Từ đồng bằng ven biển nhìn lên, núi Tà Cú là một khối xanh sẫm đứng lẻ giữa ruộng và rẫy thanh long, không nối vào dãy nào. Lên tới lưng chừng núi, quý vị gặp trước hết một khoảng sân đá, rồi mái chùa thấp nép dưới vách. Đi thêm về phía sau chùa, cây thưa dần, và pho tượng hiện ra: một thân Phật nằm nghiêng dài bốn mươi chín mét, tay phải gối đầu, đặt thẳng trên sườn núi, không có mái che nào ở trên.
Nơi này thực ra không phải một ngôi chùa mà là hai. Chùa Trên tên chữ là Linh Sơn Trường Thọ, người trong vùng gọi là chùa Tổ; chùa Dưới tên chữ là Linh Sơn Long Đoàn. Hai ngôi cách nhau một quãng dốc, thuộc cùng một sơn môn, và cả hai đều bắt nguồn từ một cái hang đá nơi một nhà sư ngồi tu hơn mười năm trước khi có bất cứ nếp nhà nào trên núi này.

壹Tổ Hữu Đức Và Cái Hang Trên Núi
Chùa núi Tà Cú thuộc Phật giáo Bắc tông, tức dòng Phật giáo Đại thừa phổ biến ở người Việt, thờ Phật Thích Ca cùng chư Bồ tát. Nhưng cái làm nên tư cách tổ đình của nơi này không nằm ở hệ tượng thờ, mà nằm ở một con người cụ thể: vị khai sơn mà các đời sau gọi là Tổ Hữu Đức.
Theo tư liệu của chùa và của địa phương, ngài họ Trần, thế danh Trần Hữu Đức, sinh năm 1812 ở đất Phú Yên, xuất gia rồi mang pháp danh Thông Ân, hiệu Hữu Đức. Năm 1872 ngài rời chỗ cũ, lên sườn núi Tà Cú, chọn một hang đá hẹp có mạch nước ngầm chảy qua làm chỗ tu. Cái hang ấy nay được gọi là hang Tổ. Ngài ở đó nhiều năm, hái thuốc và chữa bệnh cho người quanh vùng, trước khi có bất cứ công trình nào được dựng lên. Ngài viên tịch năm 1887, thọ bảy mươi sáu tuổi.
Trong nếp nhà chùa, tổ đình là ngôi chùa gốc của một dòng truyền thừa, nơi vị khai sơn từng ở và nơi đặt tháp mộ của ngài. Các chùa do đệ tử lập ra về sau đều coi tổ đình là chỗ quay về, và ngày quan trọng nhất trong năm của một tổ đình không phải ngày lễ chung của nhà Phật mà là ngày húy kỵ, tức ngày giỗ vị tổ. Cách tính ấy giải thích vì sao ở Tà Cú, ngày đông người nhất trong lịch nhà chùa lại là mùng năm tháng Mười âm lịch chứ không phải rằm tháng Tư.
Tên chùa cũng đến từ chính con người ấy. Truyền tụng trong vùng kể rằng ngài từng gửi thuốc chữa khỏi bệnh cho Hoàng thái hậu Từ Dũ, và vua Tự Đức vì thế ban cho ngôi chùa trên núi bốn chữ Linh Sơn Trường Thọ, nghĩa là núi thiêng sống lâu. Bốn chữ ấy đặt ở đầu bài này chính là tên chữ của chùa Trên. Cần nói rõ rằng chuyện chữa bệnh thuộc lớp truyền tụng, không phải sử biên niên; các nguồn đặt việc ban tên vào khoảng năm 1880.
貳Từ Một Cái Hang Đến Hai Ngôi Chùa
Niên biểu ở đây chia làm hai đoạn rất khác nhau. Đoạn thứ nhất thuộc cuối thế kỷ 19, gắn với một người và một cái hang. Đoạn thứ hai thuộc giữa thế kỷ 20, khi trên sườn núi mọc lên những khối tượng lớn bằng xi măng, thứ đã làm cho ngọn núi này được biết tới rộng rãi.
- 1872Tổ Hữu Đức lên núiNhà sư Trần Hữu Đức, pháp danh Thông Ân, chọn một hang đá trên sườn nam núi Tà Cú làm chỗ tu. Trong hang có mạch nước ngầm, đủ cho việc sinh hoạt hằng ngày.
- 1879Dựng chùaNgôi chùa đầu tiên được dựng trên núi, thay cho việc tu trong hang. Đây là mốc thường được lấy làm năm khởi dựng của chùa Trên.
- Khoảng 1880Ban tên Linh Sơn Trường ThọTheo tư liệu địa phương, vua Tự Đức ban cho chùa bốn chữ Linh Sơn Trường Thọ. Việc này gắn với truyền tụng về chuyện chữa bệnh cho Hoàng thái hậu Từ Dũ.
- 1887Tổ Hữu Đức viên tịchNgài mất, thọ bảy mươi sáu tuổi. Tháp mộ được dựng trên núi. Ngày húy kỵ mùng năm tháng Mười âm lịch trở thành ngày lễ lớn nhất trong năm của chùa.
- Cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20Dựng chùa DướiCác đời kế tục lập thêm ngôi Linh Sơn Long Đoàn ở phía dưới, gánh phần tiếp khách thập phương, để chùa Tổ ở trên giữ được phần tĩnh.
- 1958Nhóm tượng Tam Thế PhậtBa pho tượng đứng gồm A Di Đà ở giữa, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí hai bên, được dựng trên sườn núi. Đây là công trình mở đầu cho lớp tượng lớn ngoài trời ở Tà Cú.
- 1962 tới 1966Tạc tượng Thích Ca nhập Niết BànPho tượng nằm dài 49 mét bằng xi măng cốt thép được thi công trên sườn núi phía sau chùa Trên, do điêu khắc gia Trương Đình Ý chủ trì. Về năm khởi công, một số nguồn ghi 1962, một số nguồn ghi 1963.
- 1993Xếp hạng di tích quốc giaKhu chùa núi Tà Cú được công nhận là di tích cấp quốc gia theo quyết định của Bộ Văn hóa Thông tin, ngày 11 tháng 9 năm 1993.
Có mấy chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng để quý vị biết mà cân nhắc.
Thứ nhất là chiều cao pho tượng nằm. Bài của báo địa phương ghi tượng dài 49 mét, cao 7 mét. Một bài báo khác ghi cao 11 mét. Một bài chuyên về pho tượng lại ghi chiều cao 12,2 mét tính từ vai xuống cốt nền, kèm chiều ngang chỗ bàn chân là 8,8 mét. Ba con số ấy nhiều khả năng đo theo ba mốc khác nhau, một đằng đo phần nổi trên nền hiện thấy, một đằng đo cả phần bệ chìm; nhưng chúng tôi chưa tra được bản đo chính thức nào nên ghi cả ba.
Thứ hai là loại hình xếp hạng. Có nguồn ghi đây là di tích lịch sử cấp quốc gia, có nguồn ghi là danh lam thắng cảnh cấp quốc gia. Cả hai đều dẫn cùng một mốc ngày 11 tháng 9 năm 1993. Thứ ba là tên người tạc tượng, phần lớn tài liệu ghi Trương Đình Ý, một số bài ghi Trương Định Ý. Và thứ tư là chiều cao nhóm Tam Thế Phật, nguồn ghi khoảng 6 mét, nguồn ghi khoảng 7 mét.
參Hai Ngôi Chùa Và Lớp Tượng Ngoài Trời
Khác với chùa đồng bằng vốn dàn theo một trục ngang bằng phẳng, cả khu này xếp theo độ cao. Đi từ dưới lên, quý vị gặp lần lượt chùa Dưới, chùa Trên, rồi tới lớp tượng lộ thiên ở phần cao nhất, và sau cùng, tách khỏi trục ấy, là hang Tổ nằm khuất trong vách đá. Chùa nằm ở độ cao khoảng 475 mét, còn đỉnh Tà Cú cao hơn nữa.
Ngôi dựng sau, nằm ở phần thấp, gánh việc tiếp khách thập phương và phần lớn sinh hoạt thường ngày của nhà chùa.
Chùa Tổ, ngôi gốc, nơi đặt chính điện thờ Phật và bàn thờ tổ. Bố cục gọn, nếp nhà thấp, dựa sát vách núi.
Hang đá hẹp có mạch nước ngầm, nơi tổ Hữu Đức tu từ năm 1872. Đây là điểm gốc của cả khu, tuy nằm khuất và ít người lên tới.
Tháp dựng sau khi tổ viên tịch năm 1887, cùng khu tháp của các vị trụ trì kế tục. Đây là dấu hiệu nhận biết một tổ đình.
Pho tượng nằm dài 49 mét bằng xi măng cốt thép, đặt lộ thiên trên sườn núi phía sau chùa Trên, thi công từ đầu thập niên 1960 tới năm 1966.
Ba pho tượng đứng trên đài sen, A Di Đà ở giữa, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí hai bên, dựng năm 1958, cách pho tượng nằm chừng năm mươi mét.
Pho tượng nằm
Tượng tạc Đức Thích Ca trong tư thế nhập Niết Bàn, tức nằm nghiêng về bên phải, tay phải gối dưới đầu, hai chân duỗi thẳng chồng lên nhau. Đây là tư thế quy định trong nghệ thuật Phật giáo cho khoảnh khắc Đức Phật lìa đời tại rừng Sa La, không phải tư thế nằm nghỉ; ai đọc được quy ước ấy thì thấy pho tượng đang nói về cái chết chứ không nói về sự thảnh thơi.
Người chủ trì công trình là điêu khắc gia Trương Đình Ý, một trong những người tốt nghiệp khóa điêu khắc đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1935. Công trường kéo dài bốn tới năm năm, kết thúc năm 1966. Đáng chú ý nhất là chuyện vật liệu: xi măng và đá phải gánh bộ từ chân núi lên, còn cát thì lấy ngay tại chỗ bằng cách dẫn nước theo mạch tự nhiên mà đãi, khỏi phải mang từ dưới lên. Cách làm ấy nói lên điều kiện thi công của một công trình lớn đặt ở nơi không có đường xe.
Về kỷ lục, tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận đây là tượng Phật nằm dài nhất nước vào ngày 2 tháng 1 năm 2006, và tổ chức Kỷ lục châu Á xác lập là tượng Phật nằm trên đỉnh núi dài nhất châu Á vào ngày 30 tháng 5 năm 2013.
Chỗ hay hiểu lầm: nhiều người tưởng pho tượng nằm là phần cổ nhất, thậm chí tưởng nó có từ thời tổ Hữu Đức. Ngược lại mới đúng. Pho tượng thuộc lớp muộn nhất của cả khu, làm bằng xi măng cốt thép giữa thế kỷ 20, cách năm dựng chùa gần chín mươi năm. Phần cổ nhất, và cũng là phần ít người biết nhất, chính là cái hang đá nơi vị khai sơn ngồi tu. Nói cách khác, thứ khiến ngọn núi này nổi tiếng lại không phải thứ khiến nó thành chùa.
肆Thế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên phải nói về Tà Cú là nó đứng một mình. Ngọn núi này nhô lên giữa một vùng đồng bằng ven biển thấp và phẳng, không nối vào một dãy nào, chung quanh là ruộng và rẫy. Trong phép xem đất, một ngọn núi độc lập giữa đồng gọi là độc sơn. Sách vở cũ thường không chuộng độc sơn cho việc đặt mộ hay dựng nhà ở, vì thế đất ấy trơ trọi, không có mạch nối, bốn bề chịu gió. Nhưng chính cái mà người ở đời chê thì người tu lại tìm: một ngọn núi tách khỏi mọi thứ, nhìn thấy từ xa hàng chục cây số, có nước ngầm và có hang. Đó là lý do một nhà sư chọn nó năm 1872, và cũng là lý do cả khu này là chùa chứ không phải làng.
Thứ hai là mạch nước trong hang. Trong lối đọc cũ, núi là xương mà nước là mạch; một quả núi có nước ngầm chảy quanh năm thì được coi là núi sống, khác với núi đá khô. Cái hang mà tổ Hữu Đức chọn không phải chọn tùy tiện: nó vừa kín gió, vừa có nước, tức hội đủ hai điều tối thiểu để một người ở lại lâu dài. Xét theo ngũ hành thì đây là thế Thổ Thủy tương sinh trong lòng một khối đá, và trong phép cũ, chỗ nào có nước ngầm nuôi được người thì chỗ ấy được xem là có khí.
Thứ ba là hướng. Toàn bộ khu chùa nằm trên sườn phía nam của núi, ở độ cao khoảng 475 mét. Đặt trên sườn nam tức là lưng dựa vào khối núi ở phía bắc và mặt mở về phía nam, đúng cái thế tọa bắc hướng nam mà phép xem đất coi là chuẩn mực. Ở đây cái thế ấy không phải do người xếp đặt mà do địa hình sẵn có: sườn nam là sườn ấm, đón nắng, tránh được gió lạnh, và cũng là sườn nhìn xuống đồng bằng và ra biển. Chỗ dựa là núi thật, minh đường là cả một vùng đồng trải tới chân trời, còn xa hơn nữa là mặt biển. Ít nơi thờ tự nào ở nước ta hội đủ ba lớp ấy rõ như vậy.
Sau cùng là cách xếp theo tầng. Khu này không dàn ngang mà chồng lên nhau theo độ cao: chùa Dưới tiếp khách, chùa Trên thờ tổ, lớp tượng ở trên cùng, hang Tổ nằm khuất. Đọc theo lối phong thủy thì đây là bố cục tầng tiến, mỗi bậc cao thêm là một lớp tĩnh thêm, và người đi lên phải bỏ lại phía sau một phần cái ồn của bậc dưới. Đó cũng là cách người xưa dùng chính độ dốc để phân chia không gian, thay cho tường rào.
伍Lễ Và Ngày Lễ
Lịch lễ của chùa gồm hai lớp. Lớp thứ nhất là các ngày lễ chung của Phật giáo Bắc tông, giống mọi ngôi chùa Đại thừa khác. Lớp thứ hai là ngày riêng của chính tổ đình này, tức ngày húy kỵ tổ khai sơn, và đó mới là ngày đông người nhất trong năm.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 5 tháng Mười | Húy kỵ tổ Hữu Đức | Ngày giỗ vị khai sơn, lễ trọng nhất trong năm của chùa. Tăng chúng và khách thập phương về lễ tổ tại chùa Trên và tại khu tháp. |
| Rằm tháng Tư | Phật đản | Lễ kỷ niệm ngày Đức Thích Ca đản sinh, cử hành theo nghi thức Bắc tông chung. |
| Rằm tháng Bảy | Vu Lan | Lễ báo hiếu và cúng cầu siêu, một trong hai kỳ lễ lớn của các chùa Đại thừa trong năm. |
| Rằm tháng Hai | Phật nhập Niết Bàn | Ngày tưởng niệm Đức Thích Ca nhập diệt. Ở Tà Cú ngày này có ý nghĩa riêng vì pho tượng lớn nhất của chùa tạc đúng khoảnh khắc ấy. |
| Mùng một và rằm hằng tháng | Sóc vọng | Hai kỳ lễ thường lệ của nhà chùa, tụng kinh và dâng hương. Khách thập phương lên núi đông vào dịp đầu xuân. |
Trật tự ấy đáng chú ý ở một điểm: ngày lớn nhất của chùa là ngày giỗ một con người, không phải ngày lễ của Đức Phật. Đó là nét chung của các tổ đình. Việc thờ tổ không thay việc thờ Phật, mà nằm cạnh, và trong sinh hoạt hằng năm thì lớp thờ tổ lại là lớp kéo người về đông hơn cả.
陸Nơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Núi Tà Cú, xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam cũ, tỉnh Lâm Đồng
- Đường tới
- Chùa nằm trên sườn nam núi Tà Cú, xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam cũ, tỉnh Lâm Đồng, cách Phan Thiết chừng ba mươi cây số về phía đông nam. Lên núi có hai lối, một là đường bộ leo bậc qua rừng, hai là tuyến cáp treo từ chân núi.
- Toạ độ
- 10.8153, 107.8514
Đây là chùa đang có tăng chúng tu học, nên lệ nhà chùa cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không rải lên tượng và bệ tượng. Không trèo lên pho tượng nằm và các bậc bệ; lối đi quanh tượng có phần dốc và trơn khi trời ẩm. Hang Tổ là nơi thờ, xin không đốt hương trong lòng hang. Rừng quanh chùa thuộc khu bảo tồn, xin không hái cây và không xả rác.
Những nơi gần đây trong thư viện
問Hỏi Đáp Nhanh
Chùa núi Tà Cú thờ ai
Chùa thuộc Phật giáo Bắc tông, chính điện thờ Phật Thích Ca cùng chư Bồ tát theo lối Đại thừa. Ngoài ra chùa còn thờ vị khai sơn là tổ Hữu Đức, thế danh Trần Hữu Đức, pháp danh Thông Ân, người lên núi tu trong hang đá từ năm 1872.
Vì sao có chùa Trên và chùa Dưới
Chùa Trên tên chữ Linh Sơn Trường Thọ là ngôi gốc, tức chùa Tổ, dựng năm 1879 trên chỗ tổ Hữu Đức tu. Chùa Dưới tên chữ Linh Sơn Long Đoàn do các đời sau lập ở phần thấp hơn, gánh việc tiếp khách thập phương để chùa Tổ giữ được phần tĩnh.
Tượng Phật nằm ở Tà Cú dài bao nhiêu và tạc năm nào
Tượng Thích Ca nhập Niết Bàn dài 49 mét, bằng xi măng cốt thép, do điêu khắc gia Trương Đình Ý chủ trì, hoàn thành năm 1966. Năm khởi công thì nguồn ghi 1962, nguồn ghi 1963. Chiều cao cũng vênh nhau, có nguồn ghi 7 mét, có nguồn ghi 11 mét, có nguồn ghi 12,2 mét.
Tên Linh Sơn Trường Thọ từ đâu mà có
Theo truyền tụng địa phương, tổ Hữu Đức gửi thuốc chữa khỏi bệnh cho Hoàng thái hậu Từ Dũ, và vua Tự Đức ban cho chùa bốn chữ Linh Sơn Trường Thọ vào khoảng năm 1880, nghĩa là núi thiêng sống lâu. Đây là lớp truyền tụng chứ không phải sử biên niên.
Chùa núi Tà Cú nay thuộc tỉnh nào
Chùa nằm ở xã Tân Lập, thuộc huyện Hàm Thuận Nam cũ. Sau lần sắp xếp địa giới năm 2025, địa bàn này thuộc tỉnh Lâm Đồng. Tên gọi cũ Bình Thuận vẫn còn gặp trong phần lớn sách báo và tư liệu viết trước đó.