Đi trên quốc lộ 3 về phía tây bắc trung tâm Thái Nguyên, quý vị đang qua một vùng đồng ruộng bằng phẳng thì bỗng thấy một dải núi đá dựng đứng nhô lên ngay bên đường, thành núi nhấp nhô chia thành nhiều ngọn. Dưới chân dải núi ấy, nép trong tán cổ thụ, là một cụm đền xếp cao dần theo sườn: dưới thấp một toà, lên giữa một toà, lên cao nữa lại một toà.
Dải núi ấy tên là núi Đuổm, sách cũ chép là Điểm Sơn, và cụm đền dưới chân núi thờ Dương Tự Minh, thủ lĩnh phủ Phú Lương thời Lý, một người Tày mà dân trong vùng quen gọi là Đức Thánh Đuổm. Đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, tức thờ một người có thật như thờ thần; điều đáng chú ý ở đây là vị nhân thần được thờ vốn là người Tày, và đền nằm giữa vùng cư trú lâu đời của người Tày và người Nùng.

壹Đức Thánh Đuổm Và Lối Thờ Nhân Thần
Chữ đền ở đây dùng đúng nghĩa của nó: nơi thờ một người thật đã được tôn làm thần, khác với chùa của nhà Phật và khác với phủ của lối thờ Mẫu. Vị được thờ là Dương Tự Minh, sinh trưởng ở làng Quan Triều thuộc phủ Phú Lương, và tên gọi dân gian Đức Thánh Đuổm gắn ông với chính dải núi này.
Hai chữ Hán ở đầu trang này là Điểm Sơn, tên chữ của dải núi theo sách địa chí thời Nguyễn, thư viện dùng lại chứ không chép từ một tấm hoành phi trong đền. Riêng tên Đuổm là tên tại chỗ, không phải chữ Hán.
Lối thờ nhân thần của người Việt có một nếp riêng. Người được thờ không đổi thành một vị thần của trời mà vẫn giữ nguyên lai lịch làm người: vẫn có quê, có cha mẹ, có vợ, có chỗ ở cũ. Việc thờ vì thế thường kéo theo cả thân quyến của vị ấy vào ban thờ, và đó là lý do một cụm đền thờ nhân thần thường có nhiều toà.
Khi đã thành thần, vị ấy nhận thêm một danh hiệu theo lối phong thần. Dương Tự Minh được tôn với danh hiệu Cao Sơn Quý Minh, nghĩa gói trong bốn chữ: núi cao và sáng quý. Danh hiệu ấy nối ông với dải núi, và cũng chính vì thế mà lâu ngày người ta dễ tưởng đây là một vị thần núi. Theo tư liệu địa phương, trên đất Thái Nguyên có tới hơn một trăm nơi thờ ông, gồm cả đền và đình làng; đền Đuổm là ngôi đứng đầu trong hệ thống ấy.
Về thân thế, các tài liệu thống nhất ở mấy điểm: Dương Tự Minh là người Tày, giữ việc coi phủ Phú Lương dưới triều Lý, và là người duy nhất trong sử được gả công chúa hai lần, trước là công chúa Diên Bình, sau là công chúa Thiều Dung, nên mang danh phò mã.
Niên đại hai lần gả công chúa thì các tài liệu phổ thông ghi vênh nhau khá nặng, có bản chép ra những con số không thể đúng vì nằm hẳn ngoài khung thời gian triều Lý. Chưa tra được bản sử biên niên nào để nói dứt điểm, nên chúng tôi chỉ ghi theo đời vua: lần thứ nhất gắn với đời Lý Nhân Tông, lần thứ hai gắn với đời Lý Anh Tông, và tài liệu địa phương cho biết ông giữ việc qua ba đời vua nhà Lý.
Chỗ hay hiểu lầm ở đây nằm trong chính cái tên. Vì đền mang tên một dải núi, vì danh hiệu của vị được thờ là Cao Sơn Quý Minh có chữ núi cao, và vì toà trên cao nhất trong cụm đền hiện thờ Mẫu, nhiều người đến lễ vẫn hiểu đây là nơi thờ một vị thần núi, tức một vị thiên thần không có gốc là người.
Theo tư liệu thì không phải vậy. Dương Tự Minh là một người có thật, có quê quán và có chức việc được ghi trong tài liệu, và cụm đền này thuộc lối thờ nhân thần. Chữ núi cao trong danh hiệu là chữ của phép phong thần, đặt sau khi ông đã mất. Việc trong cùng khuôn viên có thêm ban thờ Mẫu là nếp thờ tự nhiều lớp rất quen của người Việt.
貳Niên Đại Và Các Lần Tu Sửa
Con số được nhắc nhiều nhất về ngôi đền này là năm 1180, đời Lý Cao Tông, và từ đó người ta tính ra đền gần tám trăm năm mươi tuổi. Quý vị nên biết con số ấy đứng trên nền nào.
Đây là chỗ nguồn vênh nhau rõ nhất, xin nói thẳng. Tư liệu địa phương và phần lớn bài giới thiệu di tích đều ghi đền dựng năm 1180. Ở hướng khác, một bài trên báo Nhân Dân năm 2025 dẫn lời nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Bình cho biết chính sử, sắc phong và các bộ địa chí đều không chép rằng đền dựng năm 1180. Hai luồng ý kiến chưa gặp nhau và chúng tôi ghi cả hai.
Có một việc các nguồn thống nhất: những gì đang đứng trên mặt đất hôm nay đều là đồ mới. Tới năm 1980 di tích còn là công trình tranh tre nứa lá, và từ đó tới nay đền đã qua chín lần tu sửa, đợt khởi công đầu năm 2025 là lần thứ mười. Về năm dựng cổng cũng có hai cách ghi: một bài báo nêu cổng tam quan xây năm 1993, còn bài trên báo Nhân Dân cho biết cổng và lầu chuông dựng năm 1996 và 1998. Lớp niên đại của kiến trúc và lớp niên đại của việc thờ tự ở đây là hai lớp rất cách nhau.
- Thế kỷ 12Dương Tự Minh giữ phủ Phú LươngÔng coi việc ở phủ Phú Lương dưới triều Lý và được gả công chúa hai lần, trước là công chúa Diên Bình, sau là công chúa Thiều Dung.
- 1180Niên đại khởi dựng theo tư liệu địa phươngĐời Lý Cao Tông. Đây là con số được nhắc nhiều nhất, nhưng có ý kiến nghiên cứu cho biết chính sử và sắc phong không chép mốc này.
- Thế kỷ 19Điểm Sơn vào sách địa chíĐại Nam nhất thống chí xếp Điểm Sơn, tức núi Đuổm, vào hàng danh thắng đất Thái Nguyên và ghi trên đỉnh cùng sườn núi đều có đền thờ.
- 1980Trước đợt dựng lạiTheo tài liệu về di tích, tới năm này công trình còn là tranh tre nứa lá; bộ mặt kiến trúc hiện nay hình thành từ các đợt tu sửa sau đó.
- 1993Xếp hạng di tích quốc giaCụm đền và núi Đuổm được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp quốc gia. Cổng tam quan và lầu chuông cũng dựng trong thập niên này, năm cụ thể các nguồn ghi khác nhau.
- 2017Lễ hội vào danh mục di sản quốc giaLễ hội đền Đuổm được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ký ngày 23 tháng 1 năm 2017.
- 2025Đợt tu bổ thứ mườiĐợt tu bổ cả cụm đền khởi công đầu năm 2025, gồm ba toà đền, đình Niêng, lầu chuông, lầu trống và cổng tam quan.
參Cụm Ba Đền Theo Thế Tam Cấp
Điều làm cụm đền này khác đền miếu đồng bằng là nó không dàn theo một trục ngang trên đất phẳng mà xếp theo tam cấp: ba toà đặt ở ba độ cao khác nhau trên sườn núi. Cách bày ấy buộc người lễ phải leo, và mỗi toà lại có một tầm nhìn riêng ra đồng ruộng phía trước.
Cửa vào ở chỗ thấp nhất, mở ra phía quốc lộ. Cổng cũ dựng thập niên 1990; đợt tu bổ năm 2025 làm lại theo lối hai tầng tám mái.
Hai công trình nhỏ ở lớp ngoài cùng của cụm đền, dựng cùng lớp niên đại với cổng.
Toà thấp nhất. Các tài liệu đều cho biết đây là nơi thờ hai vị công chúa, tức hai phu nhân của Dương Tự Minh.
Toà giữa, thờ chính Dương Tự Minh, là trung tâm thờ tự của cả cụm và là nơi diễn ra phần đại tế ngày chính hội.
Toà cao nhất, trên sườn núi. Vị được thờ ở toà này các nguồn ghi khác nhau, chi tiết nêu dưới đây.
Một hạng mục riêng trong quần thể, được nhắc cùng ba toà đền trong đợt tu bổ năm 2025.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin ghi rõ. Về vị được thờ ở đền Thượng, một bài giới thiệu di tích ghi là thân mẫu của Dương Tự Minh; một bản tin phát thanh ghi là cha mẹ ông; còn bản tin trên báo Nhân Dân về đợt tu bổ năm 2025 ghi đền Thượng thờ Mẫu Thượng Ngàn và đền Trung thờ Dương Tự Minh cùng cha mẹ. Chưa tra được bản kiểm kê chính thức nào để nói dứt điểm, nên chúng tôi ghi cả các cách ấy.
Sự vênh này không lạ trong các cụm đền thờ nhân thần. Ban thờ ở các toà phụ thường thay đổi qua các đợt tu sửa, và việc một ban thờ thân quyến chuyển dần thành ban thờ Mẫu là nếp đã gặp ở nhiều nơi khác trong Bắc Bộ.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước khi đọc, xin dẫn một đoạn tư liệu, vì chính nó cho biết người xưa nhìn dải núi này thế nào. Đại Nam nhất thống chí, bộ địa chí biên soạn thời Nguyễn, xếp Điểm Sơn vào danh thắng đất Thái Nguyên và tả rằng phía trước núi có phiến đá chỗ lên chỗ xuống như con rồng ngóc đầu, phía dưới có hai phiến đá lớn như hình hai con voi chầu vào, còn đỉnh và sườn núi đều có đền thờ. Cách tả ấy là cách tả của người xem đất: đá được đọc thành hình con vật, hình con vật được đọc thành thế.
Điều rõ nhất về thế đất ở đây là một khối núi đá nổi lẻ giữa đồng. Dải núi Đuổm gồm sáu ngọn nhấp nhô, dựng đứng, nổi giữa vùng ruộng bằng phẳng của đất Động Đạt cũ. Trong phép xem đất, một khối cao nổi lẻ giữa chỗ phẳng được coi là chỗ tụ, vì khí không có đường tán ra bốn phía. Ở đồng bằng châu thổ người ta phải lấy gò đất hoặc mặt nước thay chỗ dựa, còn ở đây chỗ dựa là đá thật, cao và liền khối.
Về bốn phương, tài liệu địa phương quen mô tả núi Đuổm theo bộ bốn yếu tố của sách vở: trước có Chu Tước, sau có Huyền Vũ, tả có Thanh Long, hữu có Bạch Hổ. Xin nói rõ đây là cách đọc đã thành công thức, không phải tên riêng của từng ngọn núi. Điều đọc được chắc hơn là thế tiền lộ hậu sơn: mặt đền mở ra đường và ra đồng, lưng dựa núi đá, còn dòng sông Đu chảy quanh vùng làm phần nước của thế đất. Nước không nằm ngay trước cửa như minh đường của các đền ven hồ mà vòng ở xa, và trong phép cũ lối nước vòng xa ấy được xem là nước giữ vùng.
Cuối cùng là cách xếp ba toà theo tam cấp. Đọc theo lối cũ, một cụm thờ tự dựng theo cấp bậc thì khí đi lên theo trục dọc, và thứ tự trước sau của các toà thành thứ tự trên dưới. Ở đây thứ tự ấy khớp với quan hệ trong nhà: dưới thờ hàng phu nhân, giữa thờ chính vị được thờ, trên thờ lớp trên hoặc thờ Mẫu. Nếu ba toà dàn ngang trên một sân như ở các cụm đền đồng bằng thì thứ tự ấy sẽ mất. Thế núi ở đây vì vậy không chỉ cho cụm đền một chỗ dựa, nó còn cho cụm đền một cách sắp thứ bậc.
伍Lễ Mùng Sáu Tháng Giêng Và Bốn Kỳ Lễ Trong Năm
Đền có bốn kỳ lễ trong năm, đều tính theo âm lịch, và kỳ lớn nhất là mùng Sáu tháng Giêng, ngày mà hồ sơ di sản gọi là lễ đản sinh. Chính hội thường kéo qua mùng Bảy và mùng Tám.
| Thời điểm âm lịch | Kỳ lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 6 tháng Giêng | Lễ đản sinh | Chính hội trong năm. Có mộc dục là lễ tắm tượng và bài vị, gia quan là lễ khoác áo mũ, rước lễ vật vào đền rồi đại tế tại đền Trung. |
| Mùng 6 tháng Giêng | Rước đuốc, rước nước, rước đất | Các đám rước mở đầu hội. Rước nước và rước đất mang nghĩa cầu Mẹ đất và Mẹ nước phù hộ cho mùa vụ của cả vùng. |
| Ngày 24 tháng Tư | Lễ hạ điền | Kỳ lễ mở đầu vụ cấy, cầu cho việc đồng ruộng. |
| Mùng 7 tháng Bảy | Lễ thượng điền | Kỳ lễ khi việc cấy đã xong, khép lại chặng đầu của vụ. |
| Ngày 14 tháng Chạp | Lễ tất niên | Kỳ lễ cuối năm của đền, gọn hơn ba kỳ trên. |
Phần hội bên cạnh phần lễ cho thấy rõ đền này đứng trong đời sống của ai. Tài liệu di sản ghi trong hội có dựng cây nêu theo lệ của người Tày, có các lối hát dân gian của vùng trong đó có hát ví và hát sli, lối hát đối đáp gắn với người Nùng, cùng các trò chơi dân gian và việc trưng sản vật của các làng. Đây không phải lễ hội của riêng một cộng đồng: vị được thờ là người Tày, người về lễ gồm cả người Tày, người Nùng và người Kinh trong vùng.
Chỗ đáng chú ý nhất là hai đám rước nước và rước đất cùng hai kỳ lễ hạ điền và thượng điền. Bốn thứ ấy gắn với việc đồng ruộng chứ không gắn với thân thế vị được thờ. Nghĩa là bên dưới lớp thờ nhân thần còn một lớp cũ hơn: lớp cầu mùa của nhà nông, được giữ nguyên và đưa vào khuôn khổ của một ngôi đền thờ người.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Đuổm, ven quốc lộ 3, xã Động Đạt cũ, nay là xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Đường tới
- Đền nằm dưới chân núi Đuổm ngay cạnh quốc lộ 3, thuộc xã Động Đạt cũ, nay là xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm Thái Nguyên chừng hai mươi bốn cây số về phía tây bắc. Dải núi nhìn thấy từ xa.
- Toạ độ
- 21.7106, 105.6631
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các toà trong, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào bài vị và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức. Lối lên đền Trung và đền Thượng là bậc dốc và hẹp, xin quý vị đi một chiều. Ngày mùng Sáu tháng Giêng có nhiều đám rước cắt ngang sân, lệ là nhường đường cho kiệu và đội tế.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Đền Đuổm thờ ai
Thờ Dương Tự Minh, thủ lĩnh phủ Phú Lương thời Lý, một người Tày, dân trong vùng gọi là Đức Thánh Đuổm và tôn với danh hiệu Cao Sơn Quý Minh. Đây là lối thờ nhân thần của người Việt, tức thờ một người có thật như thờ thần. Đền Hạ thờ hai phu nhân của ông, đền Trung thờ chính ông, đền Thượng thì nguồn ghi khác nhau.
Đền Đuổm xây năm nào
Tư liệu địa phương và phần lớn bài giới thiệu di tích ghi đền dựng năm 1180, đời Lý Cao Tông. Ở hướng khác, một bài trên báo Nhân Dân năm 2025 dẫn ý kiến nhà nghiên cứu cho biết chính sử, sắc phong và các bộ địa chí không chép mốc này. Kiến trúc đang đứng hôm nay là đồ mới: tới năm 1980 công trình còn là tranh tre nứa lá.
Đền Đuổm có mấy đền và mỗi đền thờ ai
Có ba toà xếp theo tam cấp trên sườn núi. Đền Hạ thấp nhất thờ hai vị công chúa. Đền Trung ở giữa thờ Dương Tự Minh, là trung tâm thờ tự của cả cụm. Đền Thượng cao nhất thì nguồn ghi vênh nhau, có nơi ghi thờ thân mẫu, có nơi ghi cha mẹ ông, có nơi ghi Mẫu Thượng Ngàn.
Lễ hội đền Đuổm tổ chức ngày nào
Chính hội là mùng Sáu tháng Giêng âm lịch, ngày hồ sơ di sản gọi là lễ đản sinh, thường kéo qua mùng Bảy và mùng Tám. Trong năm đền còn ba kỳ lễ nữa: hạ điền ngày 24 tháng Tư, thượng điền mùng Bảy tháng Bảy và tất niên ngày 14 tháng Chạp. Lễ hội vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017.
Núi Đuổm là núi gì và có mấy ngọn
Là một dải núi đá dựng đứng gồm sáu ngọn nhấp nhô, nổi lẻ giữa vùng đồng ruộng bằng phẳng. Sách Đại Nam nhất thống chí thời Nguyễn chép tên chữ là Điểm Sơn, xếp vào danh thắng đất Thái Nguyên, ghi đỉnh và sườn núi đều có đền thờ, và tả đá trước núi như hình rồng ngóc đầu với hai con voi chầu vào.