VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đạo Đức Kinh Chương 64 Tới 72: Nguyên Văn, Phiên Âm, Dịch Nghĩa Và Giải Nghĩa Từng Câu

道德經 · Lão Tử, Ngũ Thiên Ngôn

Chín chương này bàn về chỗ đứng của người hiểu Đạo: cẩn thận từ lúc việc còn nhỏ, chịu ở dưới và ở sau, không tranh, và tự biết mình khi người đời không hiểu.

Thuộc đạo
Đạo Giáo
Niên đại
Định hình quãng thế kỷ 4 tới 3 trước Công nguyên
Bản xưa nhất là thẻ tre Quách Điếm, khai quật năm 1993
Độ dài
81 chương, khoảng 5.000 chữ
Trang này gồm 9 chương gần cuối phần Đức Kinh
Thường tụng khi
Đọc để hiểu, không thuộc loại kinh tụng theo nghi lễ

Mạch Của Chín Chương Này

Chín chương vừa qua, từ 55 tới 63, bàn về việc giữ đức và việc trị nước, rồi khép lại bằng câu thiên hạ đại sự tất tác ư tế, việc lớn của thiên hạ tất khởi từ chỗ nhỏ. Chín chương tiếp theo đây nhận lấy ngay câu ấy rồi chuyển hướng: chúng bàn về chỗ đứng, tức người hiểu Đạo tự đặt mình ở đâu.

Chương 64 nói chỗ đứng trong thời gian: đứng ở lúc việc chưa thành hình, rồi giữ cho tới lúc gần xong. Chương 66 tới 68 nói chỗ đứng trong tương quan với người: ở dưới, ở sau, không tranh, không đối đầu. Chương 70 tới 72 nói chỗ đứng khi không được hiểu: lời rất dễ mà không ai nhận, nên khoác áo thô mà mang ngọc, tự biết mà không tự bày.

Đọc rời thì chín chương này rất dễ bị xếp sai chỗ: chương 64 thành một châm ngôn cổ vũ khởi sự, chương 65 thành chủ trương làm dân ngu, ba chương 67, 68, 69 thành một bài binh pháp, chương 70 thành lời tủi thân của một ông già không ai hiểu.

Đọc liền mạch thì thấy một chuỗi khác. Cả chín chương đều trả lời cùng một câu hỏi: người hiểu Đạo tự đặt mình ở đâu, và câu trả lời lặp lại bằng nhiều cách nói: ở chỗ sớm chứ không chỗ muộn, ở dưới chứ không ở trên, ở sau chứ không ở trước, ở thế khách chứ không thế chủ, ở trong chứ không bày ra ngoài. Ba chương bàn việc binh là chỗ nguyên tắc ấy bị thử ở tình huống ngặt nhất; đây cũng là chỗ Đạo Đức Kinh bàn gần nhất tới việc binh trong cả tám mươi mốt chương. Thư viện giải nghĩa văn bản rồi dừng ở đó.

Chương 64: Thủ Vi

Chương 64, phần Đức Kinh. Chương chứa câu bị đọc lệch nhiều nhất của cả sách.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1其安易持,其未兆易謀。Kỳ an dị trì, kỳ vị triệu dị mưu.Khi còn yên thì dễ giữ, khi chưa hiện dấu thì dễ tính.
2其脆易泮,其微易散。Kỳ thúy dị phán, kỳ vi dị tán.Lúc còn giòn thì dễ tách, lúc còn nhỏ thì dễ làm cho tan.
3為之於未有,治之於未亂。Vi chi ư vị hữu, trị chi ư vị loạn.Làm khi việc chưa thành hình, dẹp khi việc chưa rối.
4合抱之木,生於毫末;Hợp bão chi mộc, sinh ư hào mạt;Cây to một vòng tay ôm sinh ra từ cái mầm nhỏ bằng đầu sợi lông;
5九層之臺,起於累土;cửu tằng chi đài, khởi ư lũy thổ;cái đài chín tầng dựng lên từ từng sọt đất đắp dồn;
6千里之行,始於足下。thiên lý chi hành, thủy ư túc hạ.đường nghìn dặm bắt đầu ngay dưới bàn chân.
7為者敗之,執者失之。Vi giả bại chi, chấp giả thất chi.Kẻ ra tay làm thì làm hỏng nó, kẻ nắm giữ thì để mất nó.
8是以聖人無為故無敗,無執故無失。Thị dĩ thánh nhân vô vi cố vô bại, vô chấp cố vô thất.Cho nên bậc thánh nhân không ra tay làm nên không làm hỏng, không nắm giữ nên không để mất.
9民之從事,常於幾成而敗之。Dân chi tòng sự, thường ư cơ thành nhi bại chi.Người ta làm việc, thường hỏng ở chỗ sắp xong.
10慎終如始,則無敗事。Thận chung như thủy, tắc vô bại sự.Cẩn thận lúc cuối y như lúc đầu thì việc không hỏng.
11是以聖人欲不欲,不貴難得之貨;Thị dĩ thánh nhân dục bất dục, bất quý nan đắc chi hóa;Cho nên bậc thánh nhân muốn cái mà người ta không muốn, không coi của khó kiếm là quý;
12學不學,復眾人之所過。học bất học, phục chúng nhân chi sở quá.học cái mà người ta không học, trở lại chỗ mọi người đã bỏ qua.
13以輔萬物之自然,而不敢為。Dĩ phụ vạn vật chi tự nhiên, nhi bất cảm vi.Chỉ đỡ cho muôn vật theo tính tự nhiên của chúng, mà không dám ra tay làm.
其未兆易謀
Kỳ vị triệu dị mưu

Bốn câu đầu xếp thành một cái thang: yên thì dễ giữ, chưa hiện dấu thì dễ tính, còn giòn thì dễ tách, còn nhỏ thì dễ làm tan. Chữ triệu 兆 nghĩa gốc là vết nứt trên mai rùa nướng để chiêm bốc, nghĩa rộng là dấu hiệu đầu tiên của việc chưa thành hình.

Một chữ không đứng trong câu ấy ở bản Vương Bật nhưng là chữ then chốt của chương: chữ 幾, cũng đọc kỷ, trong học thuật cổ chỉ cái mầm, chỗ mới nhú, chỗ chưa thành. Bản thẻ tre Quách Điếm chép câu thứ tư thành kỳ cơ dã, dị tán dã, dùng thẳng chữ 幾 vào chỗ bản Vương Bật chép 微; giữa chương, chữ ấy hiện lần nữa trong cơ thành nhi bại chi với nghĩa gần, sắp.

千里之行,始於足下
Thiên lý chi hành, thủy ư túc hạ

Ba vế song song: cây to một vòng tay ôm sinh từ cái mầm bằng đầu sợi lông, đài chín tầng dựng từ từng sọt đất, đường nghìn dặm bắt đầu ngay dưới bàn chân. Vế thứ ba được dẫn nhiều nhất trong cả sách, và cũng bị đọc lệch nhiều nhất. Ngày nay người ta dẫn nó như lời cổ vũ hăng hái bắt tay làm; đọc trong mạch chương thì nghĩa ngược lại. Ba vế ấy nằm giữa một đoạn nói cái lớn khởi từ cái nhỏ nên phải cẩn thận ngay từ đầu: phía trên là bốn câu dạy xử lý việc lúc chưa thành hình, ngay phía dưới là vi giả bại chi, chấp giả thất chi. Đoạn này cảnh báo chứ không hô hào, và nó kết bằng thận chung như thủy.

Bản Quách Điếm chép vế thứ ba khác hẳn: bách nhận chi cao, thủy ư túc hạ, cái cao trăm nhẫn bắt đầu từ dưới bàn chân. Chép vậy thì ba vế đều là hình ảnh cái lớn mọc từ cái nhỏ, không có hình ảnh đi đường nào. Cũng trong bản ấy, đoạn này và đoạn vi giả bại chi nằm ở hai chỗ khác nhau của thẻ tre, cho thấy chương 64 bản thông hành là chương ghép.

為者敗之,執者失之
Vi giả bại chi, chấp giả thất chi

Chữ vi 為 đây không trỏ mọi hành động mà trỏ việc ra tay can thiệp theo ý riêng; chữ chấp 執 là nắm chặt, giữ khư khư. Bậc thánh nhân thoát khỏi hai lối ấy vì không đặt mình vào thế có gì để hỏng và có gì để mất. Cái thay chỗ việc ra tay là chữ phụ 輔 ở câu kết, nghĩa gốc là tấm gỗ kẹp bên trục xe cho khỏi lệch, tức chỉ đỡ cho cái sẵn có chạy đúng chiều của nó.

慎終如始
Thận chung như thủy

Người ta hỏng việc không hỏng ở lúc khó nhất mà hỏng ở lúc sắp xong, khi cái khó đã qua và lòng đã lơi; bốn chữ thận chung như thủy khép chương thành vòng kín. Riêng câu cuối, phục chúng nhân chi sở quá, hiểu chữ quá 過 là bỏ qua thì nghĩa là trở lại chỗ mọi người đã bước qua; hiểu là lỗi thì nghĩa là sửa lại chỗ mọi người mắc lỗi. Cả hai đều đọc được trên mặt chữ.

Chương 65: Thuần Đức

Chương 65, phần Đức Kinh. Chương bị tranh cãi nặng nhất về mặt chính trị.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1古之善為道者,非以明民,將以愚之。Cổ chi thiện vi đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi.Người khéo hành đạo thuở xưa không làm cho dân thêm khôn ngoan, mà đưa dân về chỗ mộc mạc.
2民之難治,以其智多。Dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa.Dân khó trị là vì cái khôn của họ nhiều quá.
3故以智治國,國之賊,Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc,Cho nên lấy trí khôn mà trị nước là cái hại của nước,
4不以智治國,國之福。bất dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc.không lấy trí khôn mà trị nước là cái phúc của nước.
5知此兩者亦稽式。Tri thử lưỡng giả diệc kê thức.Biết được hai điều ấy cũng là biết được cái mực thước.
6常知稽式,是謂玄德。Thường tri kê thức, thị vị huyền đức.Luôn luôn biết cái mực thước ấy, đó gọi là đức nhiệm màu.
7玄德深矣,遠矣,與物反矣,Huyền đức thâm hĩ, viễn hĩ, dữ vật phản hĩ,Đức nhiệm màu sâu thay, xa thay, ngược chiều với vật thay,
8然後乃至大順。nhiên hậu nãi chí đại thuận.rồi sau mới tới được chỗ thuận lớn.
非以明民,將以愚之
Phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi

Đây là câu nguy hiểm nhất trong chín chương, và cách đọc thô nhất của nó là: Lão Tử chủ trương làm cho dân ngu để dễ cai trị. Phải nói thẳng rằng cách đọc ấy có thật trong lịch sử chú giải, không phải do người thời nay bịa ra: nó đã có từ phía Pháp gia, nơi Hàn Phi đọc Lão Tử thành thuật trị nước; bên Nho học, Chu Hy cũng chê chính chỗ này; và sang thế kỷ hai mươi, khi giới học thuật Trung Quốc bàn về cái gọi là ngu dân chính sách, chương 65 luôn bị nêu làm chứng cứ đầu tiên.

Nhưng chữ ngu 愚 đọc trong mạch riêng của sách thì không mang nghĩa ngu dốt. Vương Bật chú thẳng: minh 明 là thấy nhiều mưu khéo dối trá nên che lấp cái mộc của mình, còn ngu là không cậy cái biết, giữ lấy cái thật, thuận theo tự nhiên; chữ ấy cũng chính là chữ Lão Tử tự nhận về mình ở chương 20. Hai cách đọc chưa hòa được, vì ba chữ tương dĩ ngu chi vẫn có hình dạng của một việc người trên làm lên người dưới.

以智治國,國之賊
Dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc

Chữ trí 智 trong sách này gần như luôn mang sắc xấu: trí khôn khéo, mưu mẹo, cùng họ với hai chữ trí tuệ ở chương 18. Câu dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa không nói dân thông minh thì khó trị, mà nói khi cả trên lẫn dưới đều đua nhau tính toán thì việc trị nước hóa thành một cuộc đấu mẹo. Hai chữ kê thức 稽式 nghĩa là mực thước để đối chiếu, bản Hà Thượng Công chép 楷式, khải thức. Câu dữ vật phản hĩ chia hai đường ở chữ phản 反: đọc theo nghĩa trái ngược thì đức nhiệm màu đi ngược chiều với vật, đọc như chữ 返 thì đức nhiệm màu cùng vật quay về gốc, khớp với chương 16. Hai chữ ấy thời Chiến Quốc dùng lẫn nhau nên không cách nào loại được cách nào.

Chương 66: Hậu Kỷ

Chương 66, phần Đức Kinh. Chương mở đầu chuỗi ba chương nói về việc ở dưới và ở sau.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1江海所以能為百谷王者,Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả,Sông biển sở dĩ làm được vua của trăm khe lũng,
2以其善下之,故能為百谷王。dĩ kỳ thiện hạ chi, cố năng vi bách cốc vương.là vì nó khéo ở chỗ thấp hơn, nên mới làm được vua của trăm khe lũng.
3是以欲上民,必以言下之。Thị dĩ dục thượng dân, tất dĩ ngôn hạ chi.Cho nên muốn ở trên dân thì phải hạ lời mình xuống dưới.
4欲先民,必以身後之。Dục tiên dân, tất dĩ thân hậu chi.Muốn đi trước dân thì phải đặt thân mình lại sau.
5是以聖人處上而民不重,Thị dĩ thánh nhân xử thượng nhi dân bất trọng,Vì thế bậc thánh nhân ở trên mà dân không thấy nặng,
6處前而民不害。xử tiền nhi dân bất hại.ở trước mà dân không thấy bị lấn.
7是以天下樂推而不厭,Thị dĩ thiên hạ lạc thôi nhi bất yếm,Vì thế thiên hạ vui lòng đưa người ấy lên mà không chán,
8以其不爭,故天下莫能與之爭。dĩ kỳ bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh.vì người ấy không tranh, nên thiên hạ không ai tranh được với người ấy.
江海所以能為百谷王者
Giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả

Sông biển làm được vua của trăm khe lũng không phải vì mạnh hơn hay cao hơn, mà chỉ vì nằm thấp hơn hết, nên mọi dòng tự chảy về. Ngôi vua ấy không do giành mà có, cũng không do ai phong; nó là hệ quả tự nhiên của chỗ đứng.

欲上民,必以言下之
Dục thượng dân, tất dĩ ngôn hạ chi

Muốn ở trên dân thì hạ lời mình xuống, muốn đi trước dân thì đặt thân mình lại sau; dấu hiệu là ở trên mà dân không thấy nặng, ở trước mà dân không thấy bị lấn. Câu kết lặp lại gần nguyên văn chương 22, và lập luận của nó không phải là không tranh thì cao thượng, mà là không tranh thì không còn chỗ nào cho người khác tranh vào.

Chữ khó trong chương 64 tới 66.
ChữÂmNghĩa trong câu
triệuVết nứt trên mai rùa khi chiêm bốc, nghĩa rộng là dấu hiệu đầu tiên
phánRã ra, tách ra. Bản thẻ tre Quách Điếm chép 判, cũng đọc phán
Đọc cơ khi nghĩa là gần, sắp; đọc kỷ khi nghĩa là bao nhiêu. Ở đây là cơ
phụTấm gỗ kẹp bên trục xe cho khỏi lệch, nghĩa rộng là đỡ, giúp
nguMộc mạc, không cậy cái biết. Vương Bật chú là giữ cái thật, theo tự nhiên
tặcKẻ làm hại, cái phá hoại. Không phải chỉ nghĩa kẻ trộm

Chương 67: Tam Bảo

Chương 67, phần Đức Kinh. Chỗ duy nhất Lão Tử kê một danh mục có đánh số.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1天下皆謂我道大,似不肖。Thiên hạ giai vị ngã đạo đại, tự bất tiếu.Thiên hạ đều bảo đạo của ta lớn, mà như chẳng giống cái gì cả.
2夫唯大,故似不肖。Phù duy đại, cố tự bất tiếu.Chính vì nó lớn nên mới như chẳng giống cái gì cả.
3若肖,久矣其細也夫!Nhược tiếu, cửu hĩ kỳ tế dã phù!Nếu nó giống được một cái gì thì nó đã nhỏ đi từ lâu rồi!
4我有三寶,持而保之。Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi.Ta có ba vật báu, cầm lấy mà gìn giữ.
5一曰慈,二曰儉,三曰不敢為天下先。Nhất viết từ, nhị viết kiệm, tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên.Một là lòng thương, hai là dè sẻn, ba là không dám đứng trước thiên hạ.
6慈故能勇,儉故能廣,Từ cố năng dũng, kiệm cố năng quảng,Có lòng thương nên mới dám mạnh, có dè sẻn nên mới rộng được,
7不敢為天下先,故能成器長。bất cảm vi thiên hạ tiên, cố năng thành khí trưởng.không dám đứng trước thiên hạ nên mới làm được người đứng đầu của muôn vật.
8今舍慈且勇,舍儉且廣,舍後且先,死矣!Kim xả từ thả dũng, xả kiệm thả quảng, xả hậu thả tiên, tử hĩ!Nay bỏ lòng thương mà chọn mạnh, bỏ dè sẻn mà chọn rộng, bỏ chỗ sau mà chọn chỗ trước, thế là chết!
9夫慈以戰則勝,以守則固。Phù từ dĩ chiến tắc thắng, dĩ thủ tắc cố.Lòng thương ấy đem ra đánh thì thắng, đem ra giữ thì bền.
10天將救之,以慈衛之。Thiên tương cứu chi, dĩ từ vệ chi.Trời định cứu ai thì lấy lòng thương mà che cho người ấy.
我有三寶,一曰慈
Ngã hữu tam bảo, nhất viết từ

Hai chữ bất tiếu 不肖 mở chương nghĩa gốc là không giống, không ứng vào khuôn nào, vốn là chữ người đời dùng để mắng kẻ kém cỏi; Lão Tử nhận lấy rồi lật lại, chính vì lớn nên mới không giống cái gì. Rồi tới chỗ lạ nhất của cả quyển sách: một bản kê ba vật báu, đánh số một hai ba, việc không chỗ nào khác trong tám mươi mốt chương làm. Vật thứ nhất là từ 慈: không phải lòng nhân theo nghĩa luân lý Nho gia, mà là cái thương tự nhiên như mẹ thương con, không tính công, không đòi đáp.

二曰儉
Nhị viết kiệm

Chữ kiệm 儉 nghĩa là dè, không dùng hết, không bày ra hết; không riêng tiết kiệm của cải mà dè sức, dè lời, dè cả cái tài của mình, cùng một mạch với chữ sắc 嗇 ở chương 59. Câu kiệm cố năng quảng nghe như nghịch lý, nhưng lập luận nằm ở chỗ tồn trữ: dùng dè thì còn lại nhiều, còn lại nhiều thì phủ được xa.

三曰不敢為天下先
Tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên

Chữ tiên 先 đây là đứng trước thiên hạ, tức nhận lấy chỗ dẫn đầu, chỗ ra mặt, chỗ mà mọi mũi nhọn nhắm vào. Hai chữ bất cảm 不敢 không trỏ sự sợ hãi mà trỏ việc biết chỗ nào không nên bước vào; cùng hai chữ ấy kết chương 64 và mở lời nhà dùng binh ở chương 69.

Vế đáp, cố năng thành khí trưởng, là chỗ hiểu khác nhau. Đọc khí trưởng 器長 liền nhau, người đứng đầu của mọi tài khí, thì nghĩa là chính vì không giành chỗ trước nên mới thành người đứng đầu. Đọc thành khí 成器 liền nhau, tức những đồ đã thành hình, rồi 長 là trưởng của chúng, thì nghĩa xoay sang quan hệ giữa cái chưa thành hình với cái đã thành hình, khớp với chữ phác 樸 ở chương 28 và 32.

慈故能勇
Từ cố năng dũng

Bốn chữ này lật ngược một lẽ thường: người ta tưởng cái dũng sinh từ sự gan góc, sách nói cái dũng sinh từ lòng thương. Một người mẹ vốn rất nhát, nhưng con lâm nguy thì xông vào chỗ mà kẻ can trường cũng lùi; cái dũng ấy không để thắng ai, nó chỉ che cho cái mình thương. Câu tiếp là lời cảnh báo dữ dội hiếm thấy: bỏ thương mà chọn mạnh, bỏ dè mà chọn rộng, bỏ sau mà chọn trước, thế là chết, vì mạnh, rộng, trước vốn là quả chứ không phải nhân. Riêng câu kết, thiên tương cứu chi, dĩ từ vệ chi, các nhà chú giải theo lối tự nhiên đọc chữ thiên là nhịp trời đất, các nhà theo lối tôn giáo đọc là trời che chở người có lòng thương.

Chương 68: Phối Thiên

Chương 68, phần Đức Kinh. Chương ngắn nhất trong ba chương bàn việc binh.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1善為士者不武,Thiện vi sĩ giả bất vũ,Người khéo làm tướng sĩ thì không hung hăng,
2善戰者不怒,thiện chiến giả bất nộ,người khéo đánh thì không nổi giận,
3善勝敵者不與,thiện thắng địch giả bất dữ,người khéo thắng địch thì không đối đầu,
4善用人者為之下。thiện dụng nhân giả vi chi hạ.người khéo dùng người thì đặt mình xuống dưới.
5是謂不爭之德,Thị vị bất tranh chi đức,Đó gọi là cái đức không tranh,
6是謂用人之力,thị vị dụng nhân chi lực,đó gọi là biết dùng sức của người,
7是謂配天古之極。thị vị phối thiên cổ chi cực.đó gọi là sánh ngang trời, mực cùng tột của thời xưa.
善為士者不武
Thiện vi sĩ giả bất vũ

Phải ghi thẳng một chỗ vênh về văn bản. Bản thông hành Vương Bật chép câu mở chương là thiện vi sĩ giả bất vũ, người khéo làm tướng sĩ thì không hung hăng; bản bạch thư Mã Vương Đôi cũng chép 善為士者. Nhưng câu này còn lưu hành theo một cách chép khác, thiện chiến giả bất vũ. Cách chép sau có chỗ yếu rõ: câu liền sau vốn đã là thiện chiến giả bất nộ, nên mở chương bằng 善戰者 thì hai câu đầu trùng chủ ngữ. Chữ 士 thời Chiến Quốc trỏ người biết việc binh, không phải nhà nho như nghĩa đời sau.

善勝敵者不與
Thiện thắng địch giả bất dữ

Chữ dữ 與 ở câu thứ ba, Vương Bật chú gọn một chữ: tranh, tức đối đầu. Người khéo thắng địch thì không đấu với địch, mà làm cho cuộc đấu ấy không xảy ra. Ba câu đầu đều trỏ vào một chỗ là bỏ cái khí hăng, vì hung hăng, nổi giận, đối đầu đều là để đối phương quyết định nhịp của mình.

Năm chữ cuối chia hai cách ngắt. Ngắt phối thiên cổ chi cực liền một hơi thì nghĩa là sánh với mực cùng tột của trời thời xưa; bản bạch thư chép thị vị phối thiên, cổ chi cực dã, ngắt làm hai vế, và còn chép câu giữa chỉ thị vị dụng nhân, không có hai chữ 之力. Bản Quách Điếm không có chương này.

Chương 69: Huyền Dụng

Chương 69, phần Đức Kinh. Chương duy nhất mở bằng lời dẫn của nhà dùng binh.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1用兵有言:Dụng binh hữu ngôn:Nhà dùng binh có câu rằng:
2吾不敢為主而為客,Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách,Ta không dám làm chủ mà chịu làm khách,
3不敢進寸而退尺。bất cảm tiến thốn nhi thoái xích.không dám tiến một tấc mà chịu lui một thước.
4是謂行無行,Thị vị hành vô hàng,Đó gọi là đi mà như không có hàng ngũ,
5攘無臂,扔無敵,執無兵。nhương vô tý, nhưng vô địch, chấp vô binh.xắn tay mà như không có cánh tay, đẩy tới mà như không có địch, cầm mà như không có binh khí.
6禍莫大於輕敵,Họa mạc đại ư khinh địch,Cái họa không gì lớn hơn coi thường quân địch,
7輕敵幾喪吾寶。khinh địch cơ táng ngô bảo.coi thường quân địch là gần như đánh mất vật báu của mình.
8故抗兵相加,哀者勝矣。Cố kháng binh tương gia, ai giả thắng hĩ.Cho nên hai bên binh chống nhau, bên nào biết xót thương thì bên ấy thắng.
吾不敢為主而為客
Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách

Chương mở bằng bốn chữ dụng binh hữu ngôn, nhà dùng binh có câu rằng, tức Lão Tử dẫn lời người khác chứ không tự nói: chương này không phải bài binh pháp của sách, mà là sách lấy một câu sẵn có trong nghề binh về để nói tiếp việc của mình. Chủ 主 là bên khởi việc, bên chủ động phát binh; khách 客 là bên đáp lại. Chịu làm khách nghĩa là không mở việc, chỉ ứng lại, và đó chính là vật báu thứ ba của chương 67 nói lại bằng lời nhà binh.

行無行,攘無臂
Hành vô hàng, nhương vô tý

Bốn vế tiếp là chỗ khó nhất của chương, cả bốn cùng một hình dạng làm mà không có cái để làm. Chữ hành 行 ở vế đầu xuất hiện hai lần với hai âm hai nghĩa nên rất dễ đọc sai: chữ trước đọc hành, nghĩa là đi; chữ sau đọc hàng, nghĩa là hàng ngũ. Chữ 扔 bản Vương Bật chép như vậy, có bản chép 仍. Về nghĩa chung có hai lối đọc: lối thứ nhất coi bốn vế tả cái trống không của bên biết giữ mình, không bày đội hình, không lộ tay, không dựng đối phương lên thành địch để mà đánh; lối thứ hai coi đây là tả cái vô ích của việc hăng hái khi không có gì thật để đánh.

禍莫大於輕敵
Họa mạc đại ư khinh địch

Sách vừa nói lui một thước, liền nói ngay cái họa không gì lớn hơn coi thường quân địch. Lui không phải vì coi rẻ đối phương; lui chính vì biết trọng đối phương, bởi người coi thường địch mới là người dám tiến bừa. Chữ 幾 ở câu sau lại là chữ đã gặp ở chương 64, nghĩa gần, sắp.

Câu kết, ai giả thắng hĩ, các nhà chú giải hiểu khác nhau. Đọc chữ ai 哀 là xót thương thì bên nào còn biết xót cái chết của người, bên ấy thắng, nối thẳng vào chữ từ của chương 67; đọc là bi thương, ở thế bị hại, thì bên chịu đau sẽ thắng; lại có nhà đọc 哀 thông với 愛.

Chương 70: Tri Nan

Chương 70, phần Đức Kinh. Chỗ giọng sách đổi hẳn sang lời tự nói.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1吾言甚易知,甚易行。Ngô ngôn thậm dị tri, thậm dị hành.Lời của ta rất dễ biết, rất dễ làm.
2天下莫能知,莫能行。Thiên hạ mạc năng tri, mạc năng hành.Mà thiên hạ không ai biết được, không ai làm được.
3言有宗,事有君。Ngôn hữu tông, sự hữu quân.Lời thì có gốc của nó, việc thì có cái chủ trì nó.
4夫唯無知,是以不我知。Phù duy vô tri, thị dĩ bất ngã tri.Chỉ vì người ta không biết cái gốc ấy, nên mới không hiểu được ta.
5知我者希,則我者貴。Tri ngã giả hy, tắc ngã giả quý.Kẻ hiểu ta thì ít, kẻ lấy ta làm khuôn thì đáng quý.
6是以聖人被褐懷玉。Thị dĩ thánh nhân bị hạt hoài ngọc.Cho nên bậc thánh nhân khoác áo vải thô mà trong lòng mang ngọc.
吾言甚易知,甚易行
Ngô ngôn thậm dị tri, thậm dị hành

Chương này ngắn, và giọng của nó khác hẳn mọi chương khác: từ đầu sách tới đây người viết nói về Đạo, về vạn vật, về việc trị nước, chỗ này người viết nói về chính mình và về việc mình không được hiểu. Hai câu mở là một cặp nghịch đặt sát nhau đến mức gây tức, nhưng không phải lời oán trách: cái đơn giản thì khó tin vì người ta đi tìm cái phức tạp.

言有宗,事有君
Ngôn hữu tông, sự hữu quân

Tông 宗 là gốc, là tổ; quân 君 là chủ, là cái cầm đầu. Ai không nắm được cái gốc ấy thì nghe từng câu đều hiểu, mà hợp lại thì không hiểu gì. Câu tiếp có hai chữ tri đứng gần nhau với hai nghĩa: vô tri là không biết cái gốc kia, bất ngã tri là không hiểu ta.

知我者希
Tri ngã giả hy

Bốn chữ này là chỗ cả quyển sách lộ ra một điều nó vốn giấu kín: người viết biết mình đang nói vào chỗ trống. Chữ hy 希 nghĩa là ít, thưa, chính chữ đã dùng ở chương 14. Vế đối, tắc ngã giả quý, chia hai cách đọc: đọc chữ tắc 則 làm động từ, nghĩa lấy làm khuôn mà noi theo, thì kẻ hiểu ta thì ít mà kẻ noi theo ta thì đáng quý; đọc làm liên từ, nghĩa là nên, thì kẻ hiểu ta thì ít nên ta mới hóa ra quý. Cách thứ nhất giữ được thế đối ngẫu nên phần nhiều nhà chú giải theo. Câu này không phải lời tủi thân: nó là chỗ đứng của người biết rằng điều mình nói sẽ không được nhận, mà vẫn nói.

被褐懷玉
Bị hạt hoài ngọc

Hạt 褐 là áo vải gai thô, áo của người làm ruộng và người ở đợ; chữ bị 被 đây nghĩa là khoác lên mình, không phải nghĩa bị động như tiếng Việt ngày nay. Điểm cần giữ cho đúng: câu này không dạy giấu tài để chờ ngày được trọng dụng. Cái áo thô chỉ là hệ quả của việc người ấy không bày mình ra; người đời nhìn áo mà xếp hạng, còn ngọc thì vẫn ở đó.

Chương 71: Tri Bệnh

Chương 71, phần Đức Kinh. Ba câu, bảy lần dùng chữ bệnh.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1知不知,上;Tri bất tri, thượng;Biết mà coi như mình chưa biết, thế là hơn;
2不知知,病。bất tri tri, bệnh.không biết mà tưởng mình biết, thế là bệnh.
3夫唯病病,是以不病。Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh.Chỉ vì lấy bệnh làm bệnh nên mới không bệnh.
4聖人不病,以其病病,是以不病。Thánh nhân bất bệnh, dĩ kỳ bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh.Bậc thánh nhân không bệnh, là vì người ấy lấy bệnh làm bệnh, nên mới không bệnh.
知不知,上
Tri bất tri, thượng

Bốn chữ này có ba cách đọc, và cả ba đều lưu hành: biết cái mình không biết, tức biết giới hạn của cái biết của mình; biết mà coi như chưa biết, tức không cậy vào cái biết; và biết cái không thể biết, đọc sang siêu hình. Có vế sau làm đối, hai cách đầu đều đứng vững; cách thứ ba lệch khỏi thế đối ngẫu nên ít người theo. Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép tri bất tri, thượng hĩ, dùng chữ thượng 尚 nghĩa là được chuộng thay cho chữ 上 nghĩa là trên, và vế sau chép bất tri tri, bệnh hĩ.

夫唯病病,是以不病
Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh

Chữ bệnh 病 trong chương xuất hiện bảy lần, mỗi lần đổi chức. Cụm bệnh bệnh gồm một chữ làm động từ và một chữ làm danh từ: lấy bệnh làm bệnh. Lập luận tự khép rất gọn: bệnh ở đây là bệnh tưởng mình biết, mà ai nhận ra mình đang mắc bệnh ấy thì ngay lúc nhận ra đã khỏi. Câu cuối lặp lại nguyên vế trước, và nhiều nhà hiệu khám coi chỗ lặp ấy là chữ thừa do người sao chép đời sau chép lẫn.

Chương 72: Ái Kỷ

Chương 72, chương cuối trong phần trình bày của trang này.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1民不畏威,則大威至。Dân bất úy uy, tắc đại uy chí.Dân không còn sợ cái oai của người trên thì cái oai lớn hơn sẽ tới.
2無狎其所居,無厭其所生。Vô hiệp kỳ sở cư, vô yếm kỳ sở sinh.Đừng làm chật chỗ dân ở, đừng đè nén cái sống của dân.
3夫唯不厭,是以不厭。Phù duy bất yếm, thị dĩ bất yếm.Chỉ vì người trên không đè nén nên dân mới không chán ghét.
4是以聖人自知不自見,Thị dĩ thánh nhân tự tri bất tự hiện,Cho nên bậc thánh nhân tự biết mình mà không tự bày mình ra,
5自愛不自貴。tự ái bất tự quý.tự thương mình mà không tự cho mình là cao quý.
6故去彼取此。Cố khứ bỉ thủ thử.Nên bỏ cái kia mà lấy cái này.
民不畏威,則大威至
Dân bất úy uy, tắc đại uy chí

Chữ uy 威 xuất hiện hai lần với hai nghĩa khác nhau. Uy thứ nhất là cái oai của người cầm quyền, tức hình phạt và sự áp chế. Đại uy thứ hai thì các nhà chú giải hiểu khác nhau: có người đọc là cái oai của trời, tức tai họa; có người đọc là sự nổi dậy của dân. Cả hai cách dẫn về cùng một lập luận: người trên càng dùng oai thì oai càng mòn, tới lúc dân không sợ nữa thì cái đến sau không còn ai điều khiển được. Đây là chỗ sách nói về giới hạn của lối cai trị bằng sự sợ, nối vào chương 17.

無狎其所居,無厭其所生
Vô hiệp kỳ sở cư, vô yếm kỳ sở sinh

Bản Vương Bật chép vô hiệp 無狎; chữ 狎 nghĩa gốc là thân mật quá hóa khinh nhờn, ở đây các nhà chú giải đọc thành chèn ép chỗ dân ở. Bản Hà Thượng Công chép 無狹, nghĩa thẳng là làm cho chật hẹp, nên ý rõ hơn và không ít người theo bản ấy.

Chữ yếm 厭 dùng với hai nghĩa trong hai câu liền nhau, và đó là chỗ tinh của chương. Ở vô yếm kỳ sở sinh, chữ ấy đọc theo nghĩa đè, ép, thông với chữ 壓. Ở câu sau, chữ thứ nhất vẫn là đè ép, chữ thứ hai đổi sang nghĩa chán ghét: chỉ vì người trên không đè nén nên dân mới không chán ghét. Bỏ mất chỗ đổi nghĩa ấy thì câu thành lời trùng lặp vô nghĩa.

聖人自知不自見
Thánh nhân tự tri bất tự hiện

Chữ kiến 見 ở đây phải đọc là hiện, theo nghĩa hiện ra, bày ra, tức nghĩa của chữ 現: tự biết mà không tự bày, tự thương mà không tự cho mình cao quý. Cần nói rõ một chỗ rất hay lẫn: câu tự tri giả minh, tự biết mình là sáng, không nằm ở chương này mà ở chương 33, nơi nó đi thành cặp với tri nhân giả trí. Bốn chữ kết chương, cố khứ bỉ thủ thử, lặp lại đúng bốn chữ kết chương 12 và chương 38: cái kia là phần bày ra bên ngoài, cái này là phần giữ ở bên trong.

Chữ khó trong chương 67 tới 72.
ChữÂmNghĩa trong câu
不肖bất tiếuKhông giống, không ứng vào khuôn nào. Người đời dùng để mắng kẻ kém cỏi
từLòng thương như mẹ thương con, không tính công, không đòi đáp
xảBỏ đi, cùng nghĩa với 捨. Không đọc là xá như khi 舍 nghĩa là nhà
行無行hành vô hàngChữ trước đọc hành, nghĩa là đi; chữ sau đọc hàng, nghĩa là hàng ngũ
aiXót thương, cũng đọc theo nghĩa bi thương. Không phải chỉ nghĩa buồn rầu
yếmTrong chương này dùng hai nghĩa: đè ép, và chán ghét

拾壹Ý Chỉ Chung Của Chín Chương

  • Chương 64Cẩn thận từ lúc còn mầm
    Chưa hiện dấu thì dễ tính. Đường nghìn dặm bắt đầu dưới bàn chân, nên bước ấy đã định cả nghìn dặm.
  • Chương 65Đưa dân về chỗ mộc
    Chữ ngu ở đây Vương Bật chú là giữ cái thật, theo tự nhiên. Lấy trí khôn trị nước là cái hại của nước.
  • Chương 66Sông biển ở chỗ thấp
    Sông biển làm vua trăm khe lũng vì nằm thấp hơn hết. Muốn ở trên thì hạ lời xuống, muốn đi trước thì đặt thân lại sau.
  • Chương 67Ba vật báu
    Lòng thương, dè sẻn, không dám đứng trước thiên hạ. Thương nên mới dám mạnh, dè nên mới rộng được.
  • Chương 68Bốn hạng người khéo
    Khéo làm tướng thì không hung hăng, khéo đánh thì không nổi giận, khéo thắng địch thì không đối đầu.
  • Chương 69Thà làm khách hơn làm chủ
    Không mở việc, chỉ ứng lại. Nhưng họa lớn nhất là coi thường quân địch. Bên biết xót thương thì thắng.
  • Chương 70Lời dễ mà không ai nhận
    Lời có gốc, việc có chủ. Kẻ hiểu ta thì ít, nên khoác áo thô mà mang ngọc.
  • Chương 71Lấy bệnh làm bệnh
    Biết mà coi như chưa biết là hơn, không biết mà tưởng mình biết là bệnh.
  • Chương 72Tự biết mà không tự bày
    Dân hết sợ oai thì cái oai lớn hơn tới. Đừng đè nén cái sống của dân. Tự biết mà không tự bày.

Trục chung của chín chương: chỗ đứng quyết định hơn sức mạnh. Sông biển làm vua trăm khe lũng vì nằm thấp, không vì mạnh. Người khéo thắng địch thì không đấu với địch. Bên chịu làm khách còn chỗ lui, bên đòi làm chủ thì hết chỗ lui. Và một điều chín chương này nói rõ hơn mọi chỗ khác trong sách: người hiểu Đạo không trông mong người đời hiểu mình.

拾貳Năm Chỗ Dễ Hiểu Lầm

Đường nghìn dặm bắt đầu dưới bàn chân là lời cổ vũ hăng hái bắt tay làm

Không. Câu ấy nằm giữa một đoạn nói cái lớn khởi từ cái nhỏ nên phải cẩn thận từ đầu. Ngay phía dưới là kẻ ra tay làm thì làm hỏng nó, và đoạn kết bằng cẩn thận lúc cuối như lúc đầu.

Chương 65 chủ trương làm cho dân ngu để dễ trị

Cách đọc ấy có thật trong lịch sử chú giải nên không né được. Nhưng chữ ngu trong sách này là mộc mạc, không cậy cái biết; Vương Bật chú là giữ cái thật, theo tự nhiên, và chính Lão Tử tự nhận lòng mình là lòng người ngu ở chương 20.

Ba chương 67, 68, 69 là một bài binh pháp

Không. Chương 69 mở bằng nhà dùng binh có câu rằng, tức đang dẫn lời nghề binh chứ không tự nói. Ba chương ấy dùng lời nhà binh để nói tiếp về chỗ đứng: không mở việc, không đối đầu, không giành chỗ trước.

Không dám đứng trước thiên hạ nghĩa là nhát gan và thụ động

Không. Hai chữ bất cảm trỏ việc biết chỗ nào không nên bước vào. Vế đáp của chính câu ấy nói rõ: chính vì không giành chỗ trước nên mới đứng đầu được.

Câu tự biết mình là sáng nằm trong chương 72

Không. Câu tự tri giả minh nằm ở chương 33, cặp với tri nhân giả trí. Chương 72 có câu khác là bậc thánh nhân tự biết mà không tự bày.

Hỏi Đáp Nhanh

Thiên lý chi hành thủy ư túc hạ nghĩa là gì

Đó là chương 64, nghĩa là đường nghìn dặm bắt đầu ngay dưới bàn chân. Câu này thường bị dẫn như lời cổ vũ bắt tay làm, nhưng trong nguyên văn nó nằm giữa một đoạn nói cái lớn khởi từ cái nhỏ nên phải cẩn thận ngay từ đầu: ngay dưới nó là câu kẻ ra tay làm thì làm hỏng nó, và đoạn kết bằng bốn chữ cẩn thận lúc cuối như lúc đầu.

Chương 65 có phải chủ trương làm cho dân ngu không

Đây là chỗ chưa xong tranh luận. Cách đọc coi đó là chủ trương ngu dân có thật trong lịch sử chú giải, từ phía Pháp gia cho tới các tranh luận thế kỷ hai mươi. Nhưng chữ ngu trong mạch riêng của sách nghĩa là mộc mạc, không cậy cái biết; Vương Bật chú chữ ấy là giữ cái thật và thuận theo tự nhiên.

Ba vật báu của Lão Tử là gì

Theo chương 67: một là từ, lòng thương như mẹ thương con; hai là kiệm, dè sẻn, không dùng hết không bày ra hết; ba là không dám đứng trước thiên hạ. Sách nói có lòng thương nên mới dám mạnh, có dè sẻn nên mới rộng được, không giành chỗ trước nên mới đứng đầu được.

Bị hạt hoài ngọc nghĩa là gì

Là câu kết chương 70, nghĩa là khoác áo vải thô mà trong lòng mang ngọc. Hạt là áo vải gai thô của người lao động. Câu này không dạy giấu tài để chờ được trọng dụng; cái áo thô chỉ là hệ quả của việc người ấy không bày mình ra.

Tri bất tri thượng nghĩa là gì

Là câu mở chương 71. Chữ ấy có ba cách đọc: biết cái mình không biết, biết mà coi như chưa biết, hoặc biết cái không thể biết. Vế đối phía sau rõ hơn: không biết mà tưởng mình biết, ấy là bệnh.

Đọc Tiếp