Bước qua cửa hang, quý vị đổi hẳn một thứ không khí: bên ngoài là nắng và bụi đường, bên trong là hơi đá mát và mùi hương đặc. Mắt phải mất một lúc mới quen bóng tối, rồi vòm hang hiện ra, cao và rộng hơn cái cửa vừa lách qua rất nhiều. Trên vòm là những chùm nhũ đá lô nhô; dọc vách, nhiều khối nhũ nhô ra vừa đúng tầm thành bệ thờ. Chính giữa hang là một pho tượng Phật A Di Đà cao hơn ba mét.
Đó là điều làm ngôi chùa này khác các chùa khác: tam bảo không nằm trong một toà nhà mà nằm trong lòng núi. Tên chữ của chùa là Kim Sơn tự, nghĩa là chùa Núi Vàng; dân trong vùng gọi gọn là chùa Hang; còn trong thơ văn và văn bia thì chỗ này mang tên Tiên Lữ Phật động.

壹Ba Tên Gọi Và Truyền Thuyết Động Tiên Lữ
Ba cái tên của nơi này thuộc ba lớp khác nhau. Kim Sơn tự là tên chữ, thuộc lớp văn bản, nghĩa là chùa Núi Vàng. Chùa Hang là tên dân gian, gọi theo cái đặc điểm ai cũng thấy ngay. Tiên Lữ Phật động là tên gắn với truyền thuyết về động, và cũng là tên xuất hiện trong các bài thơ khắc trên vách đá.
Chùa theo Phật Giáo Bắc Tông, tức dòng Đại Thừa truyền từ phương bắc xuống, dòng chiếm phần lớn chùa chiền Bắc Bộ. Hệ tượng trong hang bày theo lối ấy: trung tâm là Phật A Di Đà, vị Phật của cõi Cực Lạc, bên cạnh có Bồ Tát Quán Thế Âm, Phật Dược Sư và tượng Hộ pháp.
Việc đặt chùa vào hang đá không phải chuyện riêng của nơi này. Trong nhà Phật, hang đá là chỗ tu hành rất cũ, có trước cả chùa xây; còn trong cách nghĩ của người Việt, một hang sâu trong núi vốn đã là chỗ thiêng từ trước khi đạo Phật tới. Chữ động trong tên Tiên Lữ Phật động nói đúng chỗ gặp nhau ấy.
Truyền thuyết về tên Tiên Lữ kể rằng các vị tiên thường xuống đây dạo chơi và đánh cờ. Nàng tiên thứ bảy vì yêu một người phàm mà trái luật tiên giới, bị đẩy vào hang và không được về thiên cung nữa. Hai chữ Tiên Lữ, nghĩa là bạn tiên hoặc bầu bạn của tiên, đến từ đó.
Một truyền thuyết khác giải thích việc lập chùa: theo tài liệu lưu truyền, chuyện bắt đầu từ một giấc mộng của vua Lý Thánh Tông, sau đó Nguyên phi Ỷ Lan đi xem đất vùng này rồi cho lập chùa thờ Phật trong hang, đặt tên là Núi Vàng. Cả hai truyền thuyết đều thuộc lớp truyền tụng, không phải sử biên niên; giá trị của chúng là cho thấy chỗ này đã được coi là đất thiêng từ rất sớm.
Chỗ hay nhầm thứ nhất nằm ở chữ Tiên. Vì nơi này mang tên Tiên Lữ và vì truyền thuyết nàng tiên thứ bảy được kể rất nhiều, không ít người hiểu đây là chỗ thờ tiên, tức thuộc lối tín ngưỡng thờ các vị tiên của Đạo Giáo. Theo tư liệu thì không phải: đây là một ngôi chùa Phật Giáo Bắc Tông, trung tâm thờ tự là ban Phật, và hai chữ Tiên Lữ chỉ là tên của cái động chứ không phải tên của vị được thờ. Trong văn bia khắc trên vách, các tác giả cũng dùng Tiên Lữ như một địa danh thắng cảnh.
貳Niên Đại Và Những Nét Chữ Trên Vách
Chùa Hang vẫn được gọi là ngôi chùa nghìn năm tuổi, với niên đại khởi dựng đặt vào thời Lý, thế kỷ 11. Quý vị nên biết con số ấy đến từ đâu, và cái gì ở đây thì có niên đại chắc chắn.
Niên đại thế kỷ 11 đến từ lớp truyền thuyết về giấc mộng của vua Lý Thánh Tông và việc Nguyên phi Ỷ Lan cho lập chùa, chứ không đến từ một bộ sử biên niên đương thời hay một tấm bia nào. Thứ có niên đại chắc chắn nhất ở đây là hai tấm bia khắc thẳng vào vách hang, thuộc cuối thế kỷ 15, muộn hơn niên đại truyền thuyết gần bốn trăm năm.
Nói như vậy không phải để bác cái tuổi của chùa. Một cái hang có thể được dùng làm chỗ thờ từ rất lâu mà không để lại chữ nào, vì thờ trong hang thì không cần xây, và không xây thì không có cấu kiện để định tuổi. Chỉ xin quý vị phân biệt niên đại truyền thuyết với niên đại khảo được: ở đây một bên là thế kỷ 11, một bên là thế kỷ 15.
- Thế kỷ 11Niên đại theo truyền thuyếtThời Lý. Tài liệu lưu truyền gắn việc lập chùa trong hang với giấc mộng của vua Lý Thánh Tông và việc Nguyên phi Ỷ Lan đi xem đất, rồi đặt tên chùa là Núi Vàng.
- Cuối thế kỷ 15Bia khắc trên vách hangHai tấm bia được khắc thẳng vào vách đá trong hang, mang các bài thơ của Đặng Nghiêm và của Vũ Quỳnh. Đây là lớp hiện vật có niên đại sớm nhất còn xác định được tại chỗ.
- 1831Thơ đề của Cao Bá QuátTheo tài liệu nghiên cứu Phật học, trong số thơ phú viết về động này có tác phẩm của Cao Bá Quát đề năm 1831, nối tiếp mạch thơ đề vịnh từ thời Lê Sơ tới thời Nguyễn.
- 1999Xếp hạng di tích quốc giaChùa Hang được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp quốc gia ngày 26 tháng 2 năm 1999.
- 2004Viện Nghiên cứu Hán Nôm khảo sát hai tấm biaHai tấm bia trên vách hang được đọc và công bố; trước đó chúng đã tồn tại từ lâu nhưng chưa được nghiên cứu.
- Những năm gần đâyMở rộng khu chùa ngoài hangKhu di tích được quy hoạch thành nhiều khu, gồm khu bảo tồn hang động và núi đá, một trục công trình chính ngoài hang, khu thiền viện và sân hội.
Hai tấm bia ấy được Viện Nghiên cứu Hán Nôm đọc và công bố, chi tiết từng tấm nêu trong bảng ở mục kiến trúc. Bài thơ chữ Nôm trên tấm bia bên trái được đánh giá là trường hợp ít gặp, vì thơ Nôm thời Hồng Đức khắc trên đá còn lại rất thưa.
Chỗ nguồn vênh nhau nằm ở niên đại và ở tên gọi tấm bia. Một bài viết trên tạp chí nghiên cứu Phật học gọi tấm bia là Tiên Lữ Động Lâu và ghi niên đại năm 1487; trong khi tư liệu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đọc niên đại là Hồng Đức năm Đinh Tỵ, tức 1497. Kích thước cũng vênh: một bản ghi tấm bia bên trái cao 80 rộng 60 xăng ti mét, bản khác ghi 60 nhân 60. Chúng tôi ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số, và lưu ý cả hai niên đại đều nằm trong niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông, nên chỗ vênh là về năm chứ không về thời.
參Lòng Hang, Hệ Thạch Nhũ Và Các Ban Thờ
Ở đây phải đổi cách nói: phần đáng kể của kiến trúc chùa không do người làm mà do đá làm. Người chỉ đặt tượng, đặt đồ thờ và đặt lối đi vào một khoảng trống có sẵn. Càng vào sâu, vòm hang càng mở rộng chứ không thắt lại; nhiều cột đá lớn chống lên vòm, còn vách hang có những khối nhũ nhô ra, và chính các bệ tự nhiên ấy được dùng làm bệ thờ.
Một chi tiết đáng để ý: hang không ngột. Tài liệu về di tích cho biết trong hang có các ngách thông gió và cửa thông cả phía trước phía sau, nên vào sâu không khí vẫn lưu thông. Đó là lý do một cái hang có thể dùng làm chỗ thờ lâu dài chứ không chỉ là chỗ ẩn tạm.
Vòm cao, trên là các chùm nhũ đá lô nhô, dưới là những cột đá lớn chống lên vòm. Các khối nhũ trên vách mang nhiều hình thù lạ.
Pho tượng chính, cao hơn ba mét, đặt ở chính giữa lòng hang. Phía trước có một pho tượng Phật nhỏ hơn, đầu đội lá sen.
Ngoài ban chính còn có tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, tượng Phật Dược Sư và tượng Hộ pháp, bày trên các bệ nhũ đá dọc vách.
Hai tấm bia khắc thẳng vào đá hai bên vách, mang thơ thời Hồng Đức. Đây là hiện vật không thể di dời, vì nó chính là vách núi.
Một trục công trình xây mới gồm toà tam bảo, nhà thờ Tổ, giảng đường, bảo tháp, lầu chuông và lầu trống, cùng khu thiền viện và sân hội.
| Tấm bia | Bài khắc | Tác giả và niên đại |
|---|---|---|
| Bia vách bên trái | Tiên Lữ động lưu đề, thơ chữ Hán ngũ ngôn tứ tuyệt | Đặng Nghiêm, đề niên hiệu Hồng Đức năm Đinh Tỵ tức 1497 |
| Bia vách bên trái | Một bài thơ chữ Nôm thất ngôn tứ tuyệt đi kèm | Đặng Nghiêm, cùng tấm bia trên, trường hợp thơ Nôm khắc đá ít gặp |
| Bia vách bên phải | Du Tiên Lữ động tác, thơ chữ Hán | Vũ Quỳnh, tác gia thời Lê Sơ, bia không ghi niên đại |
Chỗ đáng nghĩ nhất ở ngôi chùa này là quan hệ giữa phần đá và phần xây. Các công trình mới dựng ngoài cửa hang làm đủ chức năng của một ngôi chùa, nhưng cái khiến người ta đi đường xa tới vẫn nằm trong hang: toà nhà không thay được cái hang, nó chỉ đứng ngoài mà dẫn vào.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Riêng ở đây cần tách rõ hai thứ: tên ba ngọn núi là tư liệu, có trong các tài liệu về di tích; còn cách đọc ba cái tên ấy là kiến giải của chúng tôi. Quý vị đừng lẫn hai phần.
Bắt đầu từ chỗ lạ nhất: ba ngọn núi đá ở đây mang tên Huyền Vũ ở giữa, Thanh Long bên trái và Bạch Hổ bên phải. Ba tên ấy vốn là thuật ngữ của phép xem đất, chỉ ba trong bốn phương vị quanh một huyệt. Việc chúng thành tên riêng của ba khối núi thật là điều ít gặp: thường thì người xem đất mượn tên để gọi vai của các thế núi, chứ tên không dính vào núi mà thành địa danh. Ở đây thì dính, và điều đó cho biết chỗ này đã được đọc bằng con mắt phong thủy từ rất lâu.
Về hình thế, ba ngọn núi nổi lẻ giữa vùng thấp, nối nhau bằng một dải yên ngựa dài chừng một nghìn mét, chân núi chừng 2,7 hecta. Trong phép cũ, một dải yên ngựa nối các đỉnh được đọc là mạch: ba khối đá không rời nhau mà thuộc cùng một dải. Ngọn giữa cao và vững hơn hai ngọn bên, giữ vai chủ, còn hai ngọn bên giữ vai tả hữu che hai sườn.
Về hướng và nước, phía trước chùa là sông Cầu, phía sau là dãy núi xanh trùng điệp. Đây gần đúng lối chuẩn mực mà sách vở gọi là tựa sơn hướng thủy, tức lưng dựa núi mặt trông nước, thế mà đền chùa vùng châu thổ hầu như không có được vì thiếu núi để tựa.
Cuối cùng là cái hang. Trong phép xem đất, chỗ đáng tìm nhất trên một dải núi là chỗ khí tụ, và một hang rỗng trong lòng đá là hình ảnh gần nhất với ý ấy: một khoảng trống được đá bọc kín, chỉ để hở đường vào. Đặt ban thờ vào chính khoảng trống ấy là đặt vào giữa lòng thế đất chứ không đặt bên cạnh nó. Đây là chỗ khác căn bản giữa chùa Hang và một ngôi chùa xây: chùa xây thì dựng nhà lên trên đất, còn chùa này thì đi vào bên trong đất.
伍Lễ Hội Tháng Giêng, Lễ Phật Đản Và Lễ Vu Lan
Nhịp lễ ở đây gồm hai phần: lễ hội riêng của chùa vào tháng Giêng, và các ngày lễ theo lệ chung của Phật Giáo Bắc Tông, trong đó hai ngày trọng nhất là lễ Phật Đản rằm tháng Tư và lễ Vu Lan rằm tháng Bảy. Tất cả tính theo âm lịch.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng nguyên | Lễ đầu năm, tụng kinh cầu an. Cũng là dịp mở đầu chuỗi ngày đông người nhất của chùa trong năm. |
| Từ 19 tới 21 tháng Giêng | Lễ hội chùa Hang | Lễ hội riêng của chùa, có dâng hương, rước kiệu và các trò chơi dân gian của các làng quanh vùng. Ngày chính thì nguồn ghi vênh nhau, có nguồn nêu cả ba ngày, có nguồn chỉ nêu ngày 20. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Phật Đản | Ngày kỷ niệm Đức Phật Thích Ca đản sinh, lễ lớn nhất trong năm của Phật Giáo Bắc Tông. Nghi thức gồm tắm Phật, tụng niệm và thuyết giảng. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ và cầu siêu cho người đã mất, gắn với kinh Vu Lan Bồn. Đây là dịp người trong vùng về chùa đông thứ hai sau tháng Giêng. |
| Mùng 8 tháng Chạp | Lễ Phật Thành Đạo | Ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo, theo lệ chung của nhà chùa Bắc Tông. |
Hai ngày rằm tháng Tư và rằm tháng Bảy ở một ngôi chùa hang có cái khác so với chùa xây, và cái khác ấy thuộc về chỗ chứa người. Lòng hang dù mở rộng vào sâu vẫn không phải một chính điện kê đủ chỗ ngồi, nên phần lớn nghi thức đông người diễn ra ở khu công trình và sân ngoài cửa hang, còn trong hang thì giữ phần dâng hương và tụng niệm. Đi vào hai dịp ấy, quý vị sẽ thấy rõ cách phân việc giữa phần đá và phần xây.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phường Chùa Hang cũ, nay là phường Linh Sơn, tỉnh Thái Nguyên
- Đường tới
- Chùa nằm ở phường Chùa Hang cũ, nay là phường Linh Sơn, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm Thái Nguyên chừng ba cây số về phía bắc, bên tuyến đường đi Lạng Sơn. Ba ngọn núi đá nổi lẻ nên nhìn thấy từ xa.
- Toạ độ
- 21.6139, 105.8617
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào hang, đi nhẹ nói khẽ. Trong hang có mấy lệ riêng của chính chỗ này: không chạm tay vào các khối thạch nhũ và các bệ nhũ đá đang dùng làm bệ thờ, không cắm hương lên nhũ đá, và tuyệt đối không viết hay khắc lên vách vì hai tấm bia cổ nằm ngay trên vách ấy. Lối trong hang có chỗ tối và trơn.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Hang Thái Nguyên thờ ai
Chùa theo Phật Giáo Bắc Tông. Trung tâm thờ tự là pho tượng Phật A Di Đà cao hơn ba mét giữa lòng hang; trong hang còn có tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, tượng Phật Dược Sư và tượng Hộ pháp, bày trên các bệ nhũ đá dọc vách.
Chùa Hang còn có tên gọi nào khác
Tên chữ là Kim Sơn tự, nghĩa là chùa Núi Vàng. Trong thơ văn và văn bia, nơi này mang tên Tiên Lữ Phật động hoặc động Tiên Lữ. Chùa Hang là tên dân gian, gọi theo việc tam bảo đặt trong lòng một hang đá.
Tên Tiên Lữ nghĩa là gì và có phải chùa thờ tiên không
Tiên Lữ nghĩa là bạn tiên, đến từ truyền thuyết kể các vị tiên xuống đây dạo chơi đánh cờ, trong đó nàng tiên thứ bảy vì yêu người phàm mà bị đẩy vào hang. Đây chỉ là tên của cái động. Chùa không thờ tiên mà thờ Phật theo lối Phật Giáo Bắc Tông, và trong văn bia thì Tiên Lữ được dùng như một địa danh thắng cảnh.
Chùa Hang có từ bao giờ
Niên đại thường nêu là thời Lý, thế kỷ 11, dựa trên truyền thuyết về giấc mộng của vua Lý Thánh Tông và việc Nguyên phi Ỷ Lan cho lập chùa, chứ không dựa trên sử biên niên hay bia ký. Hiện vật có niên đại sớm nhất còn xác định được là hai tấm bia khắc trên vách hang, thuộc cuối thế kỷ 15, niên hiệu Hồng Đức.
Trong hang chùa Hang có bia đá gì
Có hai tấm bia khắc thẳng vào vách. Tấm bên trái mang bài thơ chữ Hán Tiên Lữ động lưu đề và một bài thơ chữ Nôm đi kèm, tác giả Đặng Nghiêm, đề niên hiệu Hồng Đức năm Đinh Tỵ tức 1497. Tấm bên phải mang bài chữ Hán Du Tiên Lữ động tác của Vũ Quỳnh. Có nguồn ghi niên đại 1487, chỗ vênh này đã nêu trong bài.