VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Tam Thanh

清禪寺 · Thanh Thiền tự

Ngôi chùa nằm trong lòng một hang đá vôi ở xứ Lạng, giữ pho tượng A Di Đà tạc nổi vào vách và tấm bia thơ của người từng làm đốc trấn nơi này.

Khởi dựng
Thời Lê
bia cổ nhất trong động ghi năm 1677
Tượng A Di Đà
202 cm
tạc nổi vào vách đá, rộng 65 cm
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng năm 1962

Từ đường Tam Thanh, quý vị leo ba mươi bậc đá đục vào sườn núi rồi bước vào một khoảng tối mát. Chùa không có mái, không có sân, không có tam quan theo lối thường: toàn bộ nơi thờ tự nằm trong lòng một hang đá vôi, các ban thờ dựa hẳn vào vách, nhũ đá rủ xuống ngay trên đầu hương án. Đi sâu thêm vài chục bước, trên một mặt đá bên phải hiện ra hình một vị Phật trong áo cà sa, tạc nổi lên chính thân núi chứ không đặt trên bệ. Đó là pho tượng A Di Đà.

Tên chữ của chùa là Thanh Thiền tự, nhưng người xứ Lạng quen gọi theo tên động là chùa Tam Thanh. Hai chữ Tam Thanh vốn không phải chữ nhà Phật; đó là danh xưng của Đạo Giáo. Ngôi chùa hôm nay theo Phật Giáo Bắc Tông, bày ban thờ theo lối tiền Phật hậu Thánh, nên đứng trong hang này quý vị đọc được nhiều lớp tín ngưỡng xếp lên nhau chứ không chỉ một lớp.

Chùa Tam Thanh
Chùa Tam Thanh. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

Tên Gọi Và Các Lớp Tín Ngưỡng

Nơi này mang nhiều tên cùng lúc, mỗi tên nói một lớp lịch sử. Thanh Thiền tự là tên chữ; chính hai chữ Thanh Thiền còn nằm trên tấm bia cổ nhất trong động, tấm bia ghi việc trùng tu Thanh Thiền động năm 1677. Chùa Tam Thanh là tên dân gian, gọi theo tên hang chứa nó. Người xứ Lạng còn xếp cả khu này vào hàng đầu trong tám cảnh của trấn, nên có thêm cách gọi đệ nhất bát cảnh xứ Lạng.

Xin nói rõ một điều về chữ Hán ghi kèm trang này. Chúng tôi chưa tra được bức hoành phi hay tấm bia nào cho phép chép nguyên dạng chữ Hán tên chùa, nên dòng chữ 清禪寺 ở đầu trang là do thư viện suy ra từ tên chữ Thanh Thiền tự chứ không phải bản chép từ hiện vật.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Đạo Giáo, Tam Thanh là ba cõi trời cao nhất cùng ba vị chủ của ba cõi ấy: Ngọc Thanh, Thượng ThanhThái Thanh. Đây là hàng trên hết trong hệ thần linh Đạo Giáo, đứng trước cả Ngọc Hoàng. Người xưa lấy danh xưng ấy đặt cho một hang núi là muốn nói hang có ba tầng ba lớp như ba cõi trời, một lối đặt tên quen thấy ở các hang được dùng làm chỗ thờ tự.

Còn theo giáo nghĩa Phật Giáo Bắc Tông, vị được tạc vào vách hang là A Di Đà, đức Phật của cõi Tây phương Cực Lạc. Pháp môn gắn với vị này là niệm danh hiệu Phật để nguyện sinh về cõi ấy, pháp môn phổ biến nhất trong dân gian Bắc Bộ.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, tư liệu di tích của địa phương chép rằng ban đầu hang này là nơi thờ Tam Thanh theo Đạo Giáo, về sau mới tiếp nhận thêm lớp Phật Giáo và lớp Nho Giáo, rồi định hình thành một ngôi chùa. Cách bày ban thờ hiện nay còn giữ dấu của quá trình ấy: lớp ngoài thờ Phật, lớp trong thờ Thánh, tức lối tiền Phật hậu Thánh mà nhiều chùa Bắc Bộ dùng để chứa cả hai hệ thần linh trong một khuôn viên. Nói gọn lại, cái tên Tam Thanh là vật chứng cho lớp thờ tự cũ nhất, còn nội dung thờ tự hiện thời đã thuộc về Phật Giáo Bắc Tông; đó là dấu vết bình thường của lối thờ tự nhiều lớp trên đất nước ta.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay lẫn nhất ở đây không phải chuyện thần phật mà là chuyện địa danh: nhiều người coi động Tam Thanhđộng Nhị Thanh là một, hoặc coi chùa Tam Thanh và chùa Tam Giáo là hai tên của cùng một ngôi chùa. Xin nói bằng giọng sử liệu: đó là hai hang khác nhau nằm kề nhau, mỗi hang chứa một ngôi chùa riêng.

Động Tam Thanh chứa chùa Tam Thanh, tên chữ Thanh Thiền tự, có từ thời Lê, với tấm bia sớm nhất ghi năm 1677. Động Nhị Thanh chứa chùa Tam Giáo, do Ngô Thì Sĩ cho dựng năm Kỷ Hợi 1779 khi ông làm đốc trấn Lạng Sơn, thờ chung cả ba nhà Nho, Đạo và Phật; trên vòm động ấy có pho tượng chính ông tạc vào vách. Tên Nhị Thanh cũng do ông đặt, lấy từ biệt hiệu Nhị Thanh cư sĩ. Hai cổng động cách nhau khoảng năm trăm mét đường đi bộ, và chính khoảng cách gần ấy làm việc lẫn tên xảy ra thường xuyên.

Niên Đại Và Các Tấm Bia Trong Động

Lịch sử ngôi chùa này được đọc chủ yếu từ đá. Không có bộ sử biên niên nào chép năm dựng chùa, nhưng trên các vách hang còn một hệ thống bia ma nhai, tức bia khắc trực tiếp vào mặt đá, làm thành một chuỗi mốc trải từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 20.

  • Thời LêChùa trong động Tam Thanh
    Tư liệu di tích của địa phương chép chùa có từ thời Lê. Không có văn bản đương thời nào cho biết năm khởi dựng cụ thể.
  • 1677Bia Trùng tu Thanh Thiền động
    Tấm bia ma nhai cổ nhất còn đọc được trong động. Đây là mốc sớm nhất có hiện vật làm chứng cho việc thờ tự tại đây.
  • 1777Ngô Thì Sĩ làm đốc trấn Lạng Sơn
    Ngô Thì Sĩ, sinh năm 1726 và mất năm 1780, giữ chức đốc trấn Lạng Sơn từ năm 1777 tới năm 1780. Ông là người khảo và đặt tên cho nhiều cảnh trong trấn.
  • 1779Động Nhị Thanh và chùa Tam Giáo
    Năm Kỷ Hợi, Ngô Thì Sĩ khảo ra động Nhị Thanh ở kề bên và cho dựng chùa Tam Giáo trong động ấy, thờ chung Nho, Đạo và Phật. Cùng giai đoạn này, bài thơ của ông được khắc lên vách trước cửa hang chùa Tam Thanh; tư liệu địa phương ghi tên bài là Vịnh Tiên Sơn tự.
  • 1918Hai tấm bia thời Nguyễn
    Trong động còn bia của Đoàn Đình Duyệt và Tôn Thất Tố, hai người từng giữ chức trong triều Nguyễn, khắc vào năm này.
  • 1924Tấm bia chữ Nôm
    Một tấm bia khắc bằng chữ Nôm, loại hiện vật ít gặp trong hệ thống bia ma nhai, cho thấy lớp văn tự dân gian cũng để dấu trên vách hang.
  • 1962Di tích quốc gia
    Khu danh thắng gồm động Nhị Thanh, động Tam Thanh, núi Tô Thị và thành nhà Mạc được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng ra thay vì chọn bừa một con số.

Thứ nhất là niên đại pho tượng A Di Đà. Một số tư liệu xếp pho tượng vào thế kỷ 15, tức thời Lê sơ. Một số tư liệu khác lại xếp theo phong cách nghệ thuật Lê Mạc, tức khoảng thế kỷ 16 sang thế kỷ 17. Khoảng chênh giữa hai cách ghi hơn một trăm năm. Pho tượng không có minh văn ghi năm tạc, nên mọi niên đại đưa ra đều là suy từ phong cách chạm khắc; chúng tôi ghi cả hai.

Thứ hai là năm khởi dựng chùa. Cách ghi phổ biến là chùa có từ thời Lê, nhưng đó là một khoảng gần bốn trăm năm chứ không phải một mốc. Vật chứng sớm nhất trong động là tấm bia năm 1677, thuộc thời Lê Trung Hưng; nghĩa là việc thờ tự ở đây chắc chắn có trước năm ấy, còn trước đó bao lâu thì chưa có hiện vật nào nói được.

Một Ngôi Chùa Trong Lòng Núi

Điểm cần nắm trước tiên: ở đây không có kiến trúc theo nghĩa xây cất. Hang đá vôi là toàn bộ phần vỏ của ngôi chùa, còn phần do người làm chỉ gồm bậc đá, hương án, ban thờ và những gì tạc vào vách. Cả khu danh thắng rộng hơn năm mươi hai hecta, hang động ở đây được các tài liệu tính tuổi khoảng ba trăm triệu năm, nên cái khung của ngôi chùa già hơn mọi niên đại thờ tự ta có thể bàn tới.

Ba mươi bậc đá

Lối vào duy nhất, gồm ba mươi bậc đục thẳng vào sườn núi. Bậc đá làm nhiệm vụ của một tam quan, đưa người từ mặt đường lên một cao độ khác trước khi vào chỗ thờ tự.

Ban thờ trong hang

Bày theo lối tiền Phật hậu Thánh. Các ban dựa vào vách và nương theo hình thế tự nhiên của hang, nên không có trục dọc thẳng như chùa xây trên mặt đất.

Tượng A Di Đà tạc nổi

Pho tượng quan trọng nhất của chùa, cao 202 cm và rộng 65 cm, tạc nổi trực tiếp vào vách, thể hiện vị Phật trong áo cà sa đứng trong một hình lá bồ đề. Tượng là một phần của chính thân núi nên không thể di chuyển.

Hồ Âm Ty

Hồ nước trong lòng hang, theo các tư liệu thì nước trong và không cạn quanh năm, chung quanh là nhũ đá. Tên Âm Ty chỉ cõi âm, đặt theo cảm giác của người đứng trước một mặt nước tối trong lòng đất.

Cửa Thông Thiên

Chỗ vòm hang mở lên trời ở phía cuối động, đưa ánh sáng tự nhiên rọi xuống các khối nhũ đá. Đây là điểm sáng duy nhất trong một hang tối.

Hệ thống bia ma nhai

Các tấm bia khắc trực tiếp vào mặt đá, trải từ tấm năm 1677 tới các tấm năm 1918 và năm 1924, gồm cả bia chữ Hán và một tấm chữ Nôm. Đây là lớp tư liệu gốc quan trọng nhất của di tích.

Cách bố trí ấy tạo ra một trình tự đi lễ khác hẳn chùa xây. Ở chùa xây, người ta đi từ sáng vào tối và vật quan trọng nhất nằm ở chỗ tối nhất trong cùng. Ở đây thì ngược: quý vị vào bằng một cửa tối, gặp các ban thờ và pho tượng tạc vách ở khoảng giữa, rồi đi tiếp về phía cuối động, nơi cửa Thông Thiên mở ra ánh sáng.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ nữa hay bị hiểu sai: pho tượng A Di Đà ở đây không phải tượng tạc rời rồi gắn vào vách, và cũng không phải tượng tròn. Đó là tượng tạc nổi, tức người xưa đục lõm phần chung quanh để hình tượng nhô ra khỏi mặt đá, nên tượng và núi là một khối. Cách làm này giải thích vì sao pho tượng chịu được mấy trăm năm trong một hang ẩm, và vì sao không thể đem tượng đi đâu để bảo quản.

Thế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng nói đầu tiên là ở đây người xưa không dựng nhà mà nhận lấy một cái hang. Trong phép xem đất, hang trong núi được coi là chỗ khí đã tự tụ sẵn: núi đá là hậu chẩm có thật, không phải hậu chẩm thay bằng gò đất như ở đồng bằng châu thổ; vách hang giữ khí không cho tán; lòng hang kín gió. Một chỗ như vậy không cần người sửa sang thêm, chỉ cần đặt hương án vào đúng chỗ.

Xét theo ngũ hành, thế đất này thuộc lối Thổ bọc Thủy. Núi đá vôi là Thổ, còn hồ Âm Ty trong lòng hang là Thủy, một mạch nước nằm kín bên trong khối núi chứ không lộ ra ngoài. Trong sách cũ, nước lộ thiên thì dẫn khí đi, nước ẩn trong đất thì giữ khí lại. Một hang có mạch nước không cạn quanh năm vì thế được xếp vào hàng đất giữ khí bền, và cái tên Âm Ty cũng nói đúng cảm nhận đó: đây là phần âm, phần lặng, phần chứa.

Kế đến là cửa Thông Thiên, chi tiết chúng tôi cho là quan trọng nhất khi đọc thế đất nơi này. Một cái hang kín hoàn toàn, theo lối nhìn cổ truyền, là chỗ khí tụ mà không thông, tức tụ thành bế. Cửa Thông Thiên ở cuối động phá cái bế ấy: nó mở một lối cho khí trời và ánh sáng đi xuống, gặp khí đất trong lòng hang. Người xưa đặt tên là Thông Thiên, nghĩa là thông lên trời, chứ không đặt một tên tả cảnh nào khác. Đọc theo phép cũ thì đây là chỗ thiên khí và địa khí giao nhau, và một hang thờ tự có đủ hai chiều ấy mới được coi là hang sống.

Về hướng, cửa động mở ra phía đường Tam Thanh ở chân núi, tức mở ra phía đất bằng và phía có người ở, lưng dựa vào khối núi. Đây là thế thuận của nơi thờ tự trong hang: quay mặt về phía làng, tựa lưng vào phía núi. Ba mươi bậc đá dẫn lên cửa động đóng vai trò tôn nền, đưa chỗ thờ lên cao hơn chỗ đi lại thường ngày.

Cuối cùng là thế cụm. Động Nhị Thanh, động Tam Thanh, núi Tô Thị và thành nhà Mạc nằm quây quần trong cùng một vùng núi đá vôi, mạch đá không bị cắt. Trong phép xem đất, nhiều điểm thờ tự trên một mạch núi liền thì làm thành một hệ có sinh khí chung, và lễ rằm tháng Giêng rước bài vị từ chùa bên Nhị Thanh sang chùa bên Tam Thanh, theo con mắt ấy, là việc nối hai đầu của cùng một mạch mỗi năm một lần.

Lễ Rằm Tháng Giêng Và Lệ Trong Năm

Lễ hội chính của chùa mở vào rằm tháng Giêng, và điều đáng chú ý là trung tâm của đám rước không phải một vị Phật mà là bài vị Ngô Thì Sĩ, người từng làm đốc trấn Lạng Sơn. Bài vị được rước từ chùa Tam Giáo bên động Nhị Thanh sang chùa Tam Thanh, tức đi qua đúng khoảng cách giữa hai hang.

Các mốc lễ chính trong năm tại chùa và trong khu động. Nguồn: Tư liệu giới thiệu di tích danh thắng của địa phương..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngHội chùa Tam ThanhKỳ hội chính trong năm. Phần lễ gồm lễ Phật và lễ tế, phần hội có các trò diễn dân gian của các khối dân cư trong vùng.
Rằm tháng GiêngRước bài vị Ngô Thì SĩĐám rước đưa bài vị từ chùa Tam Giáo bên động Nhị Thanh sang chùa Tam Thanh, có múa rồng và múa lân đi kèm.
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLệ thường kỳNhịp dâng hương đều đặn quanh năm của người trong vùng, theo lệ chung của chùa Bắc Tông.
Rằm tháng Tư và rằm tháng BảyLễ Phật đản và lễ Vu LanHai kỳ lễ Phật lớn nhất trong năm của các chùa Bắc Tông, cử hành theo nghi thức của tông phái.

Việc rước bài vị một vị quan văn trong kỳ hội chùa nói nhiều hơn nó thoạt trông. Ngô Thì Sĩ không dựng chùa Tam Thanh; ông dựng chùa Tam Giáo ở hang bên. Nhưng ông là người đã khảo, đặt tên và viết về cả vùng hang động này, nên trong ký ức người xứ Lạng ông gắn với cả khu chứ không gắn riêng một ngôi chùa.

Nơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Động Tam Thanh, đường Tam Thanh, phường Tam Thanh, tỉnh Lạng Sơn
Đường tới
Chùa nằm trong động Tam Thanh, đường Tam Thanh, phường Tam Thanh, tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm thành phố chừng hai cây số. Từ cổng sau động Nhị Thanh có đường đi bộ sang động Tam Thanh, khoảng năm trăm mét.
Toạ độ
21.8608, 106.7494
Khi tới nơi

Lệ của chính nơi này có mấy điều: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong hang, đi nhẹ nói khẽ vì lòng hang vang tiếng rất xa. Lối đi trong động hẹp, đá ẩm và trơn, xin quý vị theo một chiều và không chen ở chỗ bậc. Không chạm tay vào pho tượng tạc vách và các khối nhũ đá, không viết vẽ lên mặt bia ma nhai, không thả tiền hay đồ lễ xuống hồ Âm Ty. Việc chiếu đèn mạnh hay quay phim trong hang xin hỏi người trông coi trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Tam Thanh thờ ai

Chùa theo Phật Giáo Bắc Tông, ban thờ bày theo lối tiền Phật hậu Thánh, lớp ngoài thờ Phật và lớp trong thờ Thánh. Pho tượng quan trọng nhất là tượng A Di Đà tạc nổi vào vách đá. Tên Tam Thanh vốn là danh xưng của Đạo Giáo, dấu vết của lớp thờ tự cũ hơn tại hang này.

Chùa Tam Thanh và động Nhị Thanh có phải một chỗ không

Không, đó là hai hang khác nhau nằm kề nhau, cách nhau khoảng năm trăm mét đường đi bộ. Động Tam Thanh chứa chùa Tam Thanh, tên chữ Thanh Thiền tự, có từ thời Lê. Động Nhị Thanh chứa chùa Tam Giáo, do Ngô Thì Sĩ cho dựng năm 1779, thờ chung Nho, Đạo và Phật.

Tượng A Di Đà ở chùa Tam Thanh có từ bao giờ

Pho tượng cao 202 cm, rộng 65 cm, tạc nổi trực tiếp vào vách đá. Niên đại thì nguồn ghi vênh nhau: có tư liệu xếp vào thế kỷ 15, có tư liệu xếp theo phong cách nghệ thuật Lê Mạc tức khoảng thế kỷ 16 sang thế kỷ 17. Tượng không có minh văn ghi năm tạc nên mọi niên đại đều là suy từ phong cách.

Hồ Âm Ty và cửa Thông Thiên là gì

Hồ Âm Ty là hồ nước nằm trong lòng hang, theo các tư liệu thì nước trong và không cạn quanh năm. Cửa Thông Thiên là chỗ vòm hang mở lên trời ở phía cuối động, đưa ánh sáng tự nhiên rọi xuống các khối nhũ đá. Hai điểm này là hai thứ được nhắc nhiều nhất khi người ta tả cảnh trong động.

Lễ hội chùa Tam Thanh mở ngày nào

Mở vào rằm tháng Giêng âm lịch. Nét riêng của kỳ hội là đám rước bài vị Ngô Thì Sĩ từ chùa Tam Giáo bên động Nhị Thanh sang chùa Tam Thanh, kèm múa rồng và múa lân. Ngoài kỳ hội này, chùa còn các lễ Phật theo ngày âm lịch như rằm tháng Tư và rằm tháng Bảy.

Đọc Tiếp