đập và mở hệ thống mương dẫn nước tưới cho đồng đất Panduranga, một vùng khô hạn vào bậc nhất miền Trung. Ở xứ mà nước quyết định cái ăn, người làm ra nước được nhớ lâu hơn cả, và cái nhớ ấy đủ lâu để hóa thành thờ.

Chỗ hay hiểu lầm

Có ba chỗ hay hiểu lầm về nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, đây không phải chùa. Người địa phương quen gọi là tháp Chàm, khách xa đôi khi gọi là chùa Chàm, nhưng trong tháp không có tượng Phật, không có sư, không có kinh Phật. Hệ thờ tự ở đây thuộc Ấn Độ Giáo, cụ thể là dòng thờ Shiva, và chức sắc chủ lễ là chức sắc Chăm Bàlamôn chứ không phải tăng ni.

Thứ hai, pho tượng trong tháp không phải tượng chân dung. Nhiều người vào tháp tìm một pho tượng vua ngồi hoặc đứng, rồi thấy một khối đá trụ có gắn khuôn mặt thì lấy làm lạ. Đó là mukhalinga, một dạng thức thờ tự có quy cách riêng.

Thứ ba, niên đại của tháp và của pho tượng không trùng nhau. Cụm tháp thuộc lớp cuối thế kỷ 13 sang đầu thế kỷ 14, còn hồ sơ bảo vật quốc gia xếp pho tượng thờ vào thế kỷ 16 tới 17, tức muộn hơn kiến trúc chứa nó vài trăm năm. Điều này bình thường ở các đền tháp còn sống: kiến trúc đứng yên, đồ thờ được thay qua các đời.

Bảy Trăm Năm Trên Đồi Trầu

Cụm tháp được dựng vào cuối thế kỷ 13 sang đầu thế kỷ 14, dưới đời vua Jaya Simhavarman III, tức nhân vật mà sử Việt chép là Chế Mân. Hồ sơ di tích cho biết tháp không dựng trên đất trống mà dựng chồng lên nền móng của một công trình sớm hơn, có niên đại khoảng thế kỷ 11. Ngọn đồi này như vậy đã là đất thờ tự từ trước khi cụm tháp hiện nay ra đời.

  • Thế kỷ 11Lớp công trình sớm
    Hồ sơ di tích ghi nhận cụm tháp hiện nay được dựng trên nền móng của một công trình có trước, cho thấy đồi Trầu đã là nơi thờ tự từ lớp niên đại này.
  • Thế kỷ 12Vị vua được thờ
    Theo cách ghi phổ biến, Po Klong Garai trị vì trong khoảng 1151 tới 1205. Giới nghiên cứu còn nêu các phương án định danh khác, đã ghi rõ ở phần trên.
  • Cuối thế kỷ 13Dựng cụm tháp
    Cụm tháp được dựng dưới đời Jaya Simhavarman III để thờ Po Klong Garai đã được thần hóa, gồm tháp chính, tháp cổng và tháp lửa.
  • Thế kỷ 16 tới 17Pho tượng thờ hiện còn
    Niên đại mà hồ sơ bảo vật quốc gia xếp cho pho mukhalinga bằng sa thạch đang được thờ trong tháp chính.
  • 1979Di tích quốc gia
    Cụm tháp được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
  • 2016Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho tháp Po Klong Garai.
  • 2017Katê thành di sản phi vật thể
    Lễ hội Katê của người Chăm ở Ninh Thuận cũ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Katê của người Chăm ở Bình Thuận cũ được ghi danh riêng năm 2022.
  • 2024Bảo vật quốc gia
    Pho tượng thờ vua Po Klong Garai được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 73 ngày 18 tháng 1 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ.

Điều đáng ghi nhất trong bảy trăm năm ấy không nằm ở các mốc trên, mà nằm ở chỗ cụm tháp chưa từng bị bỏ. Nhiều đền tháp Chăm khác đã thành phế tích; riêng nơi này giữ được liên tục cả ba thứ: công trình, đồ thờ và người hành lễ. Bia ký chữ Chăm cổ khắc trên trụ cửa tháp chính là tư liệu gốc còn tại chỗ, cho biết về lễ nghi và cách tổ chức việc thờ tự thời bấy giờ.

Ba Nếp Tháp Và Lối Xây Gạch

Một cụm đền tháp Chăm đầy đủ gồm nhiều nếp có chức năng khác nhau, dàn quanh một tháp thờ chính. Ở đồi Trầu còn lại ba nếp, và chính vì còn đủ ba nếp mà nơi này được coi là cụm tháp nguyên vẹn nhất hiện còn.

Tháp chính, tiếng Chăm gọi là Kalan

Mặt bằng vuông 10,5 nhân 10,5 mét, ba tầng mái thu nhỏ dần, trên chóp là khối đá hình linga. Cửa thật mở hướng Đông, ba mặt kia là cửa giả. Đây là nơi đặt pho mukhalinga và bò thần Nandin. Chiều cao thì nguồn ghi vênh nhau: hồ sơ Cục Di sản văn hóa ghi trên 20 mét, một số bản tin ghi 20,5 mét.

Tháp cổng, tiếng Phạn gọi là Gopura

Cao khoảng 10 mét, mặt bằng vuông, mở hai cửa thông nhau theo trục Đông Tây, ba tầng mái có tháp góc. Về hình dáng đây là bản thu nhỏ của tháp chính, đặt phía trước để người hành lễ đi xuyên qua.

Tháp lửa, còn gọi là tháp Nhà

Mặt bằng chữ nhật dài 8 mét rộng 4 mét, cao gần 10 mét, chia hai phòng, mở ba cửa. Mái cong hình lòng thuyền úp, khác hẳn dáng mái tầng của hai nếp kia. Đây là nơi giữ lễ vật và đồ thờ, cũng được xem là nơi thờ thần Lửa.

Phù điêu và tượng thờ

Trên vòm cửa chính là phù điêu thần Shiva sáu tay trong thế múa. Bên trong, trước bệ thờ là tượng bò thần Nandin, vật cưỡi của Shiva. Khu tháp còn tượng Kút, loại bia mộ đá của người Chăm, và bia ký khắc trên trụ cửa.

Về vật liệu, cả ba nếp tháp xây bằng gạch nung, đá chỉ dùng cho trụ cửa, bệ thờ và tượng. Điều giới nghiên cứu chưa dứt tranh luận là lối gắn kết các viên gạch: mặt tường hầu như không thấy mạch vữa, các viên áp sát nhau đến mức khó luồn được một lưỡi dao. Giả thuyết đã nêu gồm dùng nhựa cây dầu rái làm chất kết dính, hoặc mài chập hai mặt gạch rồi nung lại cả khối. Chưa giả thuyết nào được coi là kết luận cuối cùng, và chúng tôi ghi nguyên tình trạng ấy.

Hoa văn trên tháp cũng đáng nói. Chạm khắc không phủ kín bề mặt mà dồn vào vài chỗ: vòm cửa, các trụ ốp, và các tháp góc hình ngọn lửa ở bốn góc mái. Phần lớn thân tháp để trơn, và chính khoảng trơn ấy làm khối tháp nặng và tĩnh.

Thế Đất Và Hướng

Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Phong thủy là một hệ thuật số của vùng Đông Á, người Chăm khi chọn đồi dựng tháp không dùng nó. Việc cửa thật của tháp chính mở về hướng Đông là theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp Ấn Độ, trong đó hướng Đông là hướng mặt trời mọc, hướng mà ánh sáng đầu ngày phải rọi tới bệ thờ. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều chép trong bia ký và cũng không phải điều người dựng tháp tính tới.

Thế đất và hướng

Đọc theo lối cũ của người Việt thì trước hết là thế đứng trên cao. Cụm tháp đặt trên đỉnh đồi Trầu, một quả đồi thấp nhô lên giữa vùng đồng khô, bốn bề trống trải. Trong phép xem đất, đặt công trình thờ tự lên chỗ cao nhất của một vùng là lối độc tôn, lấy chính công trình làm điểm cao thay cho ngọn núi. Lối này khác hẳn thế tựa sơn mà đền miếu Bắc Bộ vẫn chuộng, nơi công trình nép vào chân núi để lấy núi làm chỗ dựa.

Thứ hai là hướng Đông. Trong phép cũ của người Việt, hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với khí sinh phát của buổi sáng, nên đền miếu quay về hướng ấy được coi là đón được khí lên. Kiến trúc đền tháp Ấn Độ chọn hướng Đông vì một lý hoàn toàn khác: ánh sáng đầu ngày phải chạm được vào linga. Hai hệ đi tới cùng một hướng bằng hai đường lý giải riêng, và chỗ đáng học nằm đúng ở sự khác nhau ấy chứ không nằm ở sự trùng nhau.

Thứ ba là quan hệ với nước. Đọc theo phép xem đất của người Việt, một cuộc đất khô cằn, ít cây, xa nguồn nước lớn thường bị chê là khí tán. Nhưng vị được thờ trong tháp lại chính là vị gắn với công đắp đập dẫn nước. Người Chăm không đặt tháp cạnh nước, họ đặt trong tháp cái người đã làm ra nước cho cả vùng.

Cuối cùng là ngọn núi bên trong. Người Việt đọc thế đất từ ngoài vào, lấy núi thật làm chỗ dựa cho công trình. Kiến trúc Ấn Độ Giáo làm ngược lại: khối tháp ba tầng mái thu nhỏ dần lên chóp chính là hình ảnh núi thiêng Meru, tức công trình dựng lại ngọn núi ngay trong mình nó. Hiểu điểm này thì thôi không còn thấy lạ vì sao tháp Chăm không cần một dãy núi sau lưng.

Lễ Katê Và Nghi Thức Mở Cửa Tháp

Katê là lễ lớn nhất trong năm của người Chăm theo đạo Bàlamôn, mở vào đầu tháng Bảy theo lịch Chăm, thường rơi vào khoảng tháng Chín tháng Mười dương lịch. Lễ hướng về các vị thần nam và các vị vua đã được thần hóa, trong đó Po Klong Garai là một vị chính. Các đền tháp mở Katê cùng dịp gồm Po Klong Garai, Po Rome, Po Nagar ở vùng Ninh Thuận cũ và Po Sah Inư ở vùng Bình Thuận cũ.

Chức sắc chủ trì gồm Cả sư, tiếng Chăm gọi là Po Adhia; thầy kéo đàn kanhi hát tụng công đức gọi là Kadhar; bà Bóng gọi là Muk Pajau; ông Từ giữ tháp gọi là Camnei. Mỗi người một phần việc, không ai làm thay ai được.

Trình tự các chặng chính của lễ Katê tại đền tháp. Nguồn: Theo hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội Katê và các bản mô tả nghi lễ đã công bố..
Chặng lễNơi diễn raNội dung
Rước y trangTừ nơi cất giữ lên đồi thápRước bộ y phục của thần về tới chân tháp, có trống ghi năng và kèn saranai đi cùng.
Mở cửa thápTrước cửa tháp chínhCả sư làm lễ xin phép thần cho mở cửa. Cửa tháp chính đóng quanh năm, chỉ mở vào dịp lễ.
Tắm tượng thầnTrong lòng tháp chínhDội nước thánh pha trầm hương lên pho mukhalinga. Nước chảy theo rãnh bệ yoni ra ngoài được người dự lễ xin về.
Mặc y phục cho thầnTrong lòng tháp chínhKhoác bộ y trang vừa rước lên cho pho tượng, theo nhịp hát của thầy Kadhar kể công đức vị được thờ.
Đại lễ và múa dângSân trước tháp chínhDâng lễ vật, hát tụng, múa cầu an. Đây là phần đông người nhất và mở cho khách ngoài cộng đồng cùng xem.
Katê làng và Katê nhàLàng Chăm và từng gia đìnhSau ba ngày ở đền tháp, lễ chuyển về nhà Cả sư, về làng, rồi về từng gia đình.

Xin lưu ý một chỗ hay bị gộp. Katê là lễ của người Chăm Bàlamôn, tức nhánh theo Ấn Độ Giáo bản địa hóa, còn Ramưwan là lễ của người Chăm Bàni, tức nhánh theo Hồi Giáo bản địa hóa. Hai lễ khác nhau cả về đối tượng thờ, chức sắc chủ trì lẫn lịch. Gọi Katê là tết của toàn thể người Chăm là cách nói gọn nhưng không chính xác.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đồi Trầu, phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang Tháp Chàm cũ, tỉnh Khánh Hòa
Đường tới
Nằm trên đồi Trầu, phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang Tháp Chàm cũ, tỉnh Khánh Hòa, sát trục quốc lộ đi Đà Lạt và cách trung tâm Phan Rang chừng bảy cây số về phía tây bắc.
Toạ độ
11.5836, 108.9436
Khi tới nơi

Đây là đền tháp đang được hành lễ chứ không phải phế tích, nên lệ của người Chăm là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và bỏ giày trước khi vào lòng tháp chính, không sờ tay lên pho mukhalinga, lên tượng bò Nandin và lên bia ký ở trụ cửa, không trèo lên thân tháp. Trong ba ngày Katê, phần nghi lễ trong lòng tháp do chức sắc chủ trì, khách ngoài cộng đồng đứng ngoài xem theo hướng dẫn của người trông coi.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Tháp Po Klong Garai thờ ai

Thờ vua Po Klong Garai, một vị vua Chăm được đời sau thần hóa và thờ trong hình của thần Shiva. Pho tượng thờ là một mukhalinga, tức khối linga có gắn đầu và cổ của vị vua. Đây là đền tháp Ấn Độ Giáo của người Chăm, quen gọi là Bàlamôn Chăm, không phải chùa Phật.

Tháp Po Klong Garai xây năm nào

Cụm tháp được dựng vào cuối thế kỷ 13 sang đầu thế kỷ 14, dưới đời vua Jaya Simhavarman III. Hồ sơ di tích cho biết tháp dựng chồng lên nền móng một công trình sớm hơn khoảng thế kỷ 11, nghĩa là đồi Trầu đã là đất thờ tự từ trước đó.

Vì sao gọi là cụm tháp Chăm nguyên vẹn nhất

Vì nơi này còn đủ ba nếp tháp và cả ba đều còn mái: tháp chính, tháp cổng và tháp lửa. Phần lớn các cụm tháp Chăm khác đã mất một hoặc nhiều nếp. Ngoài công trình, nơi đây còn giữ được liên tục cả đồ thờ lẫn người hành lễ, điều mà các phế tích không có.

Lễ Katê ở tháp Po Klong Garai diễn ra khi nào

Vào đầu tháng Bảy theo lịch Chăm, thường rơi vào khoảng tháng Chín tháng Mười dương lịch. Ba ngày đầu diễn ra tại đền tháp với các chặng rước y trang, mở cửa tháp, tắm tượng, mặc y phục và đại lễ, sau đó lễ chuyển về nhà Cả sư, về làng rồi về từng gia đình.

Katê và Ramưwan có phải một lễ không

Không. Katê là lễ của người Chăm theo đạo Bàlamôn, tức Ấn Độ Giáo bản địa hóa, tổ chức tại các đền tháp. Ramưwan là tháng lễ của người Chăm theo đạo Bàni, tức Hồi Giáo bản địa hóa, tổ chức tại thánh đường và tại nhà. Hai lễ khác nhau cả về đối tượng thờ, chức sắc chủ trì lẫn lịch.

Đọc Tiếp