Đứng trên con đường chạy quanh chân núi Sam, quay lưng lại phía miếu Bà, quý vị thấy một bức tường đá dày thấp, trên tường mở hai cửa vòm bán nguyệt, và sau cửa là chín bậc đá dẫn lên một khoảng sân gạch. Trên sân ấy có ba ngôi mộ vôi đặt song song, mỗi ngôi có một tấm bình phong đá chắn trước. Không có mái chùa, không có tháp, không có tượng Phật.
Đây là một ngôi lăng mộ, chỗ chôn và chỗ thờ của một gia đình. Người nằm ở ngôi mộ giữa là Nguyễn Văn Thoại, tước Thoại Ngọc Hầu, vị quan triều Nguyễn đã trông coi việc đào kênh Vĩnh Tế và mở đất Châu Đốc. Hai ngôi hai bên là mộ hai bà phu nhân. Dân trong vùng gọi cả khu này là Sơn Lăng.

壹Người Được Thờ Và Lối Thờ Nhân Thần
Nguyễn Văn Thoại sinh năm 1761 tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc địa bàn Đà Nẵng, rồi theo gia đình vào đất Nam Bộ. Ông được vua Gia Long phong tước Ngọc Hầu, từng giữ chức bảo hộ Cao Miên, và năm 1817 nhận chức trấn thủ Vĩnh Thanh, đóng ở Châu Đốc. Ông mất năm 1829, ngày mùng sáu tháng Sáu âm lịch, khi vẫn đang tại chức ở vùng đất này.
Chữ Hán 山陵, tức Sơn Lăng, ghi ở đầu bài là chữ chúng tôi phiên theo tên gọi dân gian của khu lăng, không phải chữ chép từ một tấm bia cụ thể nào tại chỗ.
Xin nói rõ một câu trước khi đi tiếp: đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội. Nơi này không có tăng chúng, không có chức sắc, không có kinh sách, không có giáo lý; việc thờ do dân làng và ban quản lý di tích trông coi, theo lệ làng và lệ họ.
Trong lối thờ cổ truyền của người Việt, một người thật có công với đất đai, sau khi mất thì được dân thờ như thần, gọi là nhân thần, phân biệt với thiên thần là thần vốn không phải người. Đường đi của một nhân thần thường có ba chặng: giỗ trong họ, rồi dân làng thờ chung, rồi được triều đình ban sắc phong. Thoại Ngọc Hầu đi đủ ba chặng ấy, và chặng đầu bắt đầu rất sớm, vì ngôi lăng đã có trước cả khi ông mất.
Công việc gắn tên ông vào đất An Giang là việc đào kênh, và sử liệu thời Nguyễn ghi lại hai con kênh.
Kênh Thoại Hà, đào năm 1818, nối sông Đông Xuyên với đường nước về Rạch Giá, dài hơn ba mươi cây số. Sau khi kênh xong, triều Minh Mạng lấy tên ông đặt cho con kênh và cho ngọn núi Sập gần đó, thành Thoại Hà và Thoại Sơn. Năm 1822, ông cho dựng tại Thoại Sơn một tấm bia đá cao ba mét, ngang một mét hai, khắc 629 chữ Hán, chép việc đào kênh và lai lịch tên núi.
Kênh Vĩnh Tế là công việc lớn hơn nhiều, khởi công năm 1819 và hoàn thành năm 1824, chạy dọc biên giới tây nam nối Châu Đốc với Hà Tiên. Sau khi kênh xong, vua Minh Mạng lấy tên bà chính thất của ông là Châu Thị Tế mà đặt tên kênh là Vĩnh Tế, và đổi tên núi Sam thành Vĩnh Tế Sơn. Năm 1828, tấm bia Vĩnh Tế Sơn được dựng dưới chân núi, bằng đá sa thạch, cao hơn đầu người, khắc 730 chữ Hán. Sử liệu còn ghi ông cho lập năm làng dọc tuyến biên giới năm 1823 và đắp con đường từ Châu Đốc lên núi Sam dài chừng năm cây số vào năm 1826.
Về quy mô việc đào kênh Vĩnh Tế thì nguồn vênh nhau rất mạnh, xin ghi cả. Tài liệu của Văn nghệ An Giang ghi kênh dài 87 cây số, rộng khoảng 30 mét, sâu chừng 2,5 mét, trong đó chỉ khoảng 37 cây số phải đào mới, phần còn lại lợi dụng đường nước có sẵn; số người tham gia được ghi là hơn 80.200 qua ba đợt. Báo An Giang thì ghi số dân công lên tới khoảng 800.000. Hai con số lệch nhau gấp mười lần, chúng tôi chưa tra được tài liệu nào chốt dứt điểm nên ghi cả hai.
Có ba chỗ hay hiểu lầm về nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu.
Thứ nhất, tên kênh Vĩnh Tế không lấy từ tên ông. Chữ Tế trong Vĩnh Tế là tên bà Châu Thị Tế, chính thất của ông, do vua Minh Mạng lấy mà đặt cho con kênh sau khi kênh hoàn thành. Con kênh mang tên ông là kênh Thoại Hà ở vùng núi Sập.
Thứ hai, tấm bia Thoại Sơn ở khu lăng là bản sao. Bia gốc dựng năm 1822 nằm tại đất Thoại Sơn, tức vùng núi Sập, cách khu núi Sam khá xa; tấm đặt trong khuôn viên Sơn Lăng là bản sao. Tấm bia gắn với chính chỗ này là bia Vĩnh Tế Sơn năm 1828.
Thứ ba, Sơn Lăng không phải một ngôi chùa hay một ngôi miếu. Miếu Bà Chúa Xứ là miếu thờ nữ thần đất đai, chùa Tây An là chùa Phật Giáo Bắc Tông có tăng chúng, còn Sơn Lăng là lăng mộ và đền thờ một nhân thần. Ba nơi cùng nằm dưới chân một khối núi nhưng thuộc ba lớp thờ tự khác nhau.
貳Từ Sinh Phần Đến Nơi Thờ Chung
Điểm lạ nhất trong lịch sử khu lăng là nó được dựng khi người chủ còn sống. Theo tư liệu địa phương, chính Thoại Ngọc Hầu cho xây khu lăng này, tức xây sinh phần, chỗ chôn định trước cho mình và cho người trong nhà. Về năm xây thì nguồn vênh nhau: một bài của Báo An Giang ghi lăng xây năm 1822, tức năm Minh Mạng thứ ba; một bài khác của cùng tờ báo chỉ ghi chung là cuối những năm hai mươi của thế kỷ 19. Chúng tôi ghi cả hai.
- 1817Nhận chức trấn thủ Vĩnh ThanhNguyễn Văn Thoại về đóng ở Châu Đốc. Mốc mở đầu quãng thời gian ông gắn với vùng đất này cho tới lúc mất.
- 1818Đào kênh Thoại HàKênh nối sông Đông Xuyên với đường nước về Rạch Giá, dài hơn ba mươi cây số. Triều Minh Mạng sau đó lấy tên ông đặt cho kênh và cho núi Sập.
- 1819Khởi công kênh Vĩnh TếCông việc lớn nhất gắn với tên ông, tiến hành theo nhiều đợt, chạy dọc tuyến biên giới từ Châu Đốc về Hà Tiên.
- 1822Dựng bia Thoại Sơn và xây Sơn LăngBia Thoại Sơn khắc 629 chữ Hán dựng tại vùng núi Sập. Cùng năm này, theo một nguồn, khu lăng ở chân núi Sam bắt đầu được xây làm sinh phần.
- 1824Hoàn thành kênh Vĩnh TếKênh xong sau năm năm. Vua Minh Mạng lấy tên bà Châu Thị Tế đặt cho kênh, và đổi tên núi Sam thành Vĩnh Tế Sơn.
- 1826Đắp đường Châu Đốc lên núi SamCon đường dài chừng năm cây số nối Châu Đốc với chân núi Sam, về sau gọi là Tân Lộ Kiều Lương.
- 1828Dựng bia Vĩnh Tế SơnTấm bia đá sa thạch khắc 730 chữ Hán dựng dưới chân núi, chép việc đào kênh và việc đặt tên núi. Đây là hiện vật gắn trực tiếp với khu lăng.
- 1980Di tích quốc giaKhu lăng được xếp hạng di tích cấp quốc gia cùng đợt với cụm di tích núi Sam, gồm miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tây An và chùa Hang.
Hai bà phu nhân được chôn trong khu lăng đều mất trước ông. Bà chính thất là Nhất phẩm phu nhân Châu Thị Tế, người mà tên được lấy đặt cho kênh Vĩnh Tế, mộ nằm bên phải mộ ông. Bà thứ thất là Diệc phẩm phu nhân Trương Thị Miệt, mộ nằm bên trái. Cách đặt ấy giữ đúng thứ bậc chính thất và thứ thất theo lễ nghi thời Nguyễn.
Ngoài ba ngôi mộ chính, trong và quanh khuôn viên còn hơn năm mươi ngôi mộ vô danh. Tư liệu địa phương cho biết đây là mộ của những người giúp việc trong nhà và của dân công đã chết trong thời gian đào kênh. Khu lăng vì thế gom cả những người không có tên trong sử vào cùng một khuôn viên.
參Bố Cục Sơn Lăng
Khu lăng dựa lưng vào vách núi Sam và mở mặt ra con đường quanh chân núi. Toàn khu nằm trong một bức tường đá dày bao kín, trên tường mở hai cửa bán nguyệt làm lối vào, và từ cửa lên tới sân mộ phải bước qua chín bậc đá. Đá xây các bậc này, theo tư liệu địa phương, được chở từ miền Đông về.
Lối vào chính. Hình cửa vòng bán nguyệt và con số chín bậc là hai chi tiết thuộc lễ chế lăng mộ quan lại thời Nguyễn, dùng phân biệt lăng với mộ thường dân.
Khoảng sân gạch rộng trước ba ngôi mộ. Mỗi ngôi có một tấm bình phong đá chắn phía trước, vừa để che, vừa buộc người vào phải đi vòng chứ không bước thẳng vào mộ.
Mộ Thoại Ngọc Hầu ở giữa, mộ Nhất phẩm phu nhân Châu Thị Tế bên phải, mộ Diệc phẩm phu nhân Trương Thị Miệt bên trái. Mộ đắp vôi, dáng được mô tả là hình bầu dục, hình voi phục và hình quả đào.
Các nếp nhà nhỏ trên sân lăng, dùng đặt long đình để rước bài vị trong ngày lễ và làm chỗ dừng của đoàn tế.
Nếp nhà thờ đặt bài vị, hương án và một pho tượng bán thân Thoại Ngọc Hầu. Đây là chỗ dâng hương thường ngày, tách khỏi phần mộ ngoài sân.
Bia Vĩnh Tế Sơn năm 1828 khắc 730 chữ Hán, gắn trực tiếp với chỗ này. Bên cạnh là bản sao bia Thoại Sơn năm 1822 khắc 629 chữ Hán, bia gốc nằm ở vùng núi Sập.
Điều đáng nói về bố cục là trục đi. Người vào lăng phải qua cửa hẹp, lên bậc, ra sân, rồi mới thấy mộ, và trước mộ lại còn tấm bình phong. Bốn lớp ngắt ấy làm bước chân chậm dần, và đó là cách lăng mộ cổ truyền tạo ra sự trang nghiêm mà không cần tới kích thước lớn. So với lăng mộ quan lại cùng thời ở miền Trung, Sơn Lăng nhỏ và thấp hơn nhiều; giá trị nằm ở chỗ còn nguyên bố cục và hai tấm văn bia.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Với mộ phần thì phép xem đất cổ truyền có tên riêng là âm trạch, phân biệt với dương trạch là đất ở của người sống. Ở âm trạch, thứ được coi trọng nhất là chỗ dựa phía sau, gọi là hậu chẩm, tức chỗ gối đầu. Sơn Lăng dựa hẳn vào vách núi Sam, mà núi Sam lại là khối núi duy nhất nhô lên giữa cả một vùng đồng bằng phẳng. Đọc theo lối cũ, đây là chỗ gối đầu vào độc sơn, và trong vùng châu thổ thì một chỗ gối đầu như thế là của hiếm.
Về thủy, khu lăng nằm trong vùng nước bao bốn phía: ruộng nước, rạch nhỏ, và cách đó không xa là dòng kênh Vĩnh Tế do chính người nằm trong mộ cho đào. Trong phép cũ, nước trước mộ giữ vai trò minh đường, khoảng sáng phía trước để khí tụ lại, nhưng không được chảy xói vào mộ. Ở đây nước chảy chậm và dàn rộng, đúng thế mà sách cũ gọi là thủy tụ chứ không phải thủy xung.
Về hướng, lăng mở mặt ra phía con đường quanh chân núi, lưng dựa vách núi. Cái đáng đọc không phải phương vị la bàn mà là quan hệ giữa mộ và công trình của người nằm trong mộ: mặt lăng hướng ra vùng đất đã khai khẩn nhờ con kênh, lưng tựa khối núi mang tên vợ ông. Đọc theo con mắt cổ truyền, đây là thế tọa sơn hướng điền.
Còn một lớp nữa ít người để ý, là lớp sinh phần. Chọn chân núi Sam chứ không chọn quê gốc ở Quảng Nam là một lựa chọn nói được nhiều điều: nó gắn người với đất mới chứ không gắn với đất cũ. Ba nơi thờ tự lớn quanh chân núi cũng chia nhau ba lớp: chùa Tây An cho đạo, miếu Bà cho thần đất, Sơn Lăng cho người khai khẩn.
伍Lễ Giỗ Và Lễ Thỉnh Sắc
Lễ ở Sơn Lăng theo lệ giỗ chứ không theo lịch của một tôn giáo. Ngày trọng nhất là ngày mất của ông, mùng sáu tháng Sáu âm lịch. Ngoài ra khu lăng còn dự vào một nghi thức của lễ hội bên miếu Bà.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 6 tháng Sáu | Giỗ Thoại Ngọc Hầu | Ngày mất của ông, lễ trọng nhất trong năm tại khu lăng, có lễ dâng hương, tế lễ và đọc văn tế trước đền thờ. |
| Sáng sớm ngày giỗ | Lễ tế chính tại lăng | Nghi thức tế tiến hành từ tờ mờ sáng tại khu lăng, do ban tế và các vị bô lão trong vùng đảm nhiệm. |
| Ngày 25 tháng Tư | Lễ thỉnh sắc | Đoàn rước sang lăng thỉnh bài vị Thoại Ngọc Hầu, gồm lễ nguyện hương, thỉnh bài vị, niệm hương và tế lễ, rồi đưa bài vị lên long đình theo ba hồi chiêng trống. |
| Ngày 25 tháng Tư | Rước bài vị về miếu Bà | Đoàn do đoàn lân dẫn đầu, tiếp đến ông Hương lễ bưng khay trầu rượu, học trò lễ hai bên, hai ông chánh tế, ba ông bồi tế, ba ông chấp kích và các vị bô lão. |
| Những ngày lễ hội tháng Tư | Mùa lễ hội của cả cụm | Trong mùa lễ hội Vía Bà Chúa Xứ, khu lăng cũng đông người viếng vì lễ thỉnh sắc bắt đầu từ đây. |
Lễ thỉnh sắc là chi tiết đáng nhớ nhất trong lịch lễ của khu lăng, vì nó cho thấy hai nơi thờ tự thuộc hai lớp khác nhau đã nối vào nhau bằng một nghi thức. Bài vị của một nhân thần được rước từ lăng sang miếu của một nữ thần đất đai, ở lại đó suốt những ngày lễ hội, rồi mới trở về.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Sam, phường Vĩnh Tế, An Giang
- Đường tới
- Khu lăng nằm dưới chân núi Sam, phường Vĩnh Tế, An Giang, thuộc thành phố Châu Đốc cũ, ở phía đối diện miếu Bà Chúa Xứ. Từ đây đi bộ được sang miếu Bà, chùa Tây An và chùa Hang trong cùng cụm di tích núi Sam.
- Toạ độ
- 10.6812, 105.0894
Đây là khu mộ phần và đền thờ, nên lệ của nơi mộ phần cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào đền thờ, đi nhẹ nói khẽ, không ngồi hay đặt đồ lên thành mộ và lên tấm bình phong, không chạm tay vào mặt hai tấm bia đá. Các ngôi mộ vô danh trong khuôn viên cũng là mộ, xin đi vòng theo lối đã mở. Người trong vùng có lệ dâng hương ở đền thờ trước rồi mới ra sân mộ. Tháng Tư và tháng Sáu âm lịch là lúc đông nhất.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Lăng Thoại Ngọc Hầu thờ ai
Thờ Nguyễn Văn Thoại, tước Thoại Ngọc Hầu, vị quan triều Nguyễn trông coi việc đào kênh Vĩnh Tế và mở đất Châu Đốc, cùng hai bà phu nhân Châu Thị Tế và Trương Thị Miệt. Đây là tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội.
Kênh Vĩnh Tế có phải đặt theo tên Thoại Ngọc Hầu không
Không. Chữ Tế trong Vĩnh Tế là tên bà Châu Thị Tế, chính thất của ông, do vua Minh Mạng lấy mà đặt sau khi kênh hoàn thành năm 1824. Con kênh mang tên ông là kênh Thoại Hà ở vùng núi Sập, đào năm 1818.
Trong lăng có mấy ngôi mộ
Ba ngôi mộ chính: mộ Thoại Ngọc Hầu ở giữa, mộ Nhất phẩm phu nhân Châu Thị Tế bên phải, mộ Diệc phẩm phu nhân Trương Thị Miệt bên trái. Ngoài ra còn hơn năm mươi ngôi mộ vô danh của người giúp việc và dân công chết trong thời gian đào kênh.
Bia Vĩnh Tế Sơn và bia Thoại Sơn khác nhau thế nào
Bia Vĩnh Tế Sơn dựng năm 1828 dưới chân núi Sam, đá sa thạch, khắc 730 chữ Hán, chép việc đào kênh Vĩnh Tế. Bia Thoại Sơn dựng năm 1822 ở vùng núi Sập, khắc 629 chữ Hán, chép việc đào kênh Thoại Hà; tấm trong khuôn viên lăng là bản sao.
Lễ giỗ Thoại Ngọc Hầu vào ngày nào
Ngày mùng sáu tháng Sáu âm lịch, là ngày ông mất năm 1829. Ngoài ra ngày 25 tháng Tư âm lịch có lễ thỉnh sắc, khi đoàn rước sang lăng thỉnh bài vị ông rồi đưa về an vị tại miếu Bà Chúa Xứ trong những ngày lễ hội.