VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Dinh Cậu

龍王神廟 · Long Vương thần miếu, Miếu Dinh Cậu, Thạch Sơn động

Ngôi dinh nhỏ dựng trên một mũi đá nhô ra chỗ sông Dương Đông đổ vào biển, nơi thờ tự lâu đời nhất còn lại của dân đi biển Phú Quốc.

Dựng ngôi dinh hiện nay
1937
trên nền một miếu cổ có trước
Bậc đá lên dinh
29 bậc
men theo khối đá ra phía cửa sông
Lễ giỗ Cậu
15 và 16 tháng 10
âm lịch, gồm nghinh, yết và chính tế

Đi hết con đường ven biển của Dương Đông, chỗ dòng sông đổ ra biển Tây, quý vị gặp một khối đá lớn nhô hẳn ra mặt nước. Người trên đảo gọi khối đá ấy là Hòn Quy, vì hình nó giống đầu một con rùa đang ngóc lên. Trên khối đá đó, một ngôi dinh nhỏ mái ngói đỏ, bờ mái cong, đứng lệch theo đúng thế đá chứ không đứng trên một mặt bằng được san phẳng. Hai mươi chín bậc đá dẫn lên tới cửa dinh.

Điều làm nơi này khác các dinh miếu khác của người Việt không nằm ở kiến trúc mà nằm ở công dụng. Đây không phải nơi thờ Thành hoàng của một làng, cũng không phải nơi thờ một người có công mở đất. Đây là nơi dân đi biển ghé trước khi ra khơi, và mọi thứ ở đây, từ chỗ đứng của ngôi dinh tới các vị được thờ trong đó, đều xoay quanh một việc: xin bình an trên mặt nước.

Dinh Cậu
Dinh Cậu. Ảnh: Hoangvantoanajc, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

Bà, Cậu Và Thần Của Mặt Nước

Nơi đây thờ Chúa Ngọc Nương Nương ở gian giữa, cùng hai vị Cậu TàiCậu Quý thờ bên cạnh. Theo tên gọi cũ còn chép trong tư liệu, ngôi dinh này còn được gọi là Long Vương thần miếu, tức miếu thờ thần Long Vương, và Thạch Sơn điện, tức điện trên núi đá.

Cần nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm: đây là tín ngưỡng dân gian của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Dinh Cậu không phải cơ sở của Đạo Giáo, cũng không phải chùa của nhà Phật; người trông coi việc thờ là ban khánh tiết của dinh, không phải tăng ni hay đạo sĩ. Chữ dinh ở đây là chữ dân gian phương Nam dùng cho một nơi thờ nhỏ, cùng mạch với chữ miếu, khác chữ đình chỉ nơi thờ Thành hoàng.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tín ngưỡng này tự nói về mình, mặt nước là cõi có chủ, và người sống bằng nghề nước phải thưa với chủ ấy trước khi bước vào. Ở phương Nam, cặp thần chủ của nghề nước được gọi gọn là Cậu: Bà là vị nữ đứng đầu, mang uy và mang phép; Cậu là vị gần người, được coi là ra tay trực tiếp khi thuyền gặp chuyện. Chính vì cái gần ấy mà ngư dân gọi tên Cậu nhiều hơn gọi tên Bà, và ngôi dinh này mang tên Cậu dù chính giữa chánh điện là Bà.

Cặp tên ấy đi vào cả lời ăn tiếng nói. Nghề đi biển và đi sông ở Nam Bộ được gọi là nghề Bà Cậu. Lời thề nặng nhất của người đi biển là lấy chính hai vị ấy ra mà thề, đại ý xin Bà Cậu nhận chìm ghe nếu mình nói dối; đó là câu người ta chỉ nói khi đã hết cách nói khác. Một tín ngưỡng đi được vào lời thề và vào tên gọi của một nghề thì không còn là chuyện lễ bái riêng lẻ, mà đã thành khung nghĩ của cả một lớp người.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, một nghiên cứu về vị thần chủ trong Dinh Cậu xác định vị đứng giữa chánh điện là Chúa Ngọc Nương Nương, và xếp ngôi dinh này vào hệ thờ Mẫu của người Việt. Chúa Ngọc Nương Nương được các tài liệu coi là dạng đã Việt hoá của Thiên Y A Na, vị nữ thần gốc của người Chăm mà người Việt tiếp nhận trên đường vào Nam rồi thờ như vị che chở cho dân ven biển. Cậu TàiCậu Quý được xem là hai con của Bà, có tư liệu ghi danh hiệu Nhị hiền vương Thái tử.

Về chữ Cậu Tài, người trên đảo còn một cách giải thích khác: đó là chữ Cầu Tài đọc chệch đi, tức tên gọi vốn là một lời cầu chứ là một danh hiệu. Hai cách giải thích ấy chưa được tài liệu nào phân định, nên chúng tôi ghi cả hai.

Về niên đại của tên gọi, cách gọi nghề Bà Cậu đã có mặt trong tư liệu về Nam Bộ từ khoảng những năm 1895 và 1896, tức tục thờ đã thành nếp trước khi ngôi dinh hiện nay được dựng. Các tài liệu về Phú Quốc cũng nhắc tới sự pha trộn giữa nếp Việt, nếp Hoa và nếp Khmer trên đảo, trong đó lớp Việt là lớp chủ đạo ở dinh này.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, tên là Cậu nhưng giữa chánh điện là Bà. Nhiều người nghe chữ Dinh Cậu rồi hiểu đây là nơi thờ một vị thần nam, và hiểu Cậu là vị chủ của ngôi dinh. Theo nghiên cứu đã dẫn, vị thần chủ là Chúa Ngọc Nương Nương, còn Cậu Tài và Cậu Quý thờ bên cạnh. Cách gọi theo tên vị phụ chứ không theo tên vị chủ là hiện tượng quen thấy trong tín ngưỡng dân gian: người ta gọi theo vị mà mình cầu tới nhiều nhất, không gọi theo thứ bậc trên bàn thờ.

Thứ hai, đây không phải lăng Cá Ông. Vì cùng là nơi thờ của dân đi biển, Dinh Cậu đôi khi bị xếp gộp với hệ lăng Cá Ông ven biển. Hai thứ khác nhau: lăng Cá Ông thờ cá voi và giữ bộ xương gọi là ngọc cốt, vì thế mới gọi là lăng; còn Dinh Cậu thờ một vị nữ thần cùng hai vị Cậu, không có ngọc cốt.

Từ Miếu Cổ Trên Đá Đến Ngôi Dinh Hôm Nay

Lịch sử ngôi dinh là một trường hợp khá điển hình của nơi thờ tự vùng biển đảo: chỗ đất được thờ từ rất lâu, còn cái nhà thì mới, vì vật liệu cũ không chịu nổi gió mặn. Vì vậy niên đại của nơi này phải đọc thành hai lớp tách bạch, lớp của tục thờ và lớp của công trình.

  • Trước khi có miếuMũi đá Hòn Quy
    Khối đá nhô ra cửa sông, hình giống đầu rùa, là mốc nhận đường của người đi biển trước khi trở thành nền của một nơi thờ.
  • Thế kỷ 17 tới thế kỷ 19Miếu cổ trên khối đá
    Một nếp miếu nhỏ bằng gỗ lợp lá do dân đi biển dựng. Các nguồn ghi niên đại khởi đầu khác nhau khá xa, chi tiết nêu ngay dưới đây.
  • Khoảng 1895 tới 1896Nghề Bà Cậu trong tư liệu
    Cách gọi nghề đi biển là nghề Bà Cậu đã có mặt trong tư liệu về Nam Bộ vào khoảng những năm này, cho biết tục thờ đã thành nếp từ trước.
  • 1937Dựng ngôi dinh kiên cố
    Ngôi dinh được dựng lại bằng vật liệu bền trên đúng nền miếu cũ, theo lối kiến trúc dinh miếu Nam Bộ. Một nguồn ghi rõ ngày 14 tháng 7 năm 1937.
  • 1997Trùng tu lần thứ nhất
    Lần sửa lớn sau sáu mươi năm, một nguồn ghi cùng ngày 14 tháng 7. Dáng dinh hiện thấy phần lớn định hình từ lần này.
  • 2009Trùng tu lần thứ hai
    Lần sửa gần nhất được tư liệu báo chí ghi lại, gồm việc gia cố phần bậc đá và phần mái.
  • 2012Xếp hạng di tích cấp tỉnh
    Theo tư liệu báo chí, Dinh Cậu được xếp hạng di tích cấp tỉnh vào năm này. Bảng dữ kiện của thư viện để trống mục xếp hạng, nên chúng tôi ghi mốc này kèm nguồn chứ không coi là dứt điểm.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau khá xa, xin nói rõ. Về niên đại của miếu cổ, một nghiên cứu về vị thần chủ trong Dinh Cậu đặt việc lập miếu vào thế kỷ 17; một bài báo địa phương ghi cuối thế kỷ 17; trong khi một bài khác lại ghi ngôi dinh có từ khoảng những năm 1870, tức muộn hơn gần hai trăm năm. Khoảng chênh ấy nhiều khả năng đến từ chỗ người ta đếm cái gì: đếm từ lúc dân đi biển bắt đầu cúng trên khối đá thì ra một mốc, đếm từ lúc có một nếp miếu thành hình thì ra mốc khác. Chúng tôi chưa tra được văn bản nào nói dứt điểm nên ghi cả ba.

Về số lần trùng tu, các nguồn ghi hai lần là 1997 và 2009; nghiên cứu đã dẫn thì ghi 1937 là lần trùng tu thứ nhất và 1997 là lần thứ hai, tức coi 1937 là sửa chứ không phải dựng mới. Cách hiểu sau hợp với việc ngôi dinh vốn đứng trên nền một miếu có trước.

Ngôi Dinh Đứng Theo Thế Đá

Dinh mang lối kiến trúc dinh miếu Nam Bộ: mái ngói đỏ, bờ mái cong, trang trí rồng và phượng trên bờ nóc, hệ cột gỗ chạm, hoành phi và câu đối sơn son thiếp vàng. Nhưng mặt bằng thì không vuông vức mà gấp khúc, vì nó phải men theo hình khối đá bên dưới. Một tư liệu mô tả mặt bằng ấy có dạng chữ L.

Khối đá nền

Mũi đá tự nhiên nhô ra cửa sông, người trên đảo gọi là Hòn Quy vì hình giống đầu rùa. Đá không bị san phẳng; ngôi dinh được dựng lựa theo mặt đá có sẵn.

Hai mươi chín bậc đá

Lối lên dinh là một dãy bậc men theo sườn đá, có hành lang và tay vịn. Bậc đá làm cho việc lên dinh thành một đoạn đi lên thật sự, không phải bước qua ngưỡng cửa.

Chánh điện

Gian thờ chính, đặt ban thờ Chúa Ngọc Nương Nương ở giữa, hai vị Cậu Tài và Cậu Quý bên cạnh. Theo tư liệu, trong dinh còn có ban dành cho Long Vương, đúng với tên gọi cũ Long Vương thần miếu.

Hoành phi và câu đối

Chữ trên hoành phi và câu đối đều nói về việc che chở trên mặt nước, đại ý anh linh soi trời đất và phúc lành giữ cho muôn loài. Đây là chỗ duy nhất trong dinh ghi thành chữ điều mà người đi lễ tới cầu.

Hướng mặt dinh

Dinh trông ra mặt biển phía tây, tức trông ra đúng phía mà thuyền rời bến và trở về. Hướng này do chỗ đứng của khối đá quyết định chứ không do một phép chọn hướng nào.

Điểm đáng ghi nhất về kiến trúc nơi này là việc công trình nhường chỗ cho thế đá. Đình miếu của người Việt thường dựng trên một mặt bằng đã làm phẳng, theo một trục ngay ngắn. Ở đây thì ngược lại: mặt bằng gấp khúc, bậc lên quanh theo sườn đá, ngôi dinh nhỏ và thấp so với khối đá đỡ nó. Người xây giữ nguyên hình thế tự nhiên và đặt cái nhà vào trong đó, chứ không sửa đất cho vừa cái nhà; cách làm ấy hợp với lối nghĩ coi chính khối đá là thứ đã có thần trước khi có miếu.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều rõ nhất và cũng đáng nói trước nhất là thế đá. Ngôi dinh đứng trên một khối đá nhô ra chỗ sông gặp biển, ba mặt là nước. Trong phép xem đất, một điểm đất cứng nhô ra giữa vùng nước mềm được coi là chỗ khí kết: nước bao thì khí không tán, còn đá thì giữ. Ở vùng châu thổ phương Nam người ta phải đắp gò mới có được một điểm nổi; ở đây thiên nhiên cho sẵn một khối đá liền, và người xưa chỉ việc dựng miếu lên trên.

Kế đến là hình thế của khối đá. Người trên đảo gọi nó là Hòn Quy, tức hòn đá hình con rùa, và cái tên ấy tự nó đã là một cách đọc đất theo lối cổ truyền. Trong phép nhìn hình thể, rùa thuộc loại hình được coi là bền và chậm, ứng với sự vững chãi và trường cửu; một nơi thờ đặt trên lưng hoặc trên đầu rùa, theo lối nhìn ấy, là đặt vào thế không dời. Xin nói rõ rằng đây là cách đọc dân gian gắn với tên gọi, không phải kết quả của một lần đo đạc nào.

Thứ ba là cửa nước. Chỗ này là nơi sông Dương Đông đổ vào biển Tây, tức một cửa nước theo đúng nghĩa của sách cũ: vừa dẫn khí vào vừa đưa khí ra. Cửa nước được xếp vào hàng đất mạnh, được cái dồi dào nhưng phải chịu cái động. Điều đáng chú ý là cái động ấy lại hợp với công dụng của nơi thờ: người tới đây là người sắp rời bến, và ngôi dinh đứng đúng chỗ ranh giới giữa chỗ yên và chỗ không yên. Theo lối nhìn cổ truyền, nơi thờ đặt ở ranh giới là nơi thờ đúng chức phận của nó.

Sau cùng là hướng. Dinh trông ra biển phía tây. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và sự thu liễm, và nhà ở nước ta ít chuộng hướng này vì nắng chiều gắt. Nhưng đây không phải nhà ở, và hướng ở đây không do người chọn: khối đá nhô về phía đó, cửa sông mở về phía đó, thuyền ra vào theo phía đó. Đọc theo lối cũ thì đây là trường hợp hướng theo việc chứ không hướng theo phép.

Lễ Giỗ Cậu Và Tục Cúng Trước Chuyến Biển

Nhịp thờ tự ở đây chia làm hai lớp rất khác nhau. Lớp thứ nhất là kỳ lễ trong năm, tính theo âm lịch, do ban khánh tiết của dinh đứng làm. Lớp thứ hai là lệ cúng riêng của từng chuyến biển, không theo ngày nào cố định mà theo lịch làm ăn của từng chủ ghe.

Kỳ lễ trong năm và lệ cúng riêng của người đi biển. Nguồn: Nghiên cứu về vị thần chủ trong Dinh Cậu và các bản tin về lễ hội Dinh Cậu..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Ngày 15 tháng 10Lễ nghinh Cậu và lễ yết CậuNgày mở đầu kỳ lễ giỗ Cậu: nghi thức nghinh, tức đón, rồi nghi thức yết, tức trình báo trước ban thờ.
Ngày 16 tháng 10Lễ chính tếBuổi tế chính của kỳ lễ, do ban tế của dinh đứng làm theo trình tự tế lễ cổ truyền.
Trong hai ngày lễDiễn xướng bóng rỗiLối diễn xướng nghi lễ của cộng đồng ven biển phương Nam, gồm hát và múa dâng trước ban thờ, được các tư liệu nêu là nét riêng của kỳ lễ ở đây.
Trong hai ngày lễCác cuộc thi của dân biểnĐua thuyền và các cuộc thi gắn với nghề nước, phần hội đi kèm phần lễ.
Trước mỗi chuyến biểnLệ cúng của chủ gheNgười đi biển ghé dinh thắp hương, xin bình an cho chuyến đi. Lễ vật thường được nhắc trong tư liệu là một cặp gà hoặc một cặp vịt, ngoài hương hoa.
Rằm và mùng một hằng thángLệ dâng hương thường kỳNhịp lui tới đều đặn quanh năm của người trên đảo, đông thêm vào dịp đầu năm.
Theo sử liệu

Xét theo góc nhân học, chỗ đáng chú ý ở nơi này là quan hệ giữa nghề và lễ. Với phần lớn nơi thờ tự của người Việt, lễ tiết gắn với vòng năm: hội xuân, hội thu, ngày giỗ của vị được thờ. Ở Dinh Cậu, ngoài vòng năm ấy còn một vòng khác chạy song song, là vòng của những chuyến ra khơi. Chuyến biển không theo lịch nào chung, nên lệ cúng cũng rải rác quanh năm và diễn ra lẻ từng nhà, từng ghe, không thành hội.

Chính vòng thứ hai này giữ cho nơi thờ sống đều chứ không chỉ sống vào hai ngày tháng Mười. Nó cũng giải thích vì sao hệ thần linh ở đây gọn tới mức chỉ còn một vị nữ chủ và hai vị Cậu: người đi cầu chỉ cầu một việc, và một hệ thần linh phục vụ một việc thì không cần nhiều lớp.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Mũi đá cửa sông Dương Đông, gần hải đăng Phú Quốc, đặc khu Phú Quốc, An Giang
Đường tới
Dinh nằm trên mũi đá ở cửa sông Dương Đông, gần hải đăng Phú Quốc, thuộc đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Từ khu trung tâm Dương Đông đi bộ được ra tới chân bậc đá, đoạn cuối phải leo hai mươi chín bậc.
Toạ độ
10.2126, 103.9573
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải điểm ngắm cảnh, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ, không leo ra mặt đá phía ngoài lan can vì đá trơn và sóng đánh lên bất ngờ. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Nếu gặp lúc một chủ ghe đang làm lễ trước chuyến biển, xin quý vị đứng ngoài và không đi cắt ngang trước ban thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

dinh cậu phú quốc thờ ai

Gian giữa thờ Chúa Ngọc Nương Nương, được các tài liệu coi là dạng đã Việt hoá của nữ thần Thiên Y A Na; hai bên thờ Cậu Tài và Cậu Quý, có tư liệu ghi danh hiệu Nhị hiền vương Thái tử. Tên gọi cũ của dinh là Long Vương thần miếu, và trong dinh còn ban dành cho Long Vương.

vì sao gọi là dinh cậu mà chánh điện lại thờ bà

Vì trong lối thờ này, Bà là vị mang uy còn Cậu là vị được coi là ra tay trực tiếp khi thuyền gặp chuyện, nên người đi biển cầu tới Cậu nhiều hơn. Tín ngưỡng dân gian quen gọi tên nơi thờ theo vị mà mình cầu tới nhiều nhất, không gọi theo thứ bậc trên bàn thờ.

nghề bà cậu nghĩa là gì

Là cách người Nam Bộ gọi nghề đi biển và đi sông, lấy tên cặp thần chủ của mặt nước là Bà và Cậu mà gọi. Cách gọi này đã có trong tư liệu về Nam Bộ từ khoảng những năm 1895 và 1896. Lời thề nặng nhất của người đi biển cũng lấy hai vị ấy ra mà thề.

lễ giỗ cậu ở dinh cậu tổ chức ngày nào

Hai ngày 15 và 16 tháng Mười âm lịch. Ngày 15 có lễ nghinh Cậu và lễ yết Cậu, ngày 16 là lễ chính tế do ban tế của dinh đứng làm. Trong hai ngày ấy còn có diễn xướng bóng rỗi của cộng đồng ven biển phương Nam và các cuộc thi gắn với nghề nước.

dinh cậu xây năm nào

Ngôi dinh hiện nay được dựng năm 1937 trên nền một miếu cổ có trước, sau đó trùng tu năm 1997 và năm 2009. Niên đại của miếu cổ thì các nguồn ghi vênh nhau, có nguồn ghi thế kỷ 17, có nguồn ghi cuối thế kỷ 17, có nguồn ghi khoảng những năm 1870.

Đọc Tiếp