VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Dinh Cậu

Long Vương thần miếu, Miếu Dinh Cậu, Thạch Sơn động, Thạch Sơn điện

Ngôi dinh nhỏ dựng trên một mũi đá nhô ra chỗ sông Dương Đông đổ vào biển, nơi thờ tự lâu đời nhất còn lại của dân đi biển Phú Quốc.

Dựng ngôi dinh hiện nay
1937
trên nền một miếu cổ có trước
Bậc đá lên dinh
29 bậc
men theo khối đá ra phía cửa sông
Xếp hạng
Di tích cấp tỉnh
danh lam thắng cảnh cấp tỉnh năm 2012

Đi hết con đường ven biển của Dương Đông, chỗ dòng sông đổ ra biển Tây, quý vị gặp một khối đá lớn nhô hẳn ra mặt nước. Người trên đảo gọi khối đá ấy là Hòn Quy, vì hình nó giống đầu một con rùa đang ngóc lên. Trên khối đá đó, một ngôi dinh nhỏ mái ngói đỏ, bờ mái cong, đứng lệch theo đúng thế đá chứ không đứng trên một mặt bằng được san phẳng. Hai mươi chín bậc đá dẫn lên tới cửa dinh.

Điều làm nơi này khác các dinh miếu khác của người Việt không nằm ở kiến trúc mà nằm ở công dụng. Đây không phải nơi thờ Thành hoàng của một làng, cũng không phải nơi thờ một người có công mở đất. Đây là nơi dân đi biển ghé trước khi ra khơi, và mọi thứ ở đây, từ chỗ đứng của ngôi dinh tới các vị được thờ trong đó, đều xoay quanh việc xin bình an trên mặt nước.

Dinh Cậu
Dinh Cậu. Ảnh: Hoangvantoanajc, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IBà, Cậu Và Thần Của Mặt Nước

Nơi đây thờ Chúa Ngọc Nương Nương ở gian giữa, cùng hai vị Cậu Quý bên phải và Cậu Tài bên trái. Theo tên gọi cũ còn chép trong tư liệu, ngôi dinh này từng được gọi là Long Vương thần miếu, tức miếu thờ thần Long Vương, Thạch Sơn động hoặc Thạch Sơn điện, trước khi gắn biển tên Dinh Cậu trong đợt trùng tu năm 2009.

Cần nói rõ ngay từ đầu vì chỗ này hay bị xếp nhầm, đây là tín ngưỡng dân gian của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Dinh Cậu không phải cơ sở của Đạo Giáo, cũng không phải chùa của nhà Phật, và người trông coi việc thờ là ban khánh tiết của dinh, không phải tăng ni hay đạo sĩ. Chữ dinh ở đây là chữ dân gian phương Nam dùng cho một nơi thờ nhỏ, cùng mạch với chữ miếu, khác chữ đình chỉ nơi thờ Thành hoàng.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, mặt nước là cõi có chủ, và người sống bằng nghề nước phải thưa với chủ ấy trước khi bước vào. Ở phương Nam, cặp thần chủ của nghề nước được gọi gọn là Bà và Cậu, trong đó Bà là vị nữ đứng đầu, mang uy và mang phép, còn Cậu là vị gần người, được coi là ra tay trực tiếp khi thuyền gặp chuyện. Chính vì cái gần ấy mà ngư dân gọi tên Cậu nhiều hơn gọi tên Bà, và ngôi dinh này mang tên Cậu dù chính giữa chánh điện là Bà.

Cặp tên ấy đi vào cả lời ăn tiếng nói. Nghề đi biển và đi sông ở Nam Bộ được gọi là nghề Bà Cậu. Lời thề nặng nhất của người đi biển là lấy chính hai vị ấy ra mà thề, đại ý xin Bà Cậu nhận chìm ghe nếu mình nói dối, và đó là câu người ta chỉ nói khi đã hết cách nói khác. Một tín ngưỡng đi được vào lời thề và vào tên gọi của một nghề thì không còn là chuyện lễ bái riêng lẻ, mà đã thành khung nghĩ của cả một lớp người.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, một nghiên cứu về vị thần chủ trong Dinh Cậu xác định vị đứng giữa chánh điện là Chúa Ngọc Nương Nương, và xếp ngôi dinh này vào hệ thờ Mẫu của người Việt. Chúa Ngọc Nương Nương được các tài liệu coi là dạng đã Việt hoá của Thiên Y A Na, vị nữ thần gốc của người Chăm mà người Việt tiếp nhận trên đường vào Nam rồi thờ như vị che chở cho dân ven biển. Cậu Tài và Cậu Quý được xem là hai con của Bà, có tư liệu ghi danh hiệu Nhị hiền vương Thái tử.

Về chữ Cậu Tài, người trên đảo còn một cách giải thích khác rằng đó là chữ Cầu Tài đọc chệch đi, tức tên gọi vốn là một lời cầu chứ không chỉ là một danh hiệu. Hai cách giải thích ấy chưa được tài liệu nào phân định, nên thư viện ghi cả hai.

Về niên đại của tên gọi, cách gọi nghề Bà Cậu đã có mặt trong tư liệu về Nam Bộ từ khoảng những năm 1895 và 1896, tức tục thờ đã thành nếp trước khi ngôi dinh hiện nay được dựng. Các tài liệu về Phú Quốc cũng nhắc tới sự pha trộn giữa nếp Việt, nếp Hoa và nếp Khmer trên đảo, trong đó lớp Việt là lớp chủ đạo ở dinh này.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, tên là Cậu nhưng giữa chánh điện là Bà. Nhiều người nghe chữ Dinh Cậu rồi hiểu đây là nơi thờ một vị thần nam, và hiểu Cậu là vị chủ của ngôi dinh. Theo nghiên cứu đã dẫn, vị thần chủ là Chúa Ngọc Nương Nương, còn Cậu Tài và Cậu Quý thờ hai bên. Cách gọi theo tên vị phụ chứ không theo tên vị chủ là hiện tượng quen thấy trong tín ngưỡng dân gian, khi người ta gọi theo vị mà mình cầu tới nhiều nhất chứ không gọi theo thứ bậc trên bàn thờ.

Thứ hai, đây không phải lăng Cá Ông. Vì cùng là nơi thờ của dân đi biển, Dinh Cậu đôi khi bị xếp gộp với hệ lăng Cá Ông ven biển. Hai thứ khác nhau, bởi lăng Cá Ông thờ cá voi và giữ bộ xương gọi là ngọc cốt nên mới gọi là lăng, còn Dinh Cậu thờ một vị nữ thần cùng hai vị Cậu, không có ngọc cốt.

IITừ Miếu Cổ Trên Đá Đến Ngôi Dinh Hôm Nay

Lịch sử ngôi dinh là một trường hợp khá điển hình của nơi thờ tự vùng biển đảo, khi chỗ đất được thờ từ rất lâu còn cái nhà thì mới vì vật liệu cũ không chịu nổi gió mặn. Vì vậy niên đại của nơi này phải đọc thành hai lớp tách bạch, gồm lớp của tục thờ và lớp của công trình.

  • Trước khi có miếuMũi đá Hòn Quy
    Khối đá nhô ra cửa sông, hình giống đầu rùa, là mốc nhận đường của người đi biển trước khi trở thành nền của một nơi thờ.
  • Thế kỷ 17 tới thế kỷ 19Miếu cổ trên khối đá
    Một nếp miếu nhỏ bằng gỗ lợp lá do dân đi biển dựng. Các nguồn ghi niên đại khởi đầu khác nhau khá xa, chi tiết nêu ngay dưới đây.
  • Khoảng 1895 tới 1896Nghề Bà Cậu trong tư liệu
    Cách gọi nghề đi biển là nghề Bà Cậu đã có mặt trong tư liệu về Nam Bộ vào khoảng những năm này, cho biết tục thờ đã thành nếp từ trước.
  • 1937Dựng ngôi dinh kiên cố
    Ngôi dinh được dựng lại bằng vật liệu bền trên đúng nền miếu cũ, theo lối kiến trúc dinh miếu Nam Bộ, gắn biển tên Thạch Sơn động. Nguồn báo chí ghi ngày 14 tháng 7 năm 1937.
  • 1997Trùng tu lần thứ nhất
    Lần sửa lớn sau sáu mươi năm, có nguồn ghi ngày 14 tháng 7 năm 1997, có đoạn ghi ngày 17 tháng 7 năm 1997. Dáng dinh hiện thấy phần lớn định hình từ lần này.
  • 2009Trùng tu lần thứ hai
    Lần sửa gần nhất được tư liệu báo chí ghi lại, gồm việc gia cố phần bậc đá, phần mái và gắn tấm biển tên Dinh Cậu.
  • 2012Xếp hạng di tích cấp tỉnh
    Dinh Cậu được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh vào năm 2012, khớp với cả tư liệu báo chí và bảng dữ kiện của thư viện.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau khá xa, xin nói rõ. Về niên đại của miếu cổ, một nghiên cứu về vị thần chủ trong Dinh Cậu đặt việc lập miếu vào thế kỷ 17, một bài báo địa phương ghi cuối thế kỷ 17, trong khi một bài khác lại ghi ngôi dinh có từ khoảng những năm 1870, tức muộn hơn gần hai trăm năm. Khoảng chênh ấy nhiều khả năng đến từ chỗ người ta đếm từ lúc dân đi biển bắt đầu cúng trên khối đá hay đếm từ lúc có một nếp miếu thành hình. Thư viện chưa tra được văn bản nào nói dứt điểm nên ghi cả ba.

Về số lần trùng tu, các nguồn báo chí ghi hai lần trùng tu là 1997 và 2009 sau lần dựng kiên cố năm 1937, còn nghiên cứu đã dẫn thì ghi 1937 là lần trùng tu thứ nhất và 1997 là lần thứ hai, tức coi 1937 là sửa lại trên miếu cũ chứ không phải dựng mới từ đầu. Cách hiểu sau hợp với việc ngôi dinh vốn đứng trên nền một miếu có trước.

IIINgôi Dinh Đứng Theo Thế Đá

Dinh mang lối kiến trúc dinh miếu Nam Bộ với mái ngói đỏ, bờ mái cong, trang trí lưỡng long chầu nguyệt bằng sứ trên bờ nóc, hệ cột chạm nổi cùng hoành phi và câu đối sơn son thiếp vàng. Do phải men theo hình khối đá bên dưới và nằm dưới tán một cây sộp cổ thụ hơn trăm tuổi, tổng thể lối đi và sân gấp khúc như chữ L, trong khi phần nhà dinh chính gồm tiền điện và chánh điện ghép theo bố cục chữ Đinh.

Khối đá nền

Mũi đá tự nhiên nhô ra cửa sông, người trên đảo gọi là Hòn Quy vì hình giống đầu rùa. Đá không bị san phẳng, ngôi dinh được dựng lựa theo mặt đá có sẵn.

Hai mươi chín bậc đá và miếu Thổ Thần

Lối lên dinh là dãy 29 bậc đá men theo sườn đá có lan can bê tông. Ngay chân bậc lên là một miếu Thổ Thần nhỏ, đi hết bậc đá tới khoảng sân xi măng có bàn thờ Ông Thiên dưới gốc cây sộp cổ thụ.

Chánh điện

Gian thờ chính đặt khám thờ Chúa Ngọc Nương Nương ở giữa, Cậu Quý bên phải và Cậu Tài bên trái. Trong dinh còn có các ban thờ Tả Ban, Hữu Ban, Sơn thần, Thần Tài, Thổ địa và Long Vương, đúng với tên gọi cũ Long Vương thần miếu.

Hoành phi và câu đối

Chữ trên hoành phi và câu đối đều nói về việc che chở trên mặt nước. Đôi cột trước hiên đắp nổi câu đối chữ Hán Tọa tại thạch đầu quy danh hiển, Chấn phong bình lảng bảo lương dân, nghĩa là dinh tọa trên tảng đá đầu rùa hiển linh, chắn gió yên sóng giữ gìn dân lành.

Hướng mặt dinh

Dinh trông ra mặt biển phía tây, tức trông ra đúng phía mà thuyền rời bến và trở về. Hướng này do chỗ đứng của khối đá quyết định chứ không do một phép chọn hướng nào.

Điểm đáng ghi nhất về kiến trúc nơi này là việc công trình nhường chỗ cho thế đá. Đình miếu của người Việt thường dựng trên một mặt bằng đã làm phẳng, theo một trục ngay ngắn. Ở đây thì ngược lại, mặt bằng gấp khúc, bậc lên quanh theo sườn đá, ngôi dinh nhỏ và thấp so với khối đá đỡ nó. Người xây giữ nguyên hình thế tự nhiên và đặt cái nhà vào trong đó, chứ không sửa đất cho vừa cái nhà, hợp với lối nghĩ coi chính khối đá là thứ đã có thần trước khi có miếu.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều rõ nhất và cũng đáng nói trước nhất là thế đá. Ngôi dinh đứng trên một khối đá nhô ra chỗ sông gặp biển, ba mặt là nước. Trong phép xem đất, một điểm đất cứng nhô ra giữa vùng nước mềm được coi là chỗ khí kết, khi nước bao làm khí không tán, còn đá thì giữ lại. Ở vùng châu thổ phương Nam người ta phải đắp gò mới có được một điểm nổi, còn ở đây thiên nhiên cho sẵn một khối đá liền, và người xưa chỉ việc dựng miếu lên trên.

Kế đến là hình thế của khối đá. Người trên đảo gọi nó là Hòn Quy, tức hòn đá hình con rùa, và cái tên ấy tự nó đã là một cách đọc đất theo lối cổ truyền. Trong phép nhìn hình thể, rùa thuộc loại hình được coi là bền và chậm, ứng với sự vững chãi và trường cửu, nên một nơi thờ đặt trên lưng hoặc trên đầu rùa là đặt vào thế không dời. Xin nói rõ rằng đây là cách đọc dân gian gắn với tên gọi, không phải kết quả của một lần đo đạc nào.

Thứ ba là cửa nước. Chỗ này là nơi sông Dương Đông đổ vào biển Tây, tức một cửa nước theo đúng nghĩa của sách cũ, vừa dẫn khí vào vừa đưa khí ra. Cửa nước được xếp vào hàng đất mạnh, được cái dồi dào nhưng phải chịu cái động. Điều đáng chú ý là cái động ấy lại hợp với công dụng của nơi thờ, vì người tới đây là người sắp rời bến, và ngôi dinh đứng đúng chỗ ranh giới giữa chỗ yên và chỗ không yên. Theo lối nhìn cổ truyền, nơi thờ đặt ở ranh giới là nơi thờ đúng chức phận của nó.

Sau cùng là hướng. Dinh trông ra biển phía tây. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và sự thu liễm, và nhà ở nước ta ít chuộng hướng này vì nắng chiều gắt. Nhưng đây không phải nhà ở, và hướng ở đây không do người chọn, bởi khối đá nhô về phía đó, cửa sông mở về phía đó, thuyền ra vào theo phía đó. Đọc theo lối cũ thì đây là trường hợp hướng theo việc chứ không hướng theo phép.

VLễ Giỗ Cậu Và Tục Cúng Trước Chuyến Biển

Nhịp thờ tự ở đây chia làm hai lớp rất khác nhau. Lớp thứ nhất là kỳ lễ trong năm, tính theo âm lịch, do ban khánh tiết của dinh đứng làm. Lớp thứ hai là lệ cúng riêng của từng chuyến biển, không theo ngày nào cố định mà theo lịch làm ăn của từng chủ ghe.

Kỳ lễ trong năm và lệ cúng riêng của người đi biển. Nguồn: Nghiên cứu về vị thần chủ trong Dinh Cậu và các bản tin về lễ hội Dinh Cậu..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Ngày 15 tháng 10Lễ nghinh Cậu và lễ yết CậuNgày mở đầu kỳ lễ giỗ Cậu, gồm nghi thức nghinh tức đón rước, rồi nghi thức yết tức trình báo trước ban thờ.
Đêm 15 và ngày 16 tháng 10Lễ chính tếBuổi tế chính của kỳ lễ do ban tế của dinh đứng làm theo trình tự tế lễ cổ truyền (có nguồn ghi cử hành đêm 15, có nguồn ghi ngày 16 tháng 10).
Trong hai ngày lễDiễn xướng bóng rỗiLối diễn xướng nghi lễ của cộng đồng ven biển phương Nam, gồm hát và múa dâng trước ban thờ, được các tư liệu nêu là nét riêng của kỳ lễ ở đây.
Trong hai ngày lễCác cuộc thi của dân biểnĐua thuyền trên biển, bắt vịt trên biển, đi cà kheo, đập nồi và nhảy bao bố, tạo nên phần hội sôi nổi đi kèm phần lễ.
Trước mỗi chuyến biểnLệ cúng của chủ gheNgười đi biển ghé dinh thắp hương, xin bình an cho chuyến đi. Lễ vật thường được nhắc trong tư liệu là một cặp gà hoặc một cặp vịt, ngoài hương hoa.
Rằm và mùng một hằng thángLệ dâng hương thường kỳNhịp lui tới đều đặn quanh năm của người trên đảo, đông thêm vào dịp đầu năm.
Theo sử liệu

Xét theo góc nhân học, chỗ đáng chú ý ở nơi này là quan hệ giữa nghề và lễ. Với phần lớn nơi thờ tự của người Việt, lễ tiết gắn với vòng năm gồm hội xuân, hội thu, ngày giỗ của vị được thờ. Ở Dinh Cậu, ngoài vòng năm ấy còn một vòng khác chạy song song, là vòng của những chuyến ra khơi. Chuyến biển không theo lịch nào chung, nên lệ cúng cũng rải rác quanh năm và diễn ra lẻ từng nhà, từng ghe, không thành hội.

Chính vòng thứ hai này giữ cho nơi thờ sống đều chứ không chỉ sống vào hai ngày tháng Mười. Nó cũng giải thích vì sao hệ thần linh ở đây gọn tới mức chỉ còn một vị nữ chủ và hai vị Cậu, bởi người đi cầu chỉ cầu một việc, và một hệ thần linh phục vụ một việc thì không cần nhiều lớp.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Mũi đá cửa sông Dương Đông, gần hải đăng Phú Quốc, đặc khu Phú Quốc, An Giang
Đường tới
Dinh nằm trên mũi đá ở cửa sông Dương Đông, gần hải đăng Phú Quốc, thuộc đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Từ khu trung tâm Dương Đông đi bộ được ra tới chân bậc đá, đoạn cuối phải leo hai mươi chín bậc.
Toạ độ
10.2172, 103.9564
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải điểm ngắm cảnh đơn thuần, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ, không leo ra mặt đá phía ngoài lan can vì đá trơn và sóng đánh lên bất ngờ. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Nếu gặp lúc một chủ ghe đang làm lễ trước chuyến biển, xin quý vị đứng ngoài và không đi cắt ngang trước ban thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Dinh Cậu

Contribute photos, information or video for Dinh Cau Shrine

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Dinh Cậu Phú Quốc thờ ai

Gian giữa thờ Chúa Ngọc Nương Nương, được các tài liệu coi là dạng đã Việt hoá của nữ thần Thiên Y A Na, còn hai bên thờ Cậu Quý bên phải và Cậu Tài bên trái, có tư liệu ghi danh hiệu Nhị hiền vương Thái tử. Tên gọi cũ của dinh là Long Vương thần miếu, Thạch Sơn động hoặc Thạch Sơn điện, và trong dinh còn ban dành cho Long Vương.

Vì sao gọi là Dinh Cậu mà chánh điện lại thờ Bà

Vì trong lối thờ này, Bà là vị mang uy còn Cậu là vị được coi là ra tay trực tiếp khi thuyền gặp chuyện, nên người đi biển cầu tới Cậu nhiều hơn. Tín ngưỡng dân gian quen gọi tên nơi thờ theo vị mà mình cầu tới nhiều nhất, không gọi theo thứ bậc trên bàn thờ.

Nghề Bà Cậu nghĩa là gì

Là cách người Nam Bộ gọi nghề đi biển và đi sông, lấy tên cặp thần chủ của mặt nước là Bà và Cậu mà gọi. Cách gọi này đã có trong tư liệu về Nam Bộ từ khoảng những năm 1895 và 1896. Lời thề nặng nhất của người đi biển cũng lấy hai vị ấy ra mà thề.

Lễ giỗ Cậu ở Dinh Cậu tổ chức ngày nào

Hai ngày 15 và 16 tháng Mười âm lịch. Ngày 15 có lễ nghinh Cậu và lễ yết Cậu, đêm 15 sang ngày 16 có lễ chính tế do ban tế của dinh đứng làm. Trong hai ngày ấy còn có diễn xướng bóng rỗi của cộng đồng ven biển phương Nam cùng các trò thi đua thuyền, bắt vịt trên biển và đi cà kheo.

Dinh Cậu xây năm nào và được xếp hạng gì

Ngôi dinh hiện nay được dựng năm 1937 trên nền một miếu cổ có trước, sau đó trùng tu năm 1997 và năm 2009, rồi được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh năm 2012. Niên đại của miếu cổ thì các nguồn ghi vênh nhau, có nguồn ghi thế kỷ 17, có nguồn ghi cuối thế kỷ 17, có nguồn ghi khoảng những năm 1870.

›Đọc Tiếp