Từ đường Tam Thanh, quý vị leo khoảng ba mươi bậc đá đục vào sườn núi rồi bước qua cửa hang cao chừng tám mét vào một khoảng tối mát. Chùa không có mái, không có sân, không có tam quan theo lối thường, toàn bộ nơi thờ tự nằm trong lòng một hang đá vôi, các ban thờ dựa hẳn vào vách, nhũ đá rủ xuống ngay trên đầu hương án. Đi sâu thêm vài chục bước, trên một mặt đá phía trên cung Tam Bảo hiện ra hình một vị Phật trong áo cà sa sơn trắng, tạc nổi lên chính thân núi chứ không đặt trên bệ. Đó là pho tượng A Di Đà.
Tên chữ của chùa là Thanh Thiền tự, một nguồn báo chí còn ghi tên Thanh Tiên tự, nhưng người xứ Lạng quen gọi theo tên động là chùa Tam Thanh. Hai chữ Tam Thanh vốn bắt nguồn từ danh xưng của Đạo Giáo và cũng là tên động thứ ba trong cụm Nhất Thanh, Nhị Thanh, Tam Thanh. Ngôi chùa hôm nay theo Phật Giáo Bắc Tông, bày ban thờ theo lối tiền Phật hậu Thánh, nên đứng trong hang này quý vị đọc được nhiều lớp tín ngưỡng xếp lên nhau chứ không chỉ một lớp.

ITên gọi và các lớp tín ngưỡng
Nơi này mang nhiều tên cùng lúc, mỗi tên nói một lớp lịch sử. Thanh Thiền tự là tên chữ, một bài báo còn nhắc tên Thanh Tiên tự, và chính hai chữ Thanh Thiền còn nằm trên tấm bia cổ nhất trong động ghi việc trùng tu Thanh Thiền động năm 1677. Chùa Tam Thanh là tên dân gian, gọi theo tên hang chứa nó. Người xứ Lạng còn xếp cả khu này vào hàng đầu trong tám cảnh của trấn, nên có thêm cách gọi đệ nhất bát cảnh xứ Lạng.
Xin nói rõ một điều về chữ Hán ghi kèm trang này. Thư viện chưa tra được bức hoành phi hay tấm bia nào cho phép chép nguyên dạng chữ Hán tên chùa, nên dòng chữ 清禪寺 ở đầu trang là do thư viện suy ra từ tên chữ Thanh Thiền tự chứ không phải bản chép từ hiện vật.
Theo giáo nghĩa Đạo Giáo, Tam Thanh là ba cõi trời cao nhất cùng ba vị chủ của ba cõi ấy gồm Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh. Đây là hàng trên hết trong hệ thần linh Đạo Giáo, đứng trước cả Ngọc Hoàng. Bên cạnh lớp nghĩa Đạo Giáo ấy, tư liệu địa phương còn giải thích rằng dãy núi đá có hình đàn voi phủ phục trên mặt cỏ xanh này xưa vốn có ba hang gọi là Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh, trong đó Tam Thanh là động thứ ba.
Còn theo giáo nghĩa Phật Giáo Bắc Tông, vị được tạc vào vách hang là A Di Đà, đức Phật của cõi Tây phương Cực Lạc. Pháp môn gắn với vị này là niệm danh hiệu Phật để nguyện sinh về cõi ấy, pháp môn phổ biến trong dân gian Bắc Bộ.
Trên phương diện khảo được, tư liệu di tích của địa phương chép rằng ban đầu hang này là nơi thờ Tam Thanh theo Đạo Giáo, về sau tới thời Lê mới tiếp nhận thêm lớp Phật Giáo và lớp Nho Giáo trong tinh thần Tam giáo đồng nguyên, từng thờ cả Phật, Lão Tử và Khổng Tử rồi định hình thành một ngôi chùa. Cách bày ban thờ hiện nay còn giữ dấu của quá trình nhiều lớp ấy với cung Tam Bảo thờ Phật ở ngoài, bên trong và kế cận có cung Thánh Mẫu và cung Sơn Trang theo lối tiền Phật hậu Thánh mà nhiều chùa Bắc Bộ dùng để chứa cả hai hệ thần linh trong một khuôn viên. Nói gọn lại, cái tên Tam Thanh là vật chứng cho lớp thờ tự cũ nhất, còn nội dung thờ tự hiện thời thuộc về Phật Giáo Bắc Tông kết hợp thờ Mẫu.
Chỗ hay lẫn nhất ở đây không phải chuyện thần phật mà là chuyện địa danh, khi nhiều người coi động Tam Thanh và động Nhị Thanh là một, hoặc coi chùa Tam Thanh và chùa Tam Giáo là hai tên của cùng một ngôi chùa. Xin nói bằng giọng sử liệu rằng đó là hai hang khác nhau nằm kề nhau, mỗi hang chứa một ngôi chùa riêng.
Động Tam Thanh chứa chùa Tam Thanh, tên chữ Thanh Thiền tự, có từ thời Lê, với tấm bia sớm nhất ghi năm 1677. Động Nhị Thanh chứa chùa Tam Giáo, do Ngô Thì Sĩ cho dựng năm Kỷ Hợi 1779 khi ông làm đốc trấn Lạng Sơn, thờ chung cả ba nhà Nho, Đạo và Phật, bên trong động có dòng suối Ngọc Tuyền chảy qua tạo thành ao Nhất Bình, có Di Ái Đường thờ Ngô Thì Sĩ và trên vách động có bức truyền thần tạc hình chính ông. Tên Nhị Thanh cũng do ông đặt, lấy từ biệt hiệu Nhị Thanh cư sĩ. Hai cổng động cách nhau khoảng năm trăm mét đường đi bộ, và chính khoảng cách gần ấy làm việc lẫn tên xảy ra thường xuyên.
IINiên đại và các tấm bia trong động
Lịch sử ngôi chùa này được đọc chủ yếu từ đá. Không có bộ sử biên niên nào chép năm dựng chùa, nhưng trên các vách hang còn một hệ thống bia ma nhai, tức bia khắc trực tiếp vào mặt đá, làm thành một chuỗi mốc trải từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 20.
- Thời LêChùa trong động Tam ThanhTư liệu di tích của địa phương chép chùa có từ thời Lê. Không có văn bản đương thời nào cho biết năm khởi dựng cụ thể.
- 1677Bia Trùng tu Thanh Thiền độngTấm bia ma nhai cổ nhất còn đọc được trong động, khắc năm Vĩnh Trị thứ hai (1677) đời vua Lê Hy Tông, do Binh sứ Bắc quân đô đốc phủ, Đô đốc Thiêm sự, Vũ quận công Vi Đức Thắng soạn để ghi việc trùng tu.
- 1777Ngô Thì Sĩ làm đốc trấn Lạng SơnNgô Thì Sĩ, hiệu Ngọ Phong, sinh năm 1726 và mất năm 1780, giữ chức Đốc trấn Lạng Sơn từ năm 1777 tới năm 1780. Ông là người khảo và đặt tên cho nhiều cảnh trong trấn.
- 1779Động Nhị Thanh và bài thơ Vịnh Tiên Sơn tựNăm Kỷ Hợi 1779, Ngô Thì Sĩ khảo ra động Nhị Thanh ở kề bên và cho dựng chùa Tam Giáo trong động ấy, thờ chung Nho, Đạo và Phật. Trên vách đá bên phải cửa động Tam Thanh còn khắc bài thơ Vịnh Tiên Sơn tự của ông, có tư liệu ghi khắc năm 1777, có tư liệu ghi năm Kỷ Hợi 1779.
- 1918Hai tấm bia thời NguyễnThượng thư Bộ Công Đoàn Đình Duyệt và Tôn Thất Tố khắc hai bài thơ chữ Hán lên vách động khi theo phò giá vua Khải Định tuần thú miền Bắc vào năm này.
- 1924Tấm bia chữ Nôm của Đào Trọng VậnTuần phủ Thái Bình Đào Trọng Vận khắc bài thơ mười câu bằng chữ Nôm lên vách đá. Đây là tấm bia chữ Nôm duy nhất được ghi nhận trong hệ thống bia ma nhai ở Lạng Sơn.
- 1962Di tích quốc giaKhu danh thắng gồm động Nhị Thanh, động Tam Thanh, núi Tô Thị và thành nhà Mạc được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Có hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng ra thay vì chọn bừa một con số.
Thứ nhất là niên đại pho tượng A Di Đà. Một số tư liệu xếp pho tượng vào thế kỷ 15, tức thời Lê sơ. Một số tư liệu khác lại xếp theo phong cách nghệ thuật Lê Mạc, tức khoảng thế kỷ 16 sang thế kỷ 17. Khoảng chênh giữa hai cách ghi hơn một trăm năm. Pho tượng không có minh văn ghi năm tạc, nên mọi niên đại đưa ra đều là suy từ phong cách chạm khắc, và thư viện ghi cả hai.
Thứ hai là năm khởi dựng chùa. Cách ghi phổ biến là chùa có từ thời Lê, nhưng đó là một khoảng gần bốn trăm năm chứ không phải một mốc. Vật chứng sớm nhất trong động là tấm bia năm 1677 thuộc thời Lê Trung Hưng, nghĩa là việc thờ tự ở đây chắc chắn có trước năm ấy, còn trước đó bao lâu thì chưa có hiện vật nào nói được.
IIIMột ngôi chùa trong lòng núi
Điểm cần nắm trước tiên là ở đây không có kiến trúc theo nghĩa xây cất. Hang đá vôi là toàn bộ phần vỏ của ngôi chùa, còn phần do người làm chỉ gồm bậc đá, hương án, ban thờ và những gì tạc vào vách. Cả khu danh thắng rộng hơn năm mươi hai hecta, hang động ở đây được các tài liệu tính tuổi khoảng ba trăm triệu năm, nên cái khung của ngôi chùa già hơn mọi niên đại thờ tự ta có thể bàn tới.
Lối vào gồm khoảng ba mươi bậc đá đục vào sườn núi dẫn lên cửa động ở độ cao chừng hai mươi mét, cửa hang cao khoảng tám mét nhìn về hướng đông.
Bày theo lối tiền Phật hậu Thánh, gồm cung Tam Bảo, cung Thánh Mẫu và cung Sơn Trang dựa vào vách và nương theo hình thế tự nhiên của hang.
Pho tượng quan trọng nhất của chùa đặt phía trên cung Tam Bảo, cao 202 centimet và rộng 65 centimet, tạc nổi trực tiếp vào vách đá trong hình lá bồ đề, sơn trắng, mặc áo cà sa buông dài và hai tay chỉ xuống theo thế ấn cam lộ.
Hồ nước tự nhiên trong lòng hang, theo các tư liệu thì nước trong và không cạn quanh năm, chung quanh là nhũ đá. Tên Âm Ty chỉ cõi âm, đặt theo cảm giác của người đứng trước một mặt nước tĩnh trong lòng núi.
Qua hồ Âm Ty là khoảng nền phẳng như sân khấu nhỏ, phía trên vòm hang mở ra hai cửa Thông Thiên đưa ánh sáng tự nhiên rọi xuống lòng động, từ đó có lối bậc lên lầu Vọng Thị nhìn ra núi Tô Thị.
Các tấm bia khắc trực tiếp vào mặt đá, trải từ tấm năm 1677 của Vi Đức Thắng, bài thơ của Ngô Thì Sĩ tới các tấm năm 1918 và tấm bia chữ Nôm năm 1924 của Đào Trọng Vận. Đây là lớp tư liệu gốc quan trọng nhất của di tích.
Cách bố trí ấy tạo ra một trình tự đi lễ khác hẳn chùa xây. Ở chùa xây, người ta đi từ sáng vào tối và vật quan trọng nhất nằm ở chỗ thâm nghiêm nhất trong cùng. Ở đây thì ngược lại, quý vị vào qua cửa động rợp bóng cây, gặp các cung thờ và pho tượng tạc vách ở khoảng giữa, rồi đi tiếp qua hồ Âm Ty về phía cuối động, nơi hai cửa Thông Thiên và lầu Vọng Thị mở ra ánh sáng trời.
Một chỗ nữa hay bị hiểu sai là pho tượng A Di Đà ở đây không phải tượng tạc rời rồi gắn vào vách, và cũng không phải tượng tròn. Đó là tượng tạc nổi, tức người xưa đục lõm phần chung quanh để hình tượng nhô ra khỏi mặt đá, nên tượng và núi là một khối. Cách làm này giải thích vì sao pho tượng chịu được mấy trăm năm trong một hang ẩm, và vì sao không thể đem tượng đi đâu để bảo quản.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đáng nói đầu tiên là ở đây người xưa không dựng nhà mà nhận lấy một cái hang. Trong phép xem đất, hang trong núi được coi là chỗ khí đã tự tụ sẵn, bởi núi đá là hậu chẩm có thật chứ không phải hậu chẩm thay bằng gò đất như ở đồng bằng châu thổ, vách hang giữ khí không cho tán và lòng hang kín gió. Một chỗ như vậy không cần người sửa sang thêm, chỉ cần đặt hương án vào đúng chỗ.
Xét theo ngũ hành, thế đất này thuộc lối Thổ bọc Thủy. Núi đá vôi là Thổ, còn hồ Âm Ty trong lòng hang là Thủy, một mạch nước nằm kín bên trong khối núi chứ không lộ ra ngoài. Trong sách cũ, nước lộ thiên thì dẫn khí đi, nước ẩn trong đất thì giữ khí lại. Một hang có mạch nước không cạn quanh năm vì thế được xếp vào hàng đất giữ khí bền, và cái tên Âm Ty cũng nói đúng cảm nhận đó, đây là phần âm, phần lặng, phần chứa.
Kế đến là cửa Thông Thiên, chi tiết thư viện cho là quan trọng nhất khi đọc thế đất nơi này. Một cái hang kín hoàn toàn, theo lối nhìn cổ truyền, là chỗ khí tụ mà không thông, tức tụ thành bế. Hai cửa Thông Thiên ở cuối động cùng lối lên lầu Vọng Thị phá cái bế ấy khi mở lối cho khí trời và ánh sáng đi xuống gặp khí đất trong lòng hang. Người xưa đặt tên là Thông Thiên, nghĩa là thông lên trời, chứ không đặt một tên tả cảnh nào khác. Đọc theo phép cũ thì đây là chỗ thiên khí và địa khí giao nhau, và một hang thờ tự có đủ hai chiều ấy mới được coi là hang sống.
Về hướng, cửa động nhìn về hướng đông ra phía đường Tam Thanh ở chân núi, tức mở ra phía đất bằng và phía có người ở, lưng dựa vào khối núi đá vôi. Đây là thế thuận của nơi thờ tự trong hang, quay mặt về phía làng và tựa lưng vào phía núi. Ba mươi bậc đá dẫn lên cửa động đóng vai trò tôn nền, đưa chỗ thờ lên cao hơn chỗ đi lại thường ngày.
Cuối cùng là thế cụm. Động Nhị Thanh, động Tam Thanh, núi Tô Thị và thành nhà Mạc nằm quây quần trong cùng một vùng núi đá vôi, mạch đá không bị cắt. Trong phép xem đất, nhiều điểm thờ tự trên một mạch núi liền thì làm thành một hệ có sinh khí chung, và lễ rằm tháng Giêng rước bài vị từ chùa bên Nhị Thanh sang chùa bên Tam Thanh, theo con mắt ấy, là việc nối hai đầu của cùng một mạch mỗi năm một lần.
VLễ rằm tháng Giêng và lệ trong năm
Lễ hội chính của chùa mở vào rằm tháng Giêng, và điều đáng chú ý là trung tâm của đám rước không phải một vị Phật mà là bài vị Ngô Thì Sĩ, người từng làm đốc trấn Lạng Sơn. Bài vị được rước từ chùa Tam Giáo bên động Nhị Thanh sang chùa Tam Thanh, tức đi qua đúng khoảng cách giữa hai hang.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Hội chùa Tam Thanh | Kỳ hội chính trong năm. Phần lễ gồm lễ Phật và lễ tế, phần hội có các trò diễn dân gian của các khối dân cư trong vùng. |
| Rằm tháng Giêng | Rước bài vị Ngô Thì Sĩ | Đám rước đưa bài vị từ chùa Tam Giáo bên động Nhị Thanh sang chùa Tam Thanh, có múa rồng và múa lân đi kèm. |
| Mùng 1 và ngày rằm hằng tháng | Lệ thường kỳ | Nhịp dâng hương đều đặn quanh năm của người trong vùng, theo lệ chung của chùa Bắc Tông. |
| Rằm tháng Tư và rằm tháng Bảy | Lễ Phật đản và lễ Vu Lan | Hai kỳ lễ Phật lớn trong năm của các chùa Bắc Tông, cử hành theo nghi thức của tông phái. |
Việc rước bài vị một vị quan văn trong kỳ hội chùa nói nhiều hơn nó thoạt trông. Ngô Thì Sĩ không dựng chùa Tam Thanh mà dựng chùa Tam Giáo ở hang bên. Nhưng ông là người đã khảo, đặt tên và viết về cả vùng hang động này, nên trong ký ức người xứ Lạng ông gắn với cả khu chứ không gắn riêng một ngôi chùa.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Động Tam Thanh, đường Tam Thanh, phường Tam Thanh, tỉnh Lạng Sơn
- Đường tới
- Chùa nằm trong động Tam Thanh, đường Tam Thanh, phường Tam Thanh, tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm thành phố Lạng Sơn cũ chừng hai cây số và cách ngã sáu Pò Soài khoảng sáu trăm mét. Từ cổng sau động Nhị Thanh có đường đi bộ sang động Tam Thanh, khoảng năm trăm mét.
- Toạ độ
- 21.8556, 106.7468
Lệ của chính nơi này gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong hang, đi nhẹ nói khẽ vì lòng hang vang tiếng rất xa. Lối đi trong động hẹp, đá ẩm và trơn, xin quý vị theo một chiều và không chen ở chỗ bậc. Không chạm tay vào pho tượng tạc vách và các khối nhũ đá, không viết vẽ lên mặt bia ma nhai, không thả tiền hay đồ lễ xuống hồ Âm Ty. Việc chiếu đèn mạnh hay quay phim trong hang xin hỏi người trông coi trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Tam Thanh
Contribute photos, information or video for Tam Thanh PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Tam Thanh thờ ai
Chùa theo Phật Giáo Bắc Tông, ban thờ bày theo lối tiền Phật hậu Thánh với cung Tam Bảo ở ngoài cùng cung Thánh Mẫu và cung Sơn Trang ở trong. Pho tượng quan trọng nhất là tượng A Di Đà tạc nổi vào vách đá phía trên cung Tam Bảo. Tên Tam Thanh vốn là danh xưng của Đạo Giáo và cũng là tên động thứ ba trong cụm Nhất Thanh, Nhị Thanh, Tam Thanh.
Chùa Tam Thanh và động Nhị Thanh có phải một chỗ không
Không, đó là hai hang khác nhau nằm kề nhau, cách nhau khoảng năm trăm mét đường đi bộ. Động Tam Thanh chứa chùa Tam Thanh, tên chữ Thanh Thiền tự, có từ thời Lê. Động Nhị Thanh chứa chùa Tam Giáo và Di Ái Đường, do Ngô Thì Sĩ cho dựng năm 1779, thờ chung Nho, Đạo và Phật.
Tượng A Di Đà ở chùa Tam Thanh có từ bao giờ
Pho tượng cao 202 centimet, rộng 65 centimet, tạc nổi trực tiếp vào vách đá trong hình lá bồ đề. Niên đại thì nguồn ghi vênh nhau, có tư liệu xếp vào thế kỷ 15, có tư liệu xếp theo phong cách nghệ thuật Lê Mạc tức khoảng thế kỷ 16 sang thế kỷ 17. Tượng không có minh văn ghi năm tạc nên mọi niên đại đều là suy từ phong cách.
Hồ Âm Ty và cửa Thông Thiên là gì
Hồ Âm Ty là hồ nước tự nhiên nằm trong lòng hang, theo các tư liệu thì nước trong và không cạn quanh năm. Qua hồ Âm Ty về phía cuối động là khoảng nền phẳng có hai cửa Thông Thiên mở lên vòm trời đưa ánh sáng tự nhiên rọi xuống các khối nhũ đá, từ đó có lối lên lầu Vọng Thị nhìn ra núi Tô Thị.
Lễ hội chùa Tam Thanh mở ngày nào
Mở vào rằm tháng Giêng âm lịch. Nét riêng của kỳ hội là đám rước bài vị Ngô Thì Sĩ từ chùa Tam Giáo bên động Nhị Thanh sang chùa Tam Thanh, kèm múa rồng và múa lân. Ngoài kỳ hội này, chùa còn các lễ Phật theo ngày âm lịch như rằm tháng Tư và rằm tháng Bảy.