壹Mạch Của Chín Chương Này
Chương 18 khép lại chín chương trước bằng một nhận xét lạnh: đạo lớn bỏ đi rồi mới có nhân nghĩa. Nhận xét ấy mới chỉ mô tả. Chương 19 mở ra ngay đây làm một việc nặng hơn, nó ra lệnh: dứt thánh bỏ trí, dứt nhân bỏ nghĩa. Từ chương 20 mạch đổi giọng hẳn, Lão Tử bỏ ngôi người quan sát mà nói về chính mình, tự nhận là kẻ đần độn giữa đám người sáng láng. Chương 21 quay lại tả trạng thái của Đạo; các chương 22, 23, 24, 26 xếp thành một chùm nguyên tắc ngắn, mỗi chương một hình ảnh kiểm chứng được; chương 25 đứng giữa như một cột mốc, và chương 27 khép lại bằng khái niệm tập minh.
Đọc rời từng chương thì chương 19 thành lời chửi Nho gia, chương 20 thành lời than thân. Đọc liền mạch thì thấy một chuỗi lập luận: trước hết gỡ bỏ các chuẩn mực do người dựng lên, rồi cho thấy cái giá phải trả của người đã gỡ xong, rồi chỉ ra cái người ấy nương vào thay cho chuẩn mực, sau cùng mới rút ra vài quy tắc hành xử. Chỗ chín chương dồn về là bốn câu cuối chương 25, nơi chuỗi bắt chước dừng lại ở chỗ Đạo chỉ theo chính nó vốn thế.
貳Chương 19: Hoàn Thuần
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 絕聖棄智,民利百倍; | Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội; | Dứt bỏ bậc thánh, vứt bỏ trí khôn, dân lợi gấp trăm; |
| 2 | 絕仁棄義,民復孝慈; | Tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ; | dứt bỏ nhân, vứt bỏ nghĩa, dân trở lại hiếu thảo từ ái; |
| 3 | 絕巧棄利,盜賊無有。 | Tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu. | dứt bỏ khéo léo, vứt bỏ mối lợi, trộm cướp không còn. |
| 4 | 此三者以為文不足, | Thử tam giả dĩ vi văn bất túc, | Ba điều ấy nói ra thành lời thì vẫn chưa đủ, |
| 5 | 故令有所屬: | Cố lệnh hữu sở thuộc: | nên phải cho chúng một chỗ nương tựa: |
| 6 | 見素抱樸, | Kiến tố bão phác, | bày ra cái mộc, ôm lấy cái thô, |
| 7 | 少私寡欲。 | Thiểu tư quả dục. | bớt lòng riêng, ít ham muốn. |
Bản thẻ tre Quách Điếm, khai quật năm 1993, chép ba câu đầu khác hẳn. Bản thông hành Vương Bật chép tuyệt thánh khí trí và tuyệt nhân khí nghĩa. Thẻ tre Quách Điếm nhóm giáp chép ba cặp khác, thứ tự cũng khác: tuyệt trí khí biện 絕智棄辯, dứt cái khôn vứt tài hùng biện; tuyệt xảo khí lợi 絕巧棄利, giống bản thông hành; và tuyệt ngụy khí lự 絕偽棄慮, dứt cái giả vứt cái toan tính, riêng chữ đầu cặp này có nhà đọc 偽 ngụy, có nhà đọc 爲 vi. Ở bản xưa nhất còn giữ được, chữ thánh và hai chữ nhân nghĩa đều không có mặt.
Nếu bản ấy gần với hình dạng sớm của sách thì lời lẽ chống nhân nghĩa gay gắt của bản thông hành có thể là hình dạng về sau, khi hai phái Nho và Đạo đã đối lập rõ; bản bạch thư Mã Vương Đôi chép gần như bản thông hành, tức lối chép ấy đã có từ trước đời Hán. Thư viện ghi cả hai chứ không chọn thay quý vị.
Về nghĩa, tuyệt 絕 là cắt đứt, khí 棄 là ném đi. Câu không nói mấy thứ ấy xấu, nó nói hãy thôi đề cao chúng, vì đề cao bậc thánh thì sinh ra người tranh nhau làm thánh.
Chữ văn 文 ở câu trên là lời lẽ, điều khoản viết ra: ba mệnh lệnh kia nếu chỉ là ba câu chữ thì chưa đứng được. Tố 素 là lụa mộc chưa nhuộm, phác 樸 là khúc gỗ chưa đẽo; cả câu nói một trạng thái duy nhất, chưa bị thêm vào.
Một chỗ ngắt đáng ngờ: bốn chữ mở đầu chương 20, tuyệt học vô ưu 絕學無憂, nhiều nhà hiệu khám cho rằng vốn thuộc cuối chương 19 vì hiệp vần với phác và dục. Thư viện giữ chỗ ngắt của bản thông hành.
參Chương 20: Dị Tục
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 絕學無憂。 | Tuyệt học vô ưu. | Dứt việc học thì hết lo. |
| 2 | 唯之與阿,相去幾何? | Duy chi dữ a, tương khứ kỷ hà? | Tiếng dạ với tiếng ừ, cách nhau bao nhiêu? |
| 3 | 善之與惡,相去若何? | Thiện chi dữ ác, tương khứ nhược hà? | Cái tốt với cái xấu, cách nhau được mấy? |
| 4 | 人之所畏,不可不畏。 | Nhân chi sở úy, bất khả bất úy. | Điều người đời sợ, mình cũng không thể không sợ. |
| 5 | 荒兮其未央哉! | Hoang hề kỳ vị ương tai! | Mênh mông thay, chưa thấy đâu là hết! |
| 6 | 眾人熙熙,如享太牢,如春登臺。 | Chúng nhân hy hy, như hưởng thái lao, như xuân đăng đài. | Người người hớn hở, như dự tiệc lớn, như mùa xuân lên đài ngắm cảnh. |
| 7 | 我獨泊兮其未兆,如嬰兒之未孩; | Ngã độc bạc hề kỳ vị triệu, như anh nhi chi vị hài; | Riêng ta lặng lẽ, chưa có dấu hiệu gì, như đứa trẻ sơ sinh chưa biết cười; |
| 8 | 儡儡兮若無所歸。 | Lỗi lỗi hề nhược vô sở quy. | rã rời thay, như người không có chỗ về. |
| 9 | 眾人皆有餘,而我獨若遺。 | Chúng nhân giai hữu dư, nhi ngã độc nhược di. | Người ta ai cũng dư dả, riêng ta như bị bỏ sót. |
| 10 | 我愚人之心也哉!沌沌兮。 | Ngã ngu nhân chi tâm dã tai! Độn độn hề. | Lòng ta đúng là lòng kẻ ngu vậy thay! Mờ mịt thay. |
| 11 | 俗人昭昭,我獨若昏。 | Tục nhân chiêu chiêu, ngã độc nhược hôn. | Người đời sáng láng, riêng ta như tối tăm. |
| 12 | 俗人察察,我獨悶悶。 | Tục nhân sát sát, ngã độc muộn muộn. | Người đời soi mói rạch ròi, riêng ta mịt mù. |
| 13 | 澹兮其若海,飂兮若無止。 | Đạm hề kỳ nhược hải, liêu hề nhược vô chỉ. | Lặng thay như biển, lộng thay như gió không bao giờ ngừng. |
| 14 | 眾人皆有以,而我獨頑似鄙。 | Chúng nhân giai hữu dĩ, nhi ngã độc ngoan tự bỉ. | Người ta ai cũng có chỗ dùng, riêng ta thô kệch như kẻ quê mùa. |
| 15 | 我獨異於人,而貴食母。 | Ngã độc dị ư nhân, nhi quý tự mẫu. | Riêng ta khác người, chỉ quý cái nuôi mình từ gốc. |
Duy 唯 là tiếng dạ cung kính, a 阿 là tiếng ừ suồng sã, trong lễ chế nhà Chu cách nhau cả một bậc thân phận. Hỏi hai âm ấy cách nhau bao nhiêu rồi nâng lên hỏi cái tốt với cái xấu cách nhau được mấy, nhưng câu thứ ba lập tức kéo lại: điều người đời sợ thì mình cũng không thể không sợ.
Chương này có nhiều chữ chép khác nhau, cần nói rõ. Chữ chúng tôi phiên là bạc, bản Vương Bật chép 怕, bản khác chép 泊, đều chỉ trạng thái lặng lẽ không động; hiểu theo mặt chữ 怕 của tiếng Việt ngày nay thành sợ hãi là sai. Hai chữ láy câu sau, bản Phó Dịch chép 儡儡, bản Vương Bật chép 儽儽, bản Hà Thượng Công chép 乘乘, nghĩa đều quanh chỗ rã rời; trang này chép mặt chữ của bản Phó Dịch vì âm Hán Việt của chữ ấy chắc chắn hơn, còn nghĩa thì ba bản không khác nhau. Câu ngã độc nhược hôn cũng có bản chép 我獨昏昏.
食母 nếu đọc chữ 食 theo âm thực thì là mẹ của thức ăn; đọc theo âm tự, nghĩa cho bú cho ăn, thì tự mẫu là người mẹ nuôi, và phần lớn các nhà theo cách sau, hiểu đó là chỉ Đạo.
Đặt câu ấy vào thì cả chương đổi nghĩa: người đời no đủ nhờ những thứ bày ra trước mắt, ông nhận phần nuôi dưỡng từ cái gốc không nhìn thấy, nên vẻ đần độn quê mùa suốt chương là cách một người có gốc khác bị nhìn từ bên ngoài. Tuy vậy các nhà chú giải không nhất trí về giọng chương này: Vương Bật đọc thành lời tả cảnh giới người đắc đạo, nhiều người đọc hiện nay đọc thành lời tự thuật của một con người cô độc.
肆Chương 21: Hư Tâm
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 孔德之容,惟道是從。 | Khổng đức chi dung, duy đạo thị tùng. | Dáng của cái đức lớn chỉ theo một mình Đạo. |
| 2 | 道之為物,惟恍惟惚。 | Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt. | Đạo xét như một vật thì chỉ thấy thấp thoáng mập mờ. |
| 3 | 惚兮恍兮,其中有象; | Hốt hề hoảng hề, kỳ trung hữu tượng; | Mập mờ thay, thấp thoáng thay, mà trong đó có hình tượng; |
| 4 | 恍兮惚兮,其中有物。 | Hoảng hề hốt hề, kỳ trung hữu vật. | thấp thoáng thay, mập mờ thay, mà trong đó có vật. |
| 5 | 窈兮冥兮,其中有精; | Yểu hề minh hề, kỳ trung hữu tinh; | Sâu thay, tối thay, mà trong đó có cái tinh; |
| 6 | 其精甚真,其中有信。 | Kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín. | cái tinh ấy rất thật, và trong đó có điều đáng tin. |
| 7 | 自古及今,其名不去, | Tự cổ cập kim, kỳ danh bất khứ, | Từ xưa tới nay, tên ấy chưa từng mất, |
| 8 | 以閱眾甫。 | Dĩ duyệt chúng phủ. | nhờ đó mà xem được buổi đầu của muôn vật. |
| 9 | 吾何以知眾甫之狀哉?以此。 | Ngô hà dĩ tri chúng phủ chi trạng tai? Dĩ thử. | Ta lấy gì mà biết được cảnh buổi đầu của muôn vật? Chính là nhờ đó. |
Hai chữ hốt hoảng đã gặp ở chương 14, nhưng chương 21 đi thêm một bước: chương 14 chỉ nói Đạo không hình không vật, chương 21 nói trong cái mập mờ ấy có cái gì đó. Ba lớp kể từ ngoài vào trong: có tượng 象, hình bóng chưa thành vật; có vật 物; rồi trong chỗ tối thẳm, có tinh 精, chữ vốn chỉ hạt gạo giã kỹ, phần cốt lõi sau khi bỏ vỏ trấu.
Đọc chương 14 dễ kết luận Đạo là hư không; chương 21 nói ngược, và chữ thậm chân 甚真, rất thật, đặt ở đây là đặt rất nặng.
Chữ tín 信 không phải lòng tin của người, mà là tính đáng tin cậy của chính sự vật, tức nó luôn như vậy nên người ta dựa vào mà đoán được. Nếu cái gốc không có tín thì mọi phép suy đoán của thuật số đều vô nghĩa.
Bốn chữ mở câu này có hai lối chép. Bản thông hành Vương Bật chép tự cổ cập kim 自古及今; bản bạch thư Mã Vương Đôi chép đảo lại thành tự kim cập cổ 自今及古, và câu sau cũng chép dĩ thuận chúng phụ 以順眾父 chứ không phải dĩ duyệt chúng phủ. Nhiều nhà hiệu khám cận đại chuộng lối chép đảo vì chữ 古 hiệp vần với chữ 甫 ở câu dưới.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 棄 | khí | Vứt bỏ, ném đi. Không phải khí trong khí huyết |
| 素 | tố | Lụa mộc chưa nhuộm màu |
| 唯 | duy | Tiếng dạ cung kính khi đáp lời bề trên |
| 兆 | triệu | Điềm, vết nứt trên mai rùa bói, dấu hiệu lộ ra trước |
| 食母 | tự mẫu | Người mẹ nuôi, cái nguồn nuôi mình. Chữ 食 ở đây đọc là tự, nghĩa cho ăn, không đọc là thực |
| 甫 | phủ | Buổi đầu, lúc mới bắt đầu |
伍Chương 22: Ích Khiêm
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 曲則全,枉則直, | Khúc tắc toàn, uổng tắc trực, | Cong thì giữ được toàn vẹn, queo thì lại hóa thẳng, |
| 2 | 窪則盈,敝則新, | Oa tắc doanh, tệ tắc tân, | trũng thì được đầy, cũ thì thành mới, |
| 3 | 少則得,多則惑。 | Thiểu tắc đắc, đa tắc hoặc. | ít thì được, nhiều thì loạn. |
| 4 | 是以聖人抱一為天下式。 | Thị dĩ thánh nhân bão nhất vi thiên hạ thức. | Cho nên bậc thánh nhân ôm lấy cái một mà làm khuôn mẫu cho thiên hạ. |
| 5 | 不自見,故明; | Bất tự kiến, cố minh; | Không tự phô mình nên sáng; |
| 6 | 不自是,故彰; | Bất tự thị, cố chương; | không tự cho mình phải nên rõ; |
| 7 | 不自伐,故有功; | Bất tự phạt, cố hữu công; | không tự khoe công nên có công; |
| 8 | 不自矜,故長。 | Bất tự căng, cố trưởng. | không tự kiêu nên đứng được lâu. |
| 9 | 夫唯不爭,故天下莫能與之爭。 | Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh. | Chính vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình. |
| 10 | 古之所謂曲則全者,豈虛言哉! | Cổ chi sở vị khúc tắc toàn giả, khởi hư ngôn tai! | Câu người xưa nói cong thì toàn vẹn, há phải lời suông sao! |
| 11 | 誠全而歸之。 | Thành toàn nhi quy chi. | Quả thật giữ được toàn vẹn mà quay về với gốc. |
Ba chữ này được chính chương xác nhận là lời người xưa, ở câu cổ chi sở vị khúc tắc toàn giả. Nghĩa nằm trong kinh nghiệm rất thường: cây cong queo thì thợ không đốn nên sống trọn đời, cây thẳng đẹp thì bị hạ trước. Toàn 全 là còn nguyên vẹn không sứt mẻ, không phải toàn thắng. Năm vế còn lại cùng khuôn ấy: cái ở vị trí thiệt thòi lại là cái giữ được lâu.
Riêng vế uổng tắc trực các nhà giải không thống nhất, có người hiểu là chịu oan khuất rồi được minh oan, có người hiểu là thanh gỗ cong phải uốn ngược lại mới thành thẳng.
Chữ 見 ở đây đọc là kiến nhưng mang nghĩa của chữ 現, phô ra, không phải nhìn thấy. Lập luận của bốn vế nằm ở chỗ ai xác nhận: người tự khen thì lời khen do chính mình nói ra nên không có giá trị.
Bốn vế này nên đọc kèm chương 24, vì chương ấy nói lại đúng chúng ở dạng phủ định ngược, và việc cùng một đoạn xuất hiện hai lần trong hai chương liền nhau là dấu vết cho thấy sách được gom từ nhiều mảnh lời có sẵn.
陸Chương 23: Hư Vô
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 希言自然。 | Hy ngôn tự nhiên. | Ít lời mới hợp lẽ tự nó vốn thế. |
| 2 | 故飄風不終朝,驟雨不終日。 | Cố phiêu phong bất chung triêu, sậu vũ bất chung nhật. | Cho nên gió lốc không thổi suốt buổi sáng, mưa rào không đổ suốt ngày. |
| 3 | 孰為此者?天地。 | Thục vi thử giả? Thiên địa. | Ai làm ra những thứ ấy? Trời đất. |
| 4 | 天地尚不能久,而況於人乎? | Thiên địa thượng bất năng cửu, nhi huống ư nhân hồ? | Trời đất còn không giữ được lâu, huống chi con người? |
| 5 | 故從事於道者,同於道; | Cố tòng sự ư đạo giả, đồng ư đạo; | Cho nên ai theo Đạo mà làm thì hòa cùng Đạo; |
| 6 | 德者,同於德; | Đức giả, đồng ư đức; | ai theo đức thì hòa cùng đức; |
| 7 | 失者,同於失。 | Thất giả, đồng ư thất. | ai theo cái mất thì hòa cùng cái mất. |
| 8 | 同於道者,道亦樂得之; | Đồng ư đạo giả, đạo diệc lạc đắc chi; | Người hòa cùng Đạo thì Đạo cũng vui mà nhận lấy; |
| 9 | 同於德者,德亦樂得之; | Đồng ư đức giả, đức diệc lạc đắc chi; | người hòa cùng đức thì đức cũng vui mà nhận lấy; |
| 10 | 同於失者,失亦樂得之。 | Đồng ư thất giả, thất diệc lạc đắc chi. | người hòa cùng cái mất thì cái mất cũng vui mà nhận lấy. |
| 11 | 信不足焉,有不信焉。 | Tín bất túc yên, hữu bất tín yên. | Lòng tin của người trên không đủ thì kẻ dưới mới không tin theo. |
Chữ hy 希 đã gặp ở chương 14, nghĩa gốc là thưa thớt, ít tới mức gần như không có, nên hy ngôn là gần như không nói ra thành lời. Chữ tự nhiên ở đây mang đúng nghĩa sẽ bàn kỹ ở chương 25.
Gió lốc và mưa rào là hai thứ ồn ào nhất trời đất làm ra, và cũng là hai thứ tắt nhanh nhất; còn thứ trời đất làm liên tục không nghỉ thì lặng lẽ, ngày đêm nối nhau, bốn mùa đi vòng. Câu chốt nặng hơn cả hai ví dụ: trời đất còn không giữ được lâu, huống chi con người.
Ba vế đạo, đức, thất xếp thành bậc thang đi xuống, chữ thất 失 chỉ trạng thái đã rời khỏi đạo và đức. Ý của đoạn giản dị mà lạnh: người ta hòa vào cái gì thì cái ấy nhận lấy người ta, không có thưởng phạt từ bên ngoài, chỉ có sự tương ứng.
Một chỗ về văn bản: bản Vương Bật truyền tới nay chép cố tòng sự ư đạo giả, đạo giả đồng ư đạo, lặp lại hai chữ đạo giả, mà đại đa số các nhà hiệu khám coi là diễn văn, chữ thừa do người chép thêm; thư viện chép theo cách đã bỏ. Câu cuối chương lặp nguyên văn câu kết chương 17.
柒Chương 24: Khổ Ân
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 企者不立,跨者不行。 | Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. | Kẻ kiễng chân thì không đứng được lâu, kẻ bước quá dài thì không đi được xa. |
| 2 | 自見者不明,自是者不彰, | Tự kiến giả bất minh, tự thị giả bất chương, | Kẻ tự phô mình thì không sáng, kẻ tự cho mình phải thì không rõ, |
| 3 | 自伐者無功,自矜者不長。 | Tự phạt giả vô công, tự căng giả bất trưởng. | kẻ tự khoe công thì không có công, kẻ tự kiêu thì không đứng được lâu. |
| 4 | 其在道也,曰餘食贅行。 | Kỳ tại đạo dã, viết dư thực chuế hành. | Xét theo Đạo thì những thứ ấy gọi là cơm thừa, là bướu thịt. |
| 5 | 物或惡之,故有道者不處。 | Vật hoặc ố chi, cố hữu đạo giả bất xử. | Vật nào cũng ghét những thứ ấy, nên người có Đạo không ở vào chỗ đó. |
Chữ xí 企 gồm bộ nhân trên bộ chỉ, tức người nhấc gót, là kiễng chân; chữ khóa 跨 là bước dạng chân thật rộng. Hai hình ảnh ấy là hai cách vượt quá tầm của chính mình.
Kiễng chân thì cao hơn thật nhưng vài nhịp thở là mỏi; sải bước dài thì mỗi bước xa hơn nhưng vài chục bước là đuối. Cái hỏng không ở chỗ cao hay dài mà ở chỗ tư thế ấy không giữ được: sách không hỏi việc ấy đạt tới đâu, mà hỏi nó duy trì được bao lâu.
Bốn chữ này là một trong những chỗ khó phiên nhất của cả sách. Dư thực 餘食 là cơm thừa đổ đi; chữ thứ tư mới rắc rối. Chép theo mặt chữ thì là 行, âm hành. Nhưng chuế 贅 là cái bướu mọc thừa trên thân, nên rất nhiều nhà chú giải cho rằng 行 ở đây là chữ 形 hình chép nhầm, phải đọc là dư thực chuế hình, cơm thừa và bướu thịt; bản bạch thư Mã Vương Đôi vẫn chép 行. Thư viện giữ mặt chữ bản thông hành, phiên là hành, nhưng dịch nghĩa theo hướng cái thừa mọc trên thân.
Điều chương muốn nói không phụ thuộc chỗ ấy: tự phô, tự khen, tự kiêu đều là thứ thêm vào mà không nuôi được gì.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 枉 | uổng | Cong queo, và cũng có nghĩa oan khuất |
| 窪 | oa | Chỗ trũng, hõm xuống |
| 矜 | căng | Tự thấy mình đáng nể, kiêu |
| 驟 | sậu | Ào ạt, đột ngột. Sậu vũ là mưa rào |
| 企 | xí | Kiễng chân lên cho cao |
| 贅 | chuế | Cái bướu, phần mọc thừa ra trên thân |
捌Chương 25: Tượng Nguyên
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 有物混成,先天地生。 | Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. | Có một vật hình thành trong chỗ chưa phân chia, sinh ra trước cả trời đất. |
| 2 | 寂兮寥兮,獨立不改, | Tịch hề liêu hề, độc lập bất cải, | Lặng thay, trống thay, đứng một mình mà không đổi, |
| 3 | 周行而不殆,可以為天下母。 | Chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu. | đi vòng khắp mà không mỏi, có thể làm mẹ của thiên hạ. |
| 4 | 吾不知其名,字之曰道, | Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo, | Ta không biết tên nó, đặt tên chữ cho nó là Đạo, |
| 5 | 強為之名曰大。 | Cưỡng vi chi danh viết đại. | gượng đặt tên gọi cho nó là Lớn. |
| 6 | 大曰逝,逝曰遠,遠曰反。 | Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản. | Lớn thì đi, đi thì xa, xa thì quay trở lại. |
| 7 | 故道大,天大,地大,王亦大。 | Cố đạo đại, thiên đại, địa đại, vương diệc đại. | Cho nên Đạo lớn, trời lớn, đất lớn, mà vua cũng lớn. |
| 8 | 域中有四大,而王居其一焉。 | Vực trung hữu tứ đại, nhi vương cư kỳ nhất yên. | Trong cõi này có bốn cái lớn, và vua chiếm một trong bốn. |
| 9 | 人法地,地法天, | Nhân pháp địa, địa pháp thiên, | Người lấy đất làm phép, đất lấy trời làm phép, |
| 10 | 天法道,道法自然。 | Thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên. | trời lấy Đạo làm phép, còn Đạo thì lấy chính cái tự nó vốn thế làm phép. |
Chữ hỗn 混 là lẫn vào nhau chưa tách bạch, nên hỗn thành là đã thành hình nhưng thành trong trạng thái chưa phân chia. Cả truyền thống vũ trụ luận Á Đông về sau dựa vào chữ ấy.
Chú ý chữ vật 物: chương 14 vừa nói Đạo trở về chỗ không có vật, nay lại gọi nó là một vật; mâu thuẫn ấy cố ý, vì mỗi lần buộc phải nói thì sách mượn tạm một chữ rồi tự tháo chữ ấy ra ngay. Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép khả dĩ vi thiên địa mẫu, mẹ của trời đất, thay vì thiên hạ mẫu, và không có câu chu hành nhi bất đãi.
Trong lễ chế xưa, danh 名 là tên cha mẹ đặt lúc mới sinh, tự 字 là tên chữ đặt thêm lúc thành niên để người ngoài gọi cho tiện. Câu này nói ta không biết danh của nó nên chỉ đặt cho một chữ tự là Đạo; chữ Đạo do đó chỉ là tên gọi tiện dụng. Chữ cưỡng 強 ở câu sau còn thẳng hơn, gượng mà đặt tên gọi là Lớn.
Bốn chữ đại, thệ, viễn, phản là một vòng khép kín: lớn thì lan đi, xa dần, xa tới cùng thì quay lại chỗ cũ. Chữ phản 反 sẽ thành mệnh đề cốt lõi ở chương 40, phản giả đạo chi động.
Bốn cái lớn là Đạo, trời, đất, và cái thứ tư; chỗ tranh cãi nằm ở chính cái thứ tư ấy. Bản thông hành Vương Bật và bản bạch thư Mã Vương Đôi đều chép vương 王, vua; bản Phó Dịch và một số bản khác chép nhân 人, người.
Một chữ ấy đổi hẳn tầm của chương. Nếu là vương thì đây là mệnh đề chính trị, người cầm quyền được xếp ngang trời đất nhưng cũng vì thế bị buộc theo phép của trời đất; nếu là nhân thì đây là mệnh đề về vị trí con người trong vũ trụ. Lý do nhiều nhà nghiêng về chữ nhân: câu ngay sau mở đầu bằng nhân pháp địa chứ không phải vương pháp địa. Thư viện chép theo bản thông hành và ghi chỗ tranh cãi ra đây để quý vị tự cân nhắc.
Mười sáu chữ này là câu được trích nhiều nhất của cả nền tư tưởng Trung Hoa, và cũng là câu bị hiểu lệch nhiều nhất khi sang tiếng Việt. Chữ pháp 法 ở đây là động từ, lấy cái gì làm khuôn mẫu. Ba vế đầu là một chuỗi đi lên rành mạch: người sống trên mặt đất nên theo nhịp của đất, tức mùa vụ, thổ nghi, địa thế; đất chịu nhịp của trời, tức nắng mưa, ngày đêm, tiết khí; trời chịu nhịp của Đạo. Tới đây chuỗi phải dừng, vì trên Đạo không còn tầng nào nữa.
Đây là chỗ phải nói cho thật rõ, vì người Việt hiểu lệch nhiều nhất ở đây. Hai chữ tự nhiên 自然 trong câu này không có nghĩa là thiên nhiên, cây cỏ, núi sông, môi trường. Nghĩa ấy là nghĩa mới, vào tiếng Hán và tiếng Việt quãng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi cần một chữ dịch khái niệm nature của phương Tây và người ta mượn lại lối dùng của tiếng Nhật. Trong tiếng Hán cổ, 自然 không phải danh từ chỉ giới tự nhiên mà là hai chữ ghép: tự 自 là chính nó, nhiên 然 là như thế. Tự nhiên là tự nó vốn thế, tự thế mà thế, không do cái gì khác khiến cho thành ra như vậy.
Cho nên đạo pháp tự nhiên không có nghĩa là Đạo bắt chước thiên nhiên, càng không phải lời kêu gọi sống gần gũi cây cỏ. Nó có nghĩa: trời, đất và người đều phải noi theo một cái cao hơn mình, riêng Đạo thì không noi theo gì ngoài nó cả, Đạo chỉ theo chính cái tự nó vốn thế. Vương Bật chú rất gọn: ở chỗ vuông thì lấy phép của vuông, ở chỗ tròn thì lấy phép của tròn, đối với cái tự nó vốn thế thì không trái nghịch gì cả.
Một cách đọc khác cần ghi ra: có người, nhất là thời cận đại, đọc tự nhiên như một cái gì đó đứng trên Đạo, tức thêm một tầng thứ năm. Cách đọc ấy bị phần lớn các nhà chú giải bác bỏ, vì nó mâu thuẫn với chính phần đầu chương, chỗ đã nói Đạo sinh trước trời đất và đứng một mình không đổi. Hai chữ ấy cũng đã xuất hiện ở chương 17 và ở đầu chương 23 trang này với đúng nghĩa cũ.
玖Chương 26: Trọng Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 重為輕根,靜為躁君。 | Trọng vi khinh căn, tĩnh vi táo quân. | Nặng là gốc của nhẹ, tĩnh là chủ của động xao. |
| 2 | 是以聖人終日行不離輜重。 | Thị dĩ thánh nhân chung nhật hành bất ly truy trọng. | Cho nên bậc thánh nhân đi suốt ngày mà không rời cỗ xe chở nặng. |
| 3 | 雖有榮觀,燕處超然。 | Tuy hữu vinh quan, yến xử siêu nhiên. | Tuy có cảnh đẹp lầu son, vẫn ở yên mà vượt ra ngoài. |
| 4 | 奈何萬乘之主,而以身輕天下? | Nại hà vạn thặng chi chủ, nhi dĩ thân khinh thiên hạ? | Sao người làm chủ một nước vạn cỗ xe lại đem thân mình xem nhẹ thiên hạ? |
| 5 | 輕則失本,躁則失君。 | Khinh tắc thất bản, táo tắc thất quân. | Nhẹ thì mất gốc, xao động thì mất quyền làm chủ. |
Hai vế mở chương dựng hai cặp đối, nặng với nhẹ và tĩnh với xao động, rồi đặt vế thứ nhất vào vị trí gốc và chủ. Chữ căn 根 là rễ, chữ quân 君 là người làm chủ; hai chữ ấy không nói cái nặng tốt hơn cái nhẹ, mà nói cái nhẹ phải có chỗ neo vào cái nặng mới không bay đi.
Chữ táo 躁 gồm bộ túc, nghĩa gốc là chân cứ động không yên, nên nó chỉ sự nóng nảy bồn chồn chứ không phải vận động bình thường.
Truy trọng 輜重 là thuật ngữ nhà binh, đoàn xe chở lương thảo và đồ nặng đi kèm một cánh quân: chậm và cồng kềnh, nhưng tướng nào bỏ nó lại để hành quân cho nhanh thì thường thua. Câu tiếp dùng hình ảnh trái ngược, vinh quan 榮觀, lầu son đài đẹp; chữ 觀 đa âm, đọc quan khi là nhìn ngắm, đọc quán khi là lầu đài đền quán, Hà Thượng Công giải là cung khuyết còn Vương Bật giải là cảnh tượng vinh hoa, nên quý vị nên biết cả hai lối ấy.
Câu kết có một chỗ chép khác: bản thông hành và bản bạch thư đều chép khinh tắc thất bản 輕則失本, cân với chữ căn ở đầu chương, còn một số bản khác chép khinh tắc thất thần 輕則失臣 để đối với chữ quân.
拾Chương 27: Xảo Dụng
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 善行無轍跡,善言無瑕謫, | Thiện hành vô triệt tích, thiện ngôn vô hà trích, | Khéo đi thì không để lại vết bánh xe, khéo nói thì không để hở chỗ bắt lỗi, |
| 2 | 善數不用籌策, | Thiện sổ bất dụng trù sách, | khéo tính thì không cần thẻ đếm, |
| 3 | 善閉無關楗而不可開, | Thiện bế vô quan kiện nhi bất khả khai, | khéo đóng thì không dùng then chốt mà không ai mở được, |
| 4 | 善結無繩約而不可解。 | Thiện kết vô thằng ước nhi bất khả giải. | khéo buộc thì không dùng dây mà không ai gỡ được. |
| 5 | 是以聖人常善救人,故無棄人; | Thị dĩ thánh nhân thường thiện cứu nhân, cố vô khí nhân; | Cho nên bậc thánh nhân thường khéo cứu người, nên không có người nào bị bỏ đi; |
| 6 | 常善救物,故無棄物。 | Thường thiện cứu vật, cố vô khí vật. | thường khéo cứu vật, nên không có vật nào bị bỏ đi. |
| 7 | 是謂襲明。 | Thị vị tập minh. | Đó gọi là cái sáng được giữ kín. |
| 8 | 故善人者,不善人之師; | Cố thiện nhân giả, bất thiện nhân chi sư; | Cho nên người khéo là thầy của người không khéo; |
| 9 | 不善人者,善人之資。 | Bất thiện nhân giả, thiện nhân chi tư. | người không khéo là chỗ nhờ cậy của người khéo. |
| 10 | 不貴其師,不愛其資, | Bất quý kỳ sư, bất ái kỳ tư, | Không quý ông thầy ấy, không tiếc chỗ nhờ ấy, |
| 11 | 雖智大迷,是謂要妙。 | Tuy trí đại mê, thị vị yếu diệu. | thì dù khôn tới đâu cũng vẫn mê lớn. Đó gọi là chỗ cốt yếu nhiệm màu. |
Năm vế mở chương theo cùng một khuôn, khéo tới mức không cần tới dụng cụ của việc ấy nữa. Triệt tích 轍跡 là vết lún bánh xe; trù sách 籌策 là que tre dùng để tính; quan kiện 關楗 là then ngang chốt dọc cài cửa; thằng ước 繩約 là dây trói buộc.
Hai chữ tập minh 襲明 là khái niệm riêng của chương, và các nhà giải không nhất trí. Chữ tập 襲 vừa nghĩa là mặc chồng thêm một lớp áo, vừa nghĩa là kế thừa nối tiếp. Theo nghĩa trước thì tập minh là cái sáng được phủ kín, sáng mà không để lộ ra, hợp với năm vế đầu chương, và thư viện theo cách ấy; theo nghĩa sau thì là giữ cho cái sáng truyền đi không dứt, và quý vị nên biết cả hai.
Chữ khí 棄 trong vô khí nhân chính là chữ khí trong tuyệt thánh khí trí của chương 19 mở đầu trang này. Đặt cạnh nhau thấy rõ: sách sẵn sàng vứt bỏ các chuẩn mực, nhưng không vứt bỏ người nào.
Chữ tư 資 nghĩa gốc là vốn liếng, chỗ dựa để làm việc. Vế trước dễ hiểu, người khéo làm thầy người vụng; vế sau lật ngược, không có người vụng thì cái khéo của người khéo chẳng có chỗ nào dùng được. Câu kết nặng: ai không quý ông thầy ấy, không tiếc chỗ nhờ ấy, thì dù khôn tới đâu cũng vẫn mê lớn.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 字 | tự | Tên chữ đặt thêm lúc thành niên, khác với danh là tên cha mẹ đặt |
| 自然 | tự nhiên | Tự nó vốn thế, không do cái khác khiến nên. Không phải thiên nhiên cây cỏ |
| 輜重 | truy trọng | Đoàn xe chở lương thảo và đồ nặng đi theo cánh quân |
| 躁 | táo | Nóng nảy, chân tay động không yên |
| 數 | sổ | Đếm, tính. Chữ đa âm, ở đây không đọc là số theo nghĩa con số hay số mệnh |
| 襲明 | tập minh | Cái sáng được phủ kín, sáng mà không lộ ra |
拾壹Ý Chỉ Chung Của Chín Chương
- Chương 19Dứt bỏ ba thứ, ôm lấy cái mộcBản thẻ tre Quách Điếm chép ba cặp khác hẳn, không có chữ thánh và chữ nhân nghĩa.
- Chương 20Lời tự bạch của kẻ ngu độnNgười đời hớn hở như dự tiệc lớn, riêng ta lặng lẽ. Ta khác người vì quý cái nuôi mình từ gốc.
- Chương 21Trong chỗ mập mờ có tượng, có vật, có tinhKhông nắm bắt được không có nghĩa là không có. Cái tinh ấy rất thật.
- Chương 22Cong thì giữ được toàn vẹnSáu vế nghịch lý, đều nói cái ở vị trí thiệt thòi lại là cái giữ được lâu.
- Chương 23Gió lốc không suốt buổi sángTrời đất còn không giữ nổi cơn dữ dội của mình, huống chi người.
- Chương 24Kẻ kiễng chân không đứng được lâuKhông hỏi việc ấy đạt tới đâu, hỏi việc ấy giữ được bao lâu.
- Chương 25Có vật hỗn thành, sinh trước trời đấtNgười theo đất, đất theo trời, trời theo Đạo, Đạo theo chính cái tự nó vốn thế.
- Chương 26Nặng là gốc của nhẹCái nhẹ phải neo vào cái nặng mới không bay đi.
- Chương 27Khéo tới mức không cần dụng cụRàng buộc chặt nhất là cái không thấy ràng buộc ở đâu, và không bỏ một người nào.
Trục chung của chín chương: bỏ đi cái do người thêm vào, để cái tự nó vốn thế hiện ra. Chương 19 bỏ các chuẩn mực, chương 22 và 24 bỏ thói tự phô, chương 23 bỏ lời nhiều, chương 26 bỏ tính xao động, chương 27 bỏ luôn cả dụng cụ của việc mình làm, và tất cả dồn về bốn chữ đạo pháp tự nhiên.
Chương 20 cho thấy cái giá của lối sống ấy: người bỏ hết những thứ đám đông bám vào thì bị đám đông nhìn như kẻ đần độn, quê mùa. Sách không giấu điều đó.
拾貳Năm Chỗ Dễ Hiểu Lầm
Không, và đây là chỗ người Việt hiểu lệch nhiều nhất. Trong tiếng Hán cổ, tự là chính nó, nhiên là như thế, ghép lại nghĩa là tự nó vốn thế. Nghĩa thiên nhiên là nghĩa mới, hình thành cuối thế kỷ 19 khi cần một chữ dịch khái niệm nature của phương Tây.
Không hẳn. Bản thẻ tre Quách Điếm, bản xưa nhất còn giữ được, chép ba câu đầu hoàn toàn khác: dứt trí bỏ biện, dứt xảo bỏ lợi, dứt ngụy bỏ lự, không có chữ thánh cũng không có chữ nhân nghĩa.
Câu cuối chương bác lại: ta khác người vì ta quý cái nuôi mình từ gốc. Tuy vậy các nhà chú giải không nhất trí về giọng chương này, và cách đọc thành lời tự thuật cô độc cũng đứng vững trên văn bản.
Không. Toàn ở đây là còn nguyên vẹn không sứt mẻ, lấy từ hình ảnh cây cong queo thì thợ không đốn. Chương nói về vị trí chịu thiệt mà giữ được lâu, không nói về thái độ nịnh nọt.
Không. Chữ tập 襲 nghĩa gốc là mặc chồng thêm một lớp áo, nên tập minh là cái sáng được phủ kín, sáng mà không để lộ ra. Có nhà hiểu theo nghĩa nối tiếp. Không nhà nào hiểu là học tập.
問Hỏi Đáp Nhanh
Đạo pháp tự nhiên nghĩa là gì
Là bốn chữ cuối chương 25. Chữ pháp ở đây là động từ, nghĩa là lấy cái gì làm khuôn mẫu: người lấy đất làm phép, đất lấy trời làm phép, trời lấy Đạo làm phép, còn Đạo thì lấy chính cái tự nó vốn thế làm phép. Hai chữ tự nhiên ở đây không có nghĩa là thiên nhiên cây cỏ, mà nghĩa là tự nó vốn thế, không do cái gì khác khiến nên.
Tuyệt thánh khí trí tuyệt nhân khí nghĩa có phải Lão Tử chửi Nho gia không
Cần thận trọng. Bản thông hành Vương Bật chép như vậy, và đọc theo bản ấy thì đúng là lời bác bỏ hệ giá trị Nho gia. Nhưng bản thẻ tre Quách Điếm khai quật năm 1993, bản xưa nhất còn giữ được, chép ba cặp khác hẳn là dứt trí bỏ biện, dứt xảo bỏ lợi, dứt ngụy bỏ lự, không có chữ thánh và cũng không có chữ nhân nghĩa.
Khúc tắc toàn nghĩa là gì
Là ba chữ mở đầu chương 22, nghĩa là cong thì giữ được toàn vẹn, và chính chương cho biết đây là câu người xưa truyền lại. Nghĩa của nó nằm trong kinh nghiệm rất thường: cây cong queo thì thợ không đốn nên sống trọn đời, cây thẳng đẹp thì bị hạ trước. Toàn ở đây là còn nguyên vẹn không sứt mẻ.
Vì sao chương 23 nói gió lốc không thổi suốt buổi sáng
Vì gió lốc và mưa rào là hai thứ ồn ào nhất mà trời đất làm ra, và cũng là hai thứ tắt nhanh nhất, còn thứ trời đất làm liên tục không nghỉ thì lặng lẽ. Câu chốt còn nặng hơn hai ví dụ: trời đất còn không giữ được lâu, huống chi con người.
Tập minh trong chương 27 nghĩa là gì
Chữ tập nghĩa gốc là mặc chồng thêm một lớp áo, nên tập minh là cái sáng được phủ kín, tức người ấy sáng mà không để lộ ra, hợp với năm vế đầu chương nói về việc khéo tới mức không để lại dấu vết. Một số nhà hiểu chữ tập theo nghĩa kế thừa nối tiếp, và đọc tập minh là giữ cho cái sáng truyền đi không dứt.