壹Mạch Của Chín Chương Này
Chín chương trước bắc qua chỗ nối giữa hai phần của sách: chương 37 khép lại Đạo Kinh, chương 38 mở ra Đức Kinh bằng câu bậc đức cao thì không ra vẻ có đức. Đó vẫn là phần bàn về lẽ chung.
Chín chương từ 46 tới 54 chuyển sang bàn về chỗ đặt mình: đặt ở chỗ biết đủ, ở chỗ không phải chạy đi tìm mới biết, ở phép bớt dần chứ không phải phép thêm vào, ở chỗ không giữ lòng riêng, ở chỗ không có đất chết. Chương 51 đưa ra căn cứ cho tất cả: Đạo sinh, đức nuôi, nuôi xong thì buông.
Đọc rời thì mỗi chương bị rút gọn một kiểu: vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn thành lời chê việc học, bất xuất hộ tri thiên hạ thành lời khoe phép thần thông, chương 50 thành bằng chứng cho thuật trường sinh.
Đọc liền mạch thì thấy một chuỗi lập luận chặt. Cái thiếu không nằm ở chỗ có ít mà ở chỗ không biết đủ; cái biết thật cũng không nằm ở số lượng đi và xem. Từ hai chỗ ấy mới ra được câu chương 48: có việc làm bằng cách thêm vào, có việc chỉ làm được bằng cách bớt đi. Bớt tới cùng thì còn lại đúng cách Đạo đối với vạn vật. Bốn chữ huyền đức ở cuối chương 51 lặp nguyên văn chương 10, và đó là chỗ hai đầu của sách chạm vào nhau.
貳Chương 46: Kiệm Dục
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 天下有道,卻走馬以糞。 | Thiên hạ hữu đạo, khước tẩu mã dĩ phẩn. | Thiên hạ có đạo thì ngựa chạy nhanh được trả về bón ruộng. |
| 2 | 天下無道,戎馬生於郊。 | Thiên hạ vô đạo, nhung mã sinh ư giao. | Thiên hạ không có đạo thì ngựa chiến đẻ con ngoài đồng xa. |
| 3 | 禍莫大於不知足; | Họa mạc đại ư bất tri túc; | Họa không gì lớn hơn chuyện không biết đủ; |
| 4 | 咎莫大於欲得。 | cữu mạc đại ư dục đắc. | lỗi không gì lớn hơn chuyện muốn được thêm. |
| 5 | 故知足之足, | Cố tri túc chi túc, | Cho nên cái đủ của người biết đủ, |
| 6 | 常足矣。 | thường túc hĩ. | mới là cái đủ lâu bền. |
Tẩu mã 走馬 là ngựa chạy nhanh, khước 卻 là trả về, phẩn 糞 ở đây là động từ nghĩa bón ruộng chứ không phải danh từ chỉ chất bẩn. Câu sau đối lại: nhung mã 戎馬 là ngựa việc binh, giao 郊 là đồng ngoài thành, ngựa cái theo quân lâu ngày không về được nên đến kỳ thì đẻ ngay ngoài đồng. Sách chỉ chỉ vào chỗ con ngựa đang đứng, không kể một lời thiệt hại.
Chữ cữu 咎 là lỗi và tai vạ do chính mình chuốc lấy, đã gặp ở chương 9. Vế trên nói cái trạng thái, vế dưới nói cái động tác sinh ra từ đó: sự loạn không nổ ra vì thiếu mà vì không biết đủ. Cái đủ nhờ lấy đủ số thì luôn treo trên một con số, mà con số thì đổi.
Bản Hà Thượng Công và hai bản bạch thư Mã Vương Đôi còn có vế tội mạc đại ư khả dục 罪莫大於可欲 đứng trước, thành ba vế; bản thông hành Vương Bật chỉ có hai vế, và xin ghi ra đây để quý vị biết đoạn này vốn dài hơn.
參Chương 47: Giám Viễn
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 不出戶,知天下; | Bất xuất hộ, tri thiên hạ; | Không ra khỏi cửa mà biết việc thiên hạ; |
| 2 | 不闚牖,見天道。 | bất khuy dũ, kiến thiên đạo. | không nhòm qua cửa sổ mà thấy đạo trời. |
| 3 | 其出彌遠, | Kỳ xuất di viễn, | Càng đi ra xa, |
| 4 | 其知彌少。 | kỳ tri di thiểu. | thì cái biết càng ít. |
| 5 | 是以聖人不行而知, | Thị dĩ thánh nhân bất hành nhi tri, | Cho nên bậc thánh nhân không đi mà biết, |
| 6 | 不見而名, | bất kiến nhi danh, | không nhìn mà gọi được tên, |
| 7 | 不為而成。 | bất vi nhi thành. | không làm mà nên. |
Hộ 戶 là cửa một cánh của gian nhà ở, dũ 牖 là cửa sổ, khuy 闚 là nhòm qua khe hở, nhiều bản khắc lại viết thành 窺. Chỗ dễ đọc sai nằm ở chữ tri 知: câu này không nói người ấy biết được tin tức từng việc ngoài kia, vì như vậy là phép thần thông, điều sách chưa từng hứa. Cái được nói tới là biết lẽ chung, và vế dưới nói thẳng: cái thấy được là thiên đạo 天道, đạo trời.
Di 彌 là càng, thêm lên. Câu viết nghịch, và chỗ nghịch ấy mới là lập luận: nó không bác việc đi và xem, nó bác việc lấy số lượng kiến văn làm thước đo cái biết. Càng gom nhiều việc rời rạc thì cái nhìn càng vụn.
Ba chữ bất kiến nhi danh ở câu kết là chỗ chú giải chia ngả: bản thông hành chép danh 名, gọi tên, còn nhiều nhà đời sau đọc thành minh 明, sáng tỏ, vì đối với chữ tri ở vế trên thì chữ minh thuận hơn. Trang này giữ bản thông hành, nhưng quý vị nên biết câu này chưa có một lời cuối cùng.
肆Chương 48: Vong Tri
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 為學日益, | Vi học nhật ích, | Làm việc học thì mỗi ngày một thêm vào, |
| 2 | 為道日損。 | vi đạo nhật tổn. | làm việc đạo thì mỗi ngày một bớt đi. |
| 3 | 損之又損, | Tổn chi hựu tổn, | Bớt rồi lại bớt, |
| 4 | 以至於無為。 | dĩ chí ư vô vi. | cho tới chỗ không làm. |
| 5 | 無為而無不為。 | Vô vi nhi vô bất vi. | Không làm mà không việc gì không xong. |
| 6 | 取天下常以無事, | Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự, | Nắm giữ thiên hạ thì thường dùng lối không bày việc, |
| 7 | 及其有事, | cập kỳ hữu sự, | đến khi đã bày việc ra, |
| 8 | 不足以取天下。 | bất túc dĩ thủ thiên hạ. | thì không đủ sức nắm giữ thiên hạ nữa. |
Sáu chữ này bị rút gọn nhiều nhất, và bản rút gọn thường thấy là: Lão Tử chê việc học. Nguyên văn không nói thế. Ích 益 là thêm vào, tổn 損 là bớt đi; hai chữ đối nhau về chiều, không đối nhau về tốt xấu. Trong câu không có chữ nào mang sắc thái chê, không chữ hại, chữ vọng hay chữ ngụy, những chữ sách vẫn dùng khi muốn chê; hai vế đứng ngang nhau, cùng khuôn ba chữ.
Điều câu này nói là chỗ khác nhau giữa hai việc về phép làm. Học là tích lũy, ai học mà mỗi ngày một biết ít đi thì đó là học hỏng; tu đạo là dọn bớt, ai tu mà mỗi ngày một chất thêm vào thì đó là tu hỏng. Lẫn phép của việc này sang việc kia thì hỏng cả hai.
Vương Bật chú vế trên là cốt cho cái mình làm được tiến lên, vế dưới là cốt quay về chỗ trống: lời chú tả hai hướng, không xếp hạng. Chỗ sách thật sự nói nặng về việc học là câu tuyệt học vô ưu, cuối chương 19 hay đầu chương 20 tùy bản, mà ở đó chữ học chỉ cái học lễ nghi phiền toái và tài biện luận đương thời.
Hựu 又 là lại, lần nữa, làm cho việc bớt thành việc lặp lại không có hạn kỳ. Điểm tới không phải chỗ trống rỗng mà là vô vi 無為: không phải ngồi yên không làm gì, mà là không còn cái làm do ý riêng thêm vào. Vương Bật đọc chữ tổn là bỏ cái làm có mục đích riêng; giới nội đan đời Đường Tống đọc thành phép công phu giảm dần số niệm, lối ấy nguyên văn không chống mà cũng không đòi.
Đây là chỗ văn bản có khác biệt đáng kể. Bản thông hành chép vô vi nhi vô bất vi, thẻ tre Quách Điếm ở đoạn tương ứng cũng chép ý ấy, dùng chữ vong 亡 thay chữ vô 無. Nhưng ở chương 38, cả bản thông hành lẫn bản bạch thư Mã Vương Đôi đều chép vô vi nhi vô dĩ vi 無為而無以為, và một số nhà nghiên cứu cho rằng lối nói gốc của sách là vô dĩ vi, còn vô bất vi là do đời sau chỉnh cho câu mạnh lên.
Vô bất vi không phải lời hứa quyền năng: bỏ hết phần ý riêng thì cái làm còn lại thuận theo lẽ vật, mà thuận lẽ vật thì không gặp sức cản.
Vô sự 無事 là không bày việc ra, đối lại hữu sự 有事 là sinh sự, dựng ra chính lệnh, huy động lao dịch. Đoạn kết kéo phép tổn từ chuyện trong lòng một người ra chuyện ngoài đời, và nói bằng giọng dứt khoát: đã bày việc ra thì không đủ sức nữa, chứ không phải khó hơn.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 糞 | phẩn | Bón ruộng, dùng như động từ, không phải chất bẩn |
| 咎 | cữu | Lỗi và tai vạ do chính mình chuốc lấy |
| 闚 | khuy | Nhòm qua khe hở. Nhiều bản viết thành 窺 |
| 彌 | di | Càng, thêm lên. Khác chữ di 夷 ở chương 53 |
| 益 | ích | Thêm vào, tăng lên |
| 損 | tổn | Bớt đi, giảm xuống, không mang nghĩa hư hại |
伍Chương 49: Nhiệm Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 聖人無常心, | Thánh nhân vô thường tâm, | Bậc thánh nhân không có cái lòng cố định của riêng mình, |
| 2 | 以百姓心為心。 | dĩ bách tính tâm vi tâm. | lấy lòng trăm họ làm lòng mình. |
| 3 | 善者吾善之,不善者吾亦善之, | Thiện giả ngô thiện chi, bất thiện giả ngô diệc thiện chi, | Người lành ta xử lành với họ, người không lành ta cũng xử lành với họ, |
| 4 | 德善。 | đức thiện. | như thế cái lành mới trọn. |
| 5 | 信者吾信之,不信者吾亦信之, | Tín giả ngô tín chi, bất tín giả ngô diệc tín chi, | Người đáng tin ta tin họ, người không đáng tin ta cũng tin họ, |
| 6 | 德信。 | đức tín. | như thế cái tin mới trọn. |
| 7 | 聖人在天下,歙歙為天下渾其心。 | Thánh nhân tại thiên hạ, hấp hấp vi thiên hạ hồn kỳ tâm. | Bậc thánh nhân ở giữa thiên hạ thì thu mình lại, vì thiên hạ mà để lòng mình lẫn vào không phân biệt. |
| 8 | 百姓皆注其耳目, | Bách tính giai chú kỳ nhĩ mục, | Trăm họ đều dồn tai mắt vào người ấy, |
| 9 | 聖人皆孩之。 | thánh nhân giai hài chi. | bậc thánh nhân thì đãi tất cả như đãi trẻ nhỏ. |
Bản thông hành chép vô thường tâm 無常心, cả hai bản bạch thư Mã Vương Đôi chép hằng vô tâm 恆無心. Chữ hằng 恆 bị kiêng húy đời Hán vì trùng tên Hán Văn Đế là Lưu Hằng nên nhiều chỗ trong sách bị đổi thành chữ thường 常, và ở câu này, đổi chữ xong thì vị trí hai chữ cũng xê dịch.
Đọc lối nào thì vế sau cũng lấp ngay chỗ trống ấy bằng lòng trăm họ: câu này không tả một người không có ý gì cả, nó tả một người đã dời chỗ đặt ý.
Hai chữ đức thiện 德善 là chỗ chú giải chia ngả. Đọc chữ đức 德 theo mặt chữ thì nghĩa là như vậy mới là cái đức lành; nhiều nhà đọc nó thông với chữ đắc 得, được, nên nghĩa là làm như vậy mới thu được cái lành về. Bản dịch của trang này nghiêng về lối thứ hai, và đây là chỗ chưa ngã ngũ, xin để quý vị cân nhắc.
Câu này hay bị đọc thành lời kêu gọi xóa bỏ phân biệt thiện ác, nhưng nguyên văn vẫn gọi rành mạch thiện giả và bất thiện giả. Điều nó bỏ đi là việc lấy phân biệt ấy làm điều kiện để đối xử: chỉ xử lành với người lành thì cái lành của mình là món trao đổi, tùy người kia. Chữ hài 孩 ở câu cuối có hai lối hiểu, đãi trăm họ như đãi trẻ nhỏ hoặc đưa họ về chỗ chất phác như trẻ nhỏ.
陸Chương 50: Quý Sinh
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 出生入死。 | Xuất sinh nhập tử. | Ra là sống, vào là chết. |
| 2 | 生之徒十有三, | Sinh chi đồ thập hữu tam, | Loại thuộc về đường sống có ba phần mười, |
| 3 | 死之徒十有三, | tử chi đồ thập hữu tam, | loại thuộc về đường chết có ba phần mười, |
| 4 | 人之生,動之於死地,亦十有三。 | nhân chi sinh, động chi ư tử địa, diệc thập hữu tam. | người đang sống mà tự cựa quậy đưa mình vào đất chết cũng ba phần mười. |
| 5 | 夫何故?以其生生之厚。 | Phù hà cố? Dĩ kỳ sinh sinh chi hậu. | Vì cớ gì? Vì họ nuôi cái sống dày quá. |
| 6 | 蓋聞善攝生者, | Cái văn thiện nhiếp sinh giả, | Từng nghe nói người khéo giữ gìn sự sống, |
| 7 | 陸行不遇兕虎, | lục hành bất ngộ tự hổ, | đi trên cạn không gặp tê giác và hổ, |
| 8 | 入軍不被甲兵。 | nhập quân bất bị giáp binh. | vào giữa quân trận không bị giáp binh đụng tới. |
| 9 | 兕無所投其角, | Tự vô sở đầu kỳ giác, | Tê giác không có chỗ để húc sừng, |
| 10 | 虎無所措其爪, | hổ vô sở thố kỳ trảo, | hổ không có chỗ để đặt vuốt, |
| 11 | 兵無所容其刃。 | binh vô sở dung kỳ nhận. | binh khí không có chỗ để đưa lưỡi vào. |
| 12 | 夫何故?以其無死地。 | Phù hà cố? Dĩ kỳ vô tử địa. | Vì cớ gì? Vì nơi người ấy không có đất chết. |
Bốn chữ mở đầu xuất sinh nhập tử có hai lối đọc: ra khỏi chỗ kia là sinh, trở vào là tử, tức tóm cả một đời người; hoặc, như Vương Bật nghiêng theo, ra chỗ sống vào chỗ chết, tức nói về chỗ người ta tự đưa mình vào.
Ba chữ thập hữu tam thì tranh luận suốt hai nghìn năm. Lối thứ nhất, ba phần mười: Vương Bật đọc là mười phần có ba phần, nên chương đếm ba phần mười thuộc đường sống, ba phần mười thuộc đường chết, ba phần mười nữa đang sống yên mà tự cựa quậy vào chỗ chết; cộng lại chín phần, dư một phần, và đúng một phần ấy là người khéo giữ gìn sự sống nói ở nửa sau chương. Lối thứ hai, đúng số mười ba: Hàn Phi Tử, trong thiên Giải Lão, bản chú giải xưa nhất còn lại, kể ra bốn chân tay cùng chín lỗ trên người, gọi là tứ chi cửu khiếu. Trang này theo lối thứ nhất.
Chữ sinh 生 trong sinh sinh chi hậu lặp hai lần, chữ trước là động từ nuôi, chữ sau là danh từ cái sống. Đây là chỗ lập luận quay ngoắt: có hạng người đang sống yên mà tự đi vào đất chết, chỉ vì chăm cái sống quá kỹ.
Nửa sau chương ba lần dùng chữ vô sở 無所, không có chỗ: sừng, vuốt và lưỡi dao không thiếu, cái thiếu là chỗ để chúng bấu vào. Đời sau giới phương thuật đọc chương này thành bằng chứng cho thuật trường sinh, nhưng nguyên văn chỉ nói tới chỗ đứng.
柒Chương 51: Dưỡng Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 道生之,德畜之, | Đạo sinh chi, đức súc chi, | Đạo sinh ra nó, đức nuôi nấng nó, |
| 2 | 物形之,勢成之。 | vật hình chi, thế thành chi. | chất liệu cho nó hình hài, thế cuộc làm nó nên. |
| 3 | 是以萬物莫不尊道而貴德。 | Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn đạo nhi quý đức. | Cho nên muôn vật không gì không tôn Đạo mà quý đức. |
| 4 | 道之尊,德之貴, | Đạo chi tôn, đức chi quý, | Đạo được tôn, đức được quý, |
| 5 | 夫莫之命而常自然。 | phù mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên. | không do ai ra lệnh phong cho, mà vốn tự nhiên vẫn thế. |
| 6 | 故道生之,德畜之; | Cố đạo sinh chi, đức súc chi; | Cho nên Đạo sinh ra nó, đức nuôi nấng nó; |
| 7 | 長之育之, | trưởng chi dục chi, | làm cho nó lớn, nuôi cho nó nên, |
| 8 | 亭之毒之, | đình chi độc chi, | dựng cho nó vững, làm cho nó chín, |
| 9 | 養之覆之。 | dưỡng chi phúc chi. | nuôi dưỡng nó, che chở nó. |
| 10 | 生而不有,為而不恃, | Sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, | Sinh mà không chiếm làm của mình, làm mà không cậy công, |
| 11 | 長而不宰,是謂玄德。 | trưởng nhi bất tể, thị vị huyền đức. | làm cho lớn lên mà không cai quản, đó gọi là đức nhiệm màu. |
Bốn vế kê ra bốn thứ đã làm nên một vật, và đây là một trong rất ít chỗ sách tự nói chữ đức nghĩa là gì. Chữ đức 德 ở đây không phải đạo đức theo nghĩa luân lý, không phải nết tốt, mà là phần riêng mà mỗi vật nhận được từ Đạo. Vật 物 là chất liệu, thế 勢 là hoàn cảnh vây quanh nó lúc thành hình.
Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép vế thứ tư là khí thành chi 器成之, đồ vật làm nó nên, thay cho thế thành chi 勢成之; hai chữ lệch nghĩa khá xa.
Chữ mệnh 命 ở đây là động từ, nghĩa là ra lệnh, phong tặng một danh vị. Câu này đáp câu hỏi mà vế trên vừa làm nảy ra: muôn vật tôn Đạo quý đức, vậy ai bắt chúng phải tôn quý? Không ai cả. Thứ cao quý mà người đời biết đều là thứ được phong, mà phong được thì tước lại được; cái cao quý nói ở đây không nằm trong tay ai.
Sáu động từ xếp liền tả một việc nuôi làm tới cùng chứ không bỏ dở. Hai chữ đình 亭 và độc 毒 là chỗ các nhà hiểu khác nhau: Hà Thượng Công đọc đình là thành 成 và độc là thục 熟, nên có bản chép thẳng thành 成之熟之; Vương Bật đọc đình là làm cho đứng vững, độc là làm cho yên ổn; lại có nhà đọc độc theo nghĩa đốc 篤. Ba lối đều tránh nghĩa độc hại.
Ba vế cuối chương, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể, cùng bốn chữ thị vị huyền đức, lặp đúng nguyên văn câu kết chương 10. Bốn mươi mốt chương cách nhau mà một câu trở về không sai một chữ. Đây không phải chỗ chép thừa; điều đã đổi là chỗ đứng của câu ấy.
Ở chương 10, câu này khép lại chuỗi sáu câu hỏi về việc tu thân, chủ ngữ ngầm là con người, nên huyền đức ở đó là một lối cư xử phải đạt tới. Ở chương 51, nó khép lại đoạn nói về quan hệ giữa Đạo với vạn vật, chủ ngữ ngầm là Đạo và đức, nên huyền đức ở đây là cách Đạo đối với cái nó sinh ra.
Đặt hai chương cạnh nhau thì chuỗi lập luận chạy ngược chiều với thứ tự chương: chương 51 đặt cái gốc, chương 10 đặt cái theo, người tu thân hãy cư xử với cái mình sinh ra và nuôi ra đúng như cách Đạo cư xử với muôn vật. Chương 10 là chương 51 đem áp vào một người, và vì cùng một mẫu mực nên câu ấy phải lặp nguyên văn.
Chữ huyền 玄 đã gặp từ chương 1 trong cụm huyền chi hựu huyền, nghĩa là sâu kín tối thẳm, không phải huyền bí theo nghĩa phép lạ. Huyền đức vì thế là thứ đức không phô ra, không ghi công. Cả sách dùng chữ ấy ba lần: chương 10, 51 và 65, nơi nghĩa lệch sang việc trị dân.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 歙歙 | hấp hấp | Thu vào, khép lại, không phô ý riêng |
| 孩 | hài | Động từ: đãi như đãi trẻ nhỏ |
| 兕 | tự | Con tê giác. Chữ ít gặp, dễ đọc chệch thành hủy |
| 措 | thố | Đặt, để vào. Không đọc là thác |
| 畜 | súc | Nuôi nấng. Đọc húc thì nghĩa là tích chứa |
| 亭毒 | đình độc | Dựng cho vững và làm cho chín, không phải độc hại |
捌Chương 52: Quy Nguyên
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 天下有始,以為天下母。 | Thiên hạ hữu thủy, dĩ vi thiên hạ mẫu. | Thiên hạ có chỗ khởi đầu, lấy đó làm mẹ của thiên hạ. |
| 2 | 既得其母,以知其子; | Ký đắc kỳ mẫu, dĩ tri kỳ tử; | Đã nắm được mẹ thì biết được con; |
| 3 | 既知其子,復守其母, | ký tri kỳ tử, phục thủ kỳ mẫu, | đã biết được con thì quay lại giữ lấy mẹ, |
| 4 | 沒身不殆。 | một thân bất đãi. | trọn đời không nguy. |
| 5 | 塞其兌,閉其門, | Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn, | Bít những lỗ hổng, đóng những cửa ngõ, |
| 6 | 終身不勤。 | chung thân bất cần. | suốt đời không nhọc. |
| 7 | 開其兌,濟其事, | Khai kỳ đoài, tế kỳ sự, | Mở những lỗ hổng ra, chạy theo cho xong việc, |
| 8 | 終身不救。 | chung thân bất cứu. | suốt đời không cứu được. |
| 9 | 見小曰明,守柔曰強。 | Kiến tiểu viết minh, thủ nhu viết cường. | Thấy được cái còn nhỏ gọi là sáng, giữ được cái mềm gọi là mạnh. |
| 10 | 用其光,復歸其明, | Dụng kỳ quang, phục quy kỳ minh, | Dùng cái ánh sáng tỏa ra rồi trở về cái sáng ở trong, |
| 11 | 無遺身殃, | vô di thân ương, | không để lại tai vạ cho thân, |
| 12 | 是為習常。 | thị vi tập thường. | đó gọi là noi theo lẽ thường hằng. |
Chữ thủy 始 là chỗ khởi đầu, chữ mẫu 母 là mẹ, hai chữ đã đứng cạnh nhau từ chương 1 và trở lại ở chương 25. Phép ở đây đi hai chiều: nắm được mẹ thì biết được con, tức hiểu cái gốc thì suy ra muôn vàn cái ngọn; rồi biết được con thì quay lại giữ mẹ, vì người đi từ gốc ra ngọn rất dễ ở lại luôn với ngọn.
Chữ đoài 兌 dễ gây lẫn. Trong Kinh Dịch, 兌 là tên một quẻ trong tám quẻ đơn, tượng là cái đầm; nhưng ở chương này các nhà chú giải đều không đọc theo nghĩa quẻ, họ đọc 兌 là lỗ hổng, chỗ thông ra ngoài, tức tai mắt mũi miệng. Vương Bật chú: đoài là chỗ mà sự và dục từ đó sinh ra, môn là chỗ mà sự và dục từ đó mà đi.
Cần nói cho phân minh: câu này không bảo bịt tai bịt mắt mà sống. Chương 56 lặp lại đúng hai câu ấy rồi tiếp ngay bằng hòa kỳ quang, đồng kỳ trần, tức vẫn ở giữa đời. Chỗ phải bít là chỗ lòng theo giác quan chạy ra ngoài rồi không về.
Hai câu kiến tiểu viết minh, thủ nhu viết cường định nghĩa lại hai chữ người đời tưởng đã hiểu: sáng là thấy được cái còn nhỏ, mạnh là giữ được cái mềm. Câu cuối có chỗ bản cổ chép khác: bản thông hành chép 習常, tập cho quen lẽ thường, bản bạch thư chép 襲常, nối lấy lẽ thường mà giữ.
玖Chương 53: Ích Chứng
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 使我介然有知, | Sử ngã giới nhiên hữu tri, | Giả như ta có được chút biết vững vàng, |
| 2 | 行於大道,唯施是畏。 | hành ư đại đạo, duy dị thị úy. | mà đi trên đường lớn, thì chỉ sợ mỗi chuyện rẽ lệch sang lối khác. |
| 3 | 大道甚夷,而民好徑。 | Đại đạo thậm di, nhi dân hiếu kính. | Đường lớn rất bằng phẳng, mà người ta lại thích đường tắt. |
| 4 | 朝甚除, | Triều thậm trừ, | Sân triều quét dọn sạch bong, |
| 5 | 田甚蕪, | điền thậm vu, | ruộng đồng thì cỏ mọc rậm, |
| 6 | 倉甚虛; | thương thậm hư; | kho lẫm thì trống rỗng; |
| 7 | 服文綵,帶利劍, | phục văn thải, đới lợi kiếm, | mặc áo gấm hoa, đeo gươm sắc, |
| 8 | 厭飲食,財貨有餘, | yếm ẩm thực, tài hóa hữu dư, | ăn uống chán chê, của cải thừa mứa, |
| 9 | 是謂盜夸。 | thị vị đạo khoa. | thế gọi là đầu sỏ của bọn trộm. |
| 10 | 非道也哉! | Phi đạo dã tai! | Đó không phải là đạo! |
Câu mở đầu có hai chỗ khó, cả hai đều là chỗ chú giải chia ngả. Thứ nhất là giới nhiên 介然: Hà Thượng Công đọc chữ giới 介 theo nghĩa lớn; một số nhà đọc theo nghĩa mảy may, chút ít; lại có lối đọc là dáng đứng vững chắc, kiên định. Bản dịch của trang này nghiêng về lối thứ ba, nhưng quý vị nên biết cả ba.
Thứ hai là chữ 施. Vương Bật chú chữ ấy là tà 邪, đi lệch, nên nhiều nhà đọc nó thông với chữ 迤 và phiên âm là dị, đi vòng vẹo rẽ ngang; một số nhà khác giữ âm thi theo nghĩa ban phát. Trang này theo Vương Bật, vì câu ngay sau nói tới đường tắt.
Chữ di 夷 trong đại đạo thậm di nghĩa là bằng phẳng, khác nghĩa cùng mặt chữ ấy ở chương 14. Hai vế đối nhau làm thành hình ảnh gốc cho toàn chương: đường lớn không hề khó đi, vậy mà người ta vẫn bỏ nó để chui vào lối tắt, chỉ vì lối tắt hứa hẹn tới nhanh hơn. Bảy vế giữa chương là một bản kê khai không có lấy một lời bình: sân triều bóng loáng đối lại ruộng hoang kho trống, rồi áo gấm, gươm sắc, ăn chán chê, của thừa.
Hai chữ kết đạo khoa 盜夸 là chỗ bản cổ chép khác. Bản thông hành chép chữ khoa 夸, khoe khoang, nên đạo khoa là kẻ trộm mà còn khoe của trộm được; Hàn Phi Tử trong thiên Giải Lão chép là đạo vu 盜竽, mà vu 竽 là cây sênh, nhạc khí đứng đầu dàn nhạc, nên đạo vu là kẻ cầm đầu đám trộm. Kẻ bị gọi thẳng là trộm là người mặc áo gấm đeo gươm sắc.
拾Chương 54: Tu Quán
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 善建者不拔, | Thiện kiến giả bất bạt, | Người khéo dựng thì cái dựng lên không bị nhổ đi, |
| 2 | 善抱者不脫, | thiện bão giả bất thoát, | người khéo ôm giữ thì cái giữ không tuột mất, |
| 3 | 子孫以祭祀不輟。 | tử tôn dĩ tế tự bất chuyết. | con cháu nhờ đó mà hương khói không dứt. |
| 4 | 修之於身,其德乃真; | Tu chi ư thân, kỳ đức nãi chân; | Sửa mình nơi tấm thân thì cái đức ấy mới thật; |
| 5 | 修之於家,其德乃餘; | tu chi ư gia, kỳ đức nãi dư; | sửa nơi nhà thì cái đức ấy có dư ra; |
| 6 | 修之於鄉,其德乃長; | tu chi ư hương, kỳ đức nãi trường; | sửa nơi làng thì cái đức ấy dài lâu; |
| 7 | 修之於國,其德乃豐; | tu chi ư quốc, kỳ đức nãi phong; | sửa nơi nước thì cái đức ấy dày dặn; |
| 8 | 修之於天下,其德乃普。 | tu chi ư thiên hạ, kỳ đức nãi phổ. | sửa nơi thiên hạ thì cái đức ấy trùm khắp. |
| 9 | 故以身觀身,以家觀家, | Cố dĩ thân quán thân, dĩ gia quán gia, | Cho nên lấy thân mà xem thân, lấy nhà mà xem nhà, |
| 10 | 以鄉觀鄉,以國觀國, | dĩ hương quán hương, dĩ quốc quán quốc, | lấy làng mà xem làng, lấy nước mà xem nước, |
| 11 | 以天下觀天下。 | dĩ thiên hạ quán thiên hạ. | lấy thiên hạ mà xem thiên hạ. |
| 12 | 吾何以知天下然哉?以此。 | Ngô hà dĩ tri thiên hạ nhiên tai? Dĩ thử. | Ta lấy gì mà biết thiên hạ là như thế? Chính bằng cách ấy. |
Kiến 建 là dựng đứng lên, bạt 拔 là nhổ lên, bão 抱 là ôm vào lòng, thoát 脫 là tuột ra. Hai vế định nghĩa chữ thiện 善, khéo, bằng kết quả về sau chứ không bằng công sức bỏ ra lúc làm: cây cột chôn sâu vẫn có thể bị nhổ, cái dựng khéo là cái không dựa vào sức chôn; vật ôm chặt vẫn có thể tuột, cái giữ khéo là cái không cần siết.
Năm vế lan từ nhỏ tới lớn, và chữ đi với mỗi bậc không lặp lại: chân 真 thật, dư 餘 có thừa ra, trường 長 dài lâu, phong 豐 dày dặn, phổ 普 trùm khắp. Vì thế đây không phải năm mức độ cao thấp của cùng một thứ đức, mà là năm phạm vi, mỗi phạm vi lộ ra một tính chất khác: ở tấm thân thì thước đo là chữ thật vì chỉ có mình với mình, ở làng thì đo bằng chỗ bền.
Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép bậc thứ tư là tu chi bang 修之邦, bản thông hành chép tu chi ư quốc 修之於國, vì chữ bang 邦 bị kiêng húy do trùng tên Hán Cao Tổ là Lưu Bang; đó là bằng chứng chắc cho biết bản thông hành đã qua tay người chép đời Hán.
Chuỗi dĩ thân quán thân ở cuối có hai lối hiểu: lấy chính thân mình mà xét thân người, suy từ cái gần ra cái xa; hoặc xét thân bằng thước của thân, xét nước bằng thước của nước. Hai chữ dĩ thử khép lại chín chương bằng một lời rất chắc: cái biết về việc lớn đến từ chỗ làm đúng ở bậc gần nhất.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 兌 | đoài | Lỗ hổng, chỗ thông ra ngoài. Cùng chữ tên quẻ Đoài |
| 勤 | cần | Nhọc nhằn, vất vả, không phải siêng năng |
| 施 | dị | Đi lệch, thông với chữ 迤. Đọc thi thì là ban phát |
| 夷 | di | Bằng phẳng. Khác nghĩa chữ 夷 ở chương 14 |
| 厭 | yếm | Ăn no tới chán, thông với 饜, không phải chán ghét |
| 輟 | chuyết | Ngừng, dứt giữa chừng |
拾壹Ý Chỉ Chung Của Chín Chương
- Chương 46Cái đủ của người biết đủCó đạo thì ngựa tốt về bón ruộng, không đạo thì ngựa chiến đẻ ngoài đồng.
- Chương 47Không ra khỏi cửa mà biếtCái biết thật là biết lẽ chung, không phải gom tin tức.
- Chương 48Học thì thêm, tu thì bớtHai việc khác nhau về phép làm chứ không về giá trị.
- Chương 49Lấy lòng trăm họ làm lòng mìnhKhông giữ lòng riêng, không lấy phân biệt hay dở làm điều kiện để đối xử.
- Chương 50Vì sao người ta đi vào đất chếtBa phần mười tự cựa quậy vào chỗ chết, chỉ vì nuôi cái sống dày quá.
- Chương 51Đạo sinh, đức nuôiBốn thứ làm nên một vật. Nuôi tới cùng rồi buông, đó gọi là huyền đức.
- Chương 52Giữ mẹ mà biết conNắm gốc thì suy ra ngọn, biết ngọn rồi phải quay lại giữ gốc.
- Chương 53Đường lớn bằng mà người thích lối tắtRuộng hoang kho trống, còn người thì áo gấm gươm sắc. Thế gọi là đầu sỏ của bọn trộm.
- Chương 54Sửa mình lan từ thân ra thiên hạNăm bậc thân, nhà, làng, nước, thiên hạ, mỗi bậc một thước đo riêng.
Trục chung của chín chương: cái thiếu không chữa được bằng cách thêm vào. Không biết đủ thì thêm bao nhiêu cũng thiếu, đi thêm bao nhiêu đường cũng không thành cái biết, nên có một loại việc chỉ làm được bằng phép ngược lại.
Ba chương cuối biến điều ấy thành ba phép giữ, cả ba đều nói về hướng: giữ mẹ thì phải quay lại, đi đường lớn thì phải không rẽ, việc sửa mình thì phải bắt đầu từ bậc gần nhất. Chín chương này là chín cách nói về cùng một điều: chỗ đứng quyết định hơn là sức làm.
拾貳Năm Chỗ Dễ Hiểu Lầm
Không. Hai vế đối nhau về chiều chứ không về tốt xấu, và không có chữ nào mang sắc thái chê. Học là tích lũy còn tu là dọn bớt, lẫn phép này sang việc kia thì hỏng cả hai.
Không. Cái được nói tới là biết lẽ chung chứ không phải tin tức từng việc; vế dưới nói rõ cái thấy được là đạo trời.
Chưa chắc. Vương Bật đọc là ba phần mười, còn dư một phần dành cho người khéo giữ sự sống; Hàn Phi Tử đọc đúng là mười ba, kể ra bốn chân tay và chín lỗ trên người.
Không. Vế sau lấp ngay chỗ trống ấy bằng lòng trăm họ: không phải người không có ý gì, mà là người đã dời chỗ đặt ý.
Không. Chương 56 lặp lại đúng hai câu ấy rồi tiếp ngay bằng hòa ánh sáng của mình vào, lẫn cùng bụi bặm, tức vẫn ở giữa đời.
問Hỏi Đáp Nhanh
Vi học nhật ích vi đạo nhật tổn nghĩa là gì
Đó là câu mở đầu chương 48, nghĩa là làm việc học thì mỗi ngày một thêm vào, làm việc đạo thì mỗi ngày một bớt đi. Câu này thường bị rút gọn thành lời chê việc học, nhưng hai vế đối nhau về chiều chứ không về tốt xấu, và không có chữ nào mang sắc thái chê. Điều nó nói là hai việc dùng hai phép ngược nhau: học là tích lũy, tu đạo là dọn bớt.
Huyền đức trong chương 51 có liên quan gì tới chương 10
Ba vế sinh mà không chiếm, làm mà không cậy công, cho lớn mà không cai quản, cùng bốn chữ thị vị huyền đức, lặp đúng nguyên văn câu kết chương 10. Chỗ đã đổi là vị trí của câu ấy: ở chương 10 nó khép lại chuỗi câu hỏi về tu thân nên huyền đức là lối cư xử người tu nhắm tới, còn ở chương 51 nó khép lại đoạn nói về Đạo với vạn vật nên huyền đức là cách Đạo đối với cái nó sinh ra.
Họa mạc đại ư bất tri túc nghĩa là gì
Là câu ở chương 46, nghĩa là họa không gì lớn hơn chuyện không biết đủ, lỗi không gì lớn hơn chuyện muốn được thêm. Đặt liền sau hai câu về con ngựa, mạch của chương là: sự loạn không nổ ra vì thiếu mà vì không biết đủ.
Bất xuất hộ tri thiên hạ có phải bảo đừng đi đâu không
Không. Chương 47 không bác việc đi và xem, nó bác việc lấy số lượng kiến văn làm thước đo cái biết. Cái được nói tới là biết lẽ chung, vì vế dưới nói rõ cái thấy được là đạo trời.
Xuất sinh nhập tử và thập hữu tam ở chương 50 nghĩa là gì
Bốn chữ đầu có hai lối đọc: ra khỏi chỗ kia là sinh, trở vào là tử; hoặc ra chỗ sống, vào chỗ chết, tức nói về chỗ người ta tự đưa mình vào. Ba chữ thập hữu tam thì Vương Bật đọc là ba phần mười, còn Hàn Phi Tử đọc đúng là mười ba, kể ra bốn chân tay và chín lỗ trên người.