VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đạo Đức Kinh Chương 46 Tới 54: Nguyên Văn, Phiên Âm, Dịch Nghĩa Và Giải Nghĩa Từng Câu

道德經 · Lão Tử, Ngũ Thiên Ngôn

Chín chương này bàn chỗ đặt mình: biết đủ thì không thiếu, học thì thêm vào mà tu thì bớt đi, và đạo sinh ra muôn vật rồi buông cho chúng tự lớn.

Thuộc đạo
Đạo Giáo
Niên đại
Định hình quãng thế kỷ 4 tới 3 trước Công nguyên
Bản xưa nhất là thẻ tre Quách Điếm, khai quật năm 1993
Độ dài
81 chương, khoảng 5.000 chữ
Trang này gồm 9 chương giữa phần Đức Kinh
Thường tụng khi
Đọc để hiểu, không thuộc loại kinh tụng theo nghi lễ

IMạch Của Chín Chương Này

Chín chương trước bắc qua chỗ nối giữa hai phần của sách: chương 37 khép lại Đạo Kinh, chương 38 mở ra Đức Kinh bằng câu bậc đức cao thì không ra vẻ có đức. Đó vẫn là phần bàn về lẽ chung.

Chín chương từ 46 tới 54 chuyển sang bàn về chỗ đặt mình: đặt ở chỗ biết đủ, ở chỗ không phải chạy đi tìm mới biết, ở phép bớt dần chứ không phải phép thêm vào, ở chỗ không giữ lòng riêng, ở chỗ không có đất chết. Chương 51 đưa ra căn cứ cho tất cả: Đạo sinh, đức nuôi, nuôi xong thì buông.

Đọc rời thì mỗi chương bị rút gọn một kiểu: vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn thành lời chê việc học, bất xuất hộ tri thiên hạ thành lời khoe phép thần thông, chương 50 thành bằng chứng cho thuật trường sinh.

Đọc liền mạch thì thấy một chuỗi lập luận chặt. Cái thiếu không nằm ở chỗ có ít mà ở chỗ không biết đủ; cái biết thật cũng không nằm ở số lượng đi và xem. Từ hai chỗ ấy mới ra được câu chương 48: có việc làm bằng cách thêm vào, có việc chỉ làm được bằng cách bớt đi. Bớt tới cùng thì còn lại đúng cách Đạo đối với vạn vật. Bốn chữ huyền đức ở cuối chương 51 lặp nguyên văn chương 10, và đó là chỗ hai đầu của sách chạm vào nhau.

IIChương 46: Kiệm Dục

Chương 46, phần Đức Kinh. Chương của câu họa mạc đại ư bất tri túc.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1天下有道,卻走馬以糞。Thiên hạ hữu đạo, khước tẩu mã dĩ phẩn.Thiên hạ có đạo thì ngựa chạy nhanh được trả về bón ruộng.When the world has the Tao, the swift horses are sent back to manure the fields.
2天下無道,戎馬生於郊。Thiên hạ vô đạo, nhung mã sinh ư giao.Thiên hạ không có đạo thì ngựa chiến đẻ con ngoài đồng xa.When the world is without the Tao, war horses foal in the far fields.
3禍莫大於不知足;Họa mạc đại ư bất tri túc;Họa không gì lớn hơn chuyện không biết đủ;No misfortune is greater than not knowing contentment,
4咎莫大於欲得。cữu mạc đại ư dục đắc.lỗi không gì lớn hơn chuyện muốn được thêm.no fault is greater than wanting to get more.
5故知足之足,Cố tri túc chi túc,Cho nên cái đủ của người biết đủ,Therefore the contentment of one who knows contentment
6常足矣。thường túc hĩ.mới là cái đủ lâu bền.is the contentment that lasts.
卻走馬以糞
Khước tẩu mã dĩ phẩn

Tẩu mã 走馬 là ngựa chạy nhanh, khước 卻 là trả về, phẩn 糞 ở đây là động từ nghĩa bón ruộng chứ không phải danh từ chỉ chất bẩn. Câu sau đối lại: nhung mã 戎馬 là ngựa việc binh, giao 郊 là đồng ngoài thành, ngựa cái theo quân lâu ngày không về được nên đến kỳ thì đẻ ngay ngoài đồng. Sách chỉ chỉ vào chỗ con ngựa đang đứng, không kể một lời thiệt hại.

禍莫大於不知足
Họa mạc đại ư bất tri túc

Chữ cữu 咎 là lỗi và tai vạ do chính mình chuốc lấy, đã gặp ở chương 9. Vế trên nói cái trạng thái, vế dưới nói cái động tác sinh ra từ đó: sự loạn không nổ ra vì thiếu mà vì không biết đủ. Cái đủ nhờ lấy đủ số thì luôn treo trên một con số, mà con số thì đổi.

Bản Hà Thượng Công và hai bản bạch thư Mã Vương Đôi còn có vế tội mạc đại ư khả dục 罪莫大於可欲 đứng trước, thành ba vế; bản thông hành Vương Bật chỉ có hai vế, và xin ghi ra đây để quý vị biết đoạn này vốn dài hơn.

IIIChương 47: Giám Viễn

Chương 47, phần Đức Kinh. Chương ngắn nhất trong chín chương này và cũng gây hiểu lầm nhiều nhất.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1不出戶,知天下;Bất xuất hộ, tri thiên hạ;Không ra khỏi cửa mà biết việc thiên hạ;Without going out the door, one knows the world,
2不闚牖,見天道。bất khuy dũ, kiến thiên đạo.không nhòm qua cửa sổ mà thấy đạo trời.without peering through the window, one sees the way of heaven.
3其出彌遠,Kỳ xuất di viễn,Càng đi ra xa,The farther one goes out,
4其知彌少。kỳ tri di thiểu.thì cái biết càng ít.the less one knows.
5是以聖人不行而知,Thị dĩ thánh nhân bất hành nhi tri,Cho nên bậc thánh nhân không đi mà biết,Therefore the sage knows without travelling,
6不見而名,bất kiến nhi danh,không nhìn mà gọi được tên,names without looking,
7不為而成。bất vi nhi thành.không làm mà nên.accomplishes without acting.
不出戶,知天下
Bất xuất hộ, tri thiên hạ

Hộ 戶 là cửa một cánh của gian nhà ở, dũ 牖 là cửa sổ, khuy 闚 là nhòm qua khe hở, nhiều bản khắc lại viết thành 窺. Chỗ dễ đọc sai nằm ở chữ tri 知: câu này không nói người ấy biết được tin tức từng việc ngoài kia, vì như vậy là phép thần thông, điều sách chưa từng hứa. Cái được nói tới là biết lẽ chung, và vế dưới nói thẳng: cái thấy được là thiên đạo 天道, đạo trời.

其出彌遠,其知彌少
Kỳ xuất di viễn, kỳ tri di thiểu

Di 彌 là càng, thêm lên. Câu viết nghịch, và chỗ nghịch ấy mới là lập luận: nó không bác việc đi và xem, nó bác việc lấy số lượng kiến văn làm thước đo cái biết. Càng gom nhiều việc rời rạc thì cái nhìn càng vụn.

Ba chữ bất kiến nhi danh ở câu kết là chỗ chú giải chia ngả: bản thông hành chép danh 名, gọi tên, còn nhiều nhà đời sau đọc thành minh 明, sáng tỏ, vì đối với chữ tri ở vế trên thì chữ minh thuận hơn. Trang này giữ bản thông hành, nhưng quý vị nên biết câu này chưa có một lời cuối cùng.

IVChương 48: Vong Tri

Chương 48, phần Đức Kinh. Chương cô đọng nhất của cả sách về chỗ khác nhau giữa việc học và việc tu.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1為學日益,Vi học nhật ích,Làm việc học thì mỗi ngày một thêm vào,In the work of learning, something is added every day,
2為道日損。vi đạo nhật tổn.làm việc đạo thì mỗi ngày một bớt đi.in the work of the Tao, something is taken away every day.
3損之又損,Tổn chi hựu tổn,Bớt rồi lại bớt,Take away, and take away again,
4以至於無為。dĩ chí ư vô vi.cho tới chỗ không làm.until one arrives at non-action.
5無為而無不為。Vô vi nhi vô bất vi.Không làm mà không việc gì không xong.Nothing is done, and nothing is left undone.
6取天下常以無事,Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự,Nắm giữ thiên hạ thì thường dùng lối không bày việc,Holding the world is always done by not stirring up affairs,
7及其有事,cập kỳ hữu sự,đến khi đã bày việc ra,once affairs have been stirred up,
8不足以取天下。bất túc dĩ thủ thiên hạ.thì không đủ sức nắm giữ thiên hạ nữa.one is no longer able to hold the world.
為學日益,為道日損
Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn

Sáu chữ này bị rút gọn nhiều nhất, và bản rút gọn thường thấy là: Lão Tử chê việc học. Nguyên văn không nói thế. Ích 益 là thêm vào, tổn 損 là bớt đi; hai chữ đối nhau về chiều, không đối nhau về tốt xấu. Trong câu không có chữ nào mang sắc thái chê, không chữ hại, chữ vọng hay chữ ngụy, những chữ sách vẫn dùng khi muốn chê; hai vế đứng ngang nhau, cùng khuôn ba chữ.

Điều câu này nói là chỗ khác nhau giữa hai việc về phép làm. Học là tích lũy, ai học mà mỗi ngày một biết ít đi thì đó là học hỏng; tu đạo là dọn bớt, ai tu mà mỗi ngày một chất thêm vào thì đó là tu hỏng. Lẫn phép của việc này sang việc kia thì hỏng cả hai.

Vương Bật chú vế trên là cốt cho cái mình làm được tiến lên, vế dưới là cốt quay về chỗ trống: lời chú tả hai hướng, không xếp hạng. Chỗ sách thật sự nói nặng về việc học là câu tuyệt học vô ưu, cuối chương 19 hay đầu chương 20 tùy bản, mà ở đó chữ học chỉ cái học lễ nghi phiền toái và tài biện luận đương thời.

損之又損
Tổn chi hựu tổn

Hựu 又 là lại, lần nữa, làm cho việc bớt thành việc lặp lại không có hạn kỳ. Điểm tới không phải chỗ trống rỗng mà là vô vi 無為: không phải ngồi yên không làm gì, mà là không còn cái làm do ý riêng thêm vào. Vương Bật đọc chữ tổn là bỏ cái làm có mục đích riêng; giới nội đan đời Đường Tống đọc thành phép công phu giảm dần số niệm, lối ấy nguyên văn không chống mà cũng không đòi.

無為而無不為
Vô vi nhi vô bất vi

Đây là chỗ văn bản có khác biệt đáng kể. Bản thông hành chép vô vi nhi vô bất vi, thẻ tre Quách Điếm ở đoạn tương ứng cũng chép ý ấy, dùng chữ vong 亡 thay chữ vô 無. Nhưng ở chương 38, cả bản thông hành lẫn bản bạch thư Mã Vương Đôi đều chép vô vi nhi vô dĩ vi 無為而無以為, và một số nhà nghiên cứu cho rằng lối nói gốc của sách là vô dĩ vi, còn vô bất vi là do đời sau chỉnh cho câu mạnh lên.

Vô bất vi không phải lời hứa quyền năng: bỏ hết phần ý riêng thì cái làm còn lại thuận theo lẽ vật, mà thuận lẽ vật thì không gặp sức cản.

取天下常以無事
Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự

Vô sự 無事 là không bày việc ra, đối lại hữu sự 有事 là sinh sự, dựng ra chính lệnh, huy động lao dịch. Đoạn kết kéo phép tổn từ chuyện trong lòng một người ra chuyện ngoài đời, và nói bằng giọng dứt khoát: đã bày việc ra thì không đủ sức nữa, chứ không phải khó hơn.

Chữ khó trong chương 46 tới 48.
ChữÂmNghĩa trong câu
糞phẩnBón ruộng, dùng như động từ, không phải chất bẩn
咎cữuLỗi và tai vạ do chính mình chuốc lấy
闚khuyNhòm qua khe hở. Nhiều bản viết thành 窺
彌diCàng, thêm lên. Khác chữ di 夷 ở chương 53
益íchThêm vào, tăng lên
損tổnBớt đi, giảm xuống, không mang nghĩa hư hại

VChương 49: Nhiệm Đức

Chương 49, phần Đức Kinh.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1聖人無常心,Thánh nhân vô thường tâm,Bậc thánh nhân không có cái lòng cố định của riêng mình,The sage has no fixed heart of his own,
2以百姓心為心。dĩ bách tính tâm vi tâm.lấy lòng trăm họ làm lòng mình.he takes the heart of the hundred families as his heart.
3善者吾善之,不善者吾亦善之,Thiện giả ngô thiện chi, bất thiện giả ngô diệc thiện chi,Người lành ta xử lành với họ, người không lành ta cũng xử lành với họ,To the good I am good, to the not good I am also good,
4德善。đức thiện.như thế cái lành mới trọn.and so goodness is attained.
5信者吾信之,不信者吾亦信之,Tín giả ngô tín chi, bất tín giả ngô diệc tín chi,Người đáng tin ta tin họ, người không đáng tin ta cũng tin họ,The trustworthy I trust, the untrustworthy I also trust,
6德信。đức tín.như thế cái tin mới trọn.and so trust is attained.
7聖人在天下,歙歙為天下渾其心。Thánh nhân tại thiên hạ, hấp hấp vi thiên hạ hồn kỳ tâm.Bậc thánh nhân ở giữa thiên hạ thì thu mình lại, vì thiên hạ mà để lòng mình lẫn vào không phân biệt.The sage in the midst of the world draws himself in, and for the sake of the world lets his heart merge without distinction.
8百姓皆注其耳目,Bách tính giai chú kỳ nhĩ mục,Trăm họ đều dồn tai mắt vào người ấy,The hundred families all fix their eyes and ears on him,
9聖人皆孩之。thánh nhân giai hài chi.bậc thánh nhân thì đãi tất cả như đãi trẻ nhỏ.and the sage treats them all as children.
聖人無常心,以百姓心為心
Thánh nhân vô thường tâm, dĩ bách tính tâm vi tâm

Bản thông hành chép vô thường tâm 無常心, cả hai bản bạch thư Mã Vương Đôi chép hằng vô tâm 恆無心. Chữ hằng 恆 bị kiêng húy đời Hán vì trùng tên Hán Văn Đế là Lưu Hằng nên nhiều chỗ trong sách bị đổi thành chữ thường 常, và ở câu này, đổi chữ xong thì vị trí hai chữ cũng xê dịch.

Đọc lối nào thì vế sau cũng lấp ngay chỗ trống ấy bằng lòng trăm họ: câu này không tả một người không có ý gì cả, nó tả một người đã dời chỗ đặt ý.

不善者吾亦善之,德善
Bất thiện giả ngô diệc thiện chi, đức thiện

Hai chữ đức thiện 德善 là chỗ chú giải chia ngả. Đọc chữ đức 德 theo mặt chữ thì nghĩa là như vậy mới là cái đức lành; nhiều nhà đọc nó thông với chữ đắc 得, được, nên nghĩa là làm như vậy mới thu được cái lành về. Bản dịch của trang này nghiêng về lối thứ hai, và đây là chỗ chưa ngã ngũ, xin để quý vị cân nhắc.

Câu này hay bị đọc thành lời kêu gọi xóa bỏ phân biệt thiện ác, nhưng nguyên văn vẫn gọi rành mạch thiện giả và bất thiện giả. Điều nó bỏ đi là việc lấy phân biệt ấy làm điều kiện để đối xử: chỉ xử lành với người lành thì cái lành của mình là món trao đổi, tùy người kia. Chữ hài 孩 ở câu cuối có hai lối hiểu, đãi trăm họ như đãi trẻ nhỏ hoặc đưa họ về chỗ chất phác như trẻ nhỏ.

VIChương 50: Quý Sinh

Chương 50, phần Đức Kinh. Chương có con số gây tranh luận lâu nhất trong cả sách.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1出生入死。Xuất sinh nhập tử.Ra là sống, vào là chết.Going out is life, coming in is death.
2生之徒十有三,Sinh chi đồ thập hữu tam,Loại thuộc về đường sống có ba phần mười,Those who belong to the way of life are three in ten,
3死之徒十有三,tử chi đồ thập hữu tam,loại thuộc về đường chết có ba phần mười,those who belong to the way of death are three in ten,
4人之生,動之於死地,亦十有三。nhân chi sinh, động chi ư tử địa, diệc thập hữu tam.người đang sống mà tự cựa quậy đưa mình vào đất chết cũng ba phần mười.and those who are alive yet by their own stirring move into the ground of death are also three in ten.
5夫何故?以其生生之厚。Phù hà cố? Dĩ kỳ sinh sinh chi hậu.Vì cớ gì? Vì họ nuôi cái sống dày quá.Why is that? Because they feed their life too richly.
6蓋聞善攝生者,Cái văn thiện nhiếp sinh giả,Từng nghe nói người khéo giữ gìn sự sống,It is said that one who is skilled at preserving life,
7陸行不遇兕虎,lục hành bất ngộ tự hổ,đi trên cạn không gặp tê giác và hổ,travelling by land, meets no rhinoceros or tiger,
8入軍不被甲兵。nhập quân bất bị giáp binh.vào giữa quân trận không bị giáp binh đụng tới.and entering the ranks of battle, is not touched by armour or weapon.
9兕無所投其角,Tự vô sở đầu kỳ giác,Tê giác không có chỗ để húc sừng,The rhinoceros finds no place to thrust its horn,
10虎無所措其爪,hổ vô sở thố kỳ trảo,hổ không có chỗ để đặt vuốt,the tiger finds no place to set its claws,
11兵無所容其刃。binh vô sở dung kỳ nhận.binh khí không có chỗ để đưa lưỡi vào.the weapon finds no place to lodge its blade.
12夫何故?以其無死地。Phù hà cố? Dĩ kỳ vô tử địa.Vì cớ gì? Vì nơi người ấy không có đất chết.Why is that? Because in him there is no ground for death.
十有三
Thập hữu tam

Bốn chữ mở đầu xuất sinh nhập tử có hai lối đọc: ra khỏi chỗ kia là sinh, trở vào là tử, tức tóm cả một đời người; hoặc, như Vương Bật nghiêng theo, ra chỗ sống vào chỗ chết, tức nói về chỗ người ta tự đưa mình vào.

Ba chữ thập hữu tam thì tranh luận suốt hai nghìn năm. Lối thứ nhất, ba phần mười: Vương Bật đọc là mười phần có ba phần, nên chương đếm ba phần mười thuộc đường sống, ba phần mười thuộc đường chết, ba phần mười nữa đang sống yên mà tự cựa quậy vào chỗ chết; cộng lại chín phần, dư một phần, và đúng một phần ấy là người khéo giữ gìn sự sống nói ở nửa sau chương. Lối thứ hai, đúng số mười ba: Hàn Phi Tử, trong thiên Giải Lão, bản chú giải xưa nhất còn lại, kể ra bốn chân tay cùng chín lỗ trên người, gọi là tứ chi cửu khiếu. Trang này theo lối thứ nhất.

以其無死地
Dĩ kỳ vô tử địa

Chữ sinh 生 trong sinh sinh chi hậu lặp hai lần, chữ trước là động từ nuôi, chữ sau là danh từ cái sống. Đây là chỗ lập luận quay ngoắt: có hạng người đang sống yên mà tự đi vào đất chết, chỉ vì chăm cái sống quá kỹ.

Nửa sau chương ba lần dùng chữ vô sở 無所, không có chỗ: sừng, vuốt và lưỡi dao không thiếu, cái thiếu là chỗ để chúng bấu vào. Đời sau giới phương thuật đọc chương này thành bằng chứng cho thuật trường sinh, nhưng nguyên văn chỉ nói tới chỗ đứng.

VIIChương 51: Dưỡng Đức

Chương 51, phần Đức Kinh. Chương định nghĩa chữ đức trong tên sách, và là chỗ chữ huyền đức trở lại nguyên văn sau bốn mươi mốt chương.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1道生之,德畜之,Đạo sinh chi, đức súc chi,Đạo sinh ra nó, đức nuôi nấng nó,The Tao gives birth to it, Te nourishes it,
2物形之,勢成之。vật hình chi, thế thành chi.chất liệu cho nó hình hài, thế cuộc làm nó nên.matter gives it form, circumstance brings it to completion.
3是以萬物莫不尊道而貴德。Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn đạo nhi quý đức.Cho nên muôn vật không gì không tôn Đạo mà quý đức.Therefore among the ten thousand things there is none that does not honour the Tao and prize Te.
4道之尊,德之貴,Đạo chi tôn, đức chi quý,Đạo được tôn, đức được quý,The Tao is honoured, Te is prized,
5夫莫之命而常自然。phù mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên.không do ai ra lệnh phong cho, mà vốn tự nhiên vẫn thế.not because anyone decreed it so, but because it has always been so of itself.
6故道生之,德畜之;Cố đạo sinh chi, đức súc chi;Cho nên Đạo sinh ra nó, đức nuôi nấng nó;Therefore the Tao gives birth to it, Te nourishes it,
7長之育之,trưởng chi dục chi,làm cho nó lớn, nuôi cho nó nên,makes it grow, rears it,
8亭之毒之,đình chi độc chi,dựng cho nó vững, làm cho nó chín,makes it stand firm, brings it to ripeness,
9養之覆之。dưỡng chi phúc chi.nuôi dưỡng nó, che chở nó.sustains it, shelters it.
10生而不有,為而不恃,Sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị,Sinh mà không chiếm làm của mình, làm mà không cậy công,To give birth without possessing, to act without claiming credit,
11長而不宰,是謂玄德。trưởng nhi bất tể, thị vị huyền đức.làm cho lớn lên mà không cai quản, đó gọi là đức nhiệm màu.to make grow without ruling over: this is called the mysterious Te.
道生之,德畜之,物形之,勢成之
Đạo sinh chi, đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi

Bốn vế kê ra bốn thứ đã làm nên một vật, và đây là một trong rất ít chỗ sách tự nói chữ đức nghĩa là gì. Chữ đức 德 ở đây không phải đạo đức theo nghĩa luân lý, không phải nết tốt, mà là phần riêng mà mỗi vật nhận được từ Đạo. Vật 物 là chất liệu, thế 勢 là hoàn cảnh vây quanh nó lúc thành hình.

Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép vế thứ tư là khí thành chi 器成之, đồ vật làm nó nên, thay cho thế thành chi 勢成之; hai chữ lệch nghĩa khá xa.

夫莫之命而常自然
Phù mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên

Chữ mệnh 命 ở đây là động từ, nghĩa là ra lệnh, phong tặng một danh vị. Câu này đáp câu hỏi mà vế trên vừa làm nảy ra: muôn vật tôn Đạo quý đức, vậy ai bắt chúng phải tôn quý? Không ai cả. Thứ cao quý mà người đời biết đều là thứ được phong, mà phong được thì tước lại được; cái cao quý nói ở đây không nằm trong tay ai.

亭之毒之
Đình chi độc chi

Sáu động từ xếp liền tả một việc nuôi làm tới cùng chứ không bỏ dở. Hai chữ đình 亭 và độc 毒 là chỗ các nhà hiểu khác nhau: Hà Thượng Công đọc đình là thành 成 và độc là thục 熟, nên có bản chép thẳng thành 成之熟之; Vương Bật đọc đình là làm cho đứng vững, độc là làm cho yên ổn; lại có nhà đọc độc theo nghĩa đốc 篤. Ba lối đều tránh nghĩa độc hại.

是謂玄德
Thị vị huyền đức

Ba vế cuối chương, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể, cùng bốn chữ thị vị huyền đức, lặp đúng nguyên văn câu kết chương 10. Bốn mươi mốt chương cách nhau mà một câu trở về không sai một chữ. Đây không phải chỗ chép thừa; điều đã đổi là chỗ đứng của câu ấy.

Ở chương 10, câu này khép lại chuỗi sáu câu hỏi về việc tu thân, chủ ngữ ngầm là con người, nên huyền đức ở đó là một lối cư xử phải đạt tới. Ở chương 51, nó khép lại đoạn nói về quan hệ giữa Đạo với vạn vật, chủ ngữ ngầm là Đạo và đức, nên huyền đức ở đây là cách Đạo đối với cái nó sinh ra.

Đặt hai chương cạnh nhau thì chuỗi lập luận chạy ngược chiều với thứ tự chương: chương 51 đặt cái gốc, chương 10 đặt cái theo, người tu thân hãy cư xử với cái mình sinh ra và nuôi ra đúng như cách Đạo cư xử với muôn vật. Chương 10 là chương 51 đem áp vào một người, và vì cùng một mẫu mực nên câu ấy phải lặp nguyên văn.

Chữ huyền 玄 đã gặp từ chương 1 trong cụm huyền chi hựu huyền, nghĩa là sâu kín tối thẳm, không phải huyền bí theo nghĩa phép lạ. Huyền đức vì thế là thứ đức không phô ra, không ghi công. Cả sách dùng chữ ấy ba lần: chương 10, 51 và 65, nơi nghĩa lệch sang việc trị dân.

Chữ khó trong chương 49 tới 51.
ChữÂmNghĩa trong câu
歙歙hấp hấpThu vào, khép lại, không phô ý riêng
孩hàiĐộng từ: đãi như đãi trẻ nhỏ
兕tựCon tê giác. Chữ ít gặp, dễ đọc chệch thành hủy
措thốĐặt, để vào. Không đọc là thác
畜súcNuôi nấng. Đọc húc thì nghĩa là tích chứa
亭毒đình độcDựng cho vững và làm cho chín, không phải độc hại

VIIIChương 52: Quy Nguyên

Chương 52, phần Đức Kinh. Chương của phép giữ mẹ mà biết con, và của câu tắc kỳ đoài bế kỳ môn.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1天下有始,以為天下母。Thiên hạ hữu thủy, dĩ vi thiên hạ mẫu.Thiên hạ có chỗ khởi đầu, lấy đó làm mẹ của thiên hạ.The world has a beginning, which is taken as the mother of the world.
2既得其母,以知其子;Ký đắc kỳ mẫu, dĩ tri kỳ tử;Đã nắm được mẹ thì biết được con;Having grasped the mother, one knows the child,
3既知其子,復守其母,ký tri kỳ tử, phục thủ kỳ mẫu,đã biết được con thì quay lại giữ lấy mẹ,having known the child, one returns to keep to the mother,
4沒身不殆。một thân bất đãi.trọn đời không nguy.and to the end of one's days there is no danger.
5塞其兌,閉其門,Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn,Bít những lỗ hổng, đóng những cửa ngõ,Block the openings, shut the doors,
6終身不勤。chung thân bất cần.suốt đời không nhọc.and all one's life there is no toil.
7開其兌,濟其事,Khai kỳ đoài, tế kỳ sự,Mở những lỗ hổng ra, chạy theo cho xong việc,Open the openings, run after affairs to get them done,
8終身不救。chung thân bất cứu.suốt đời không cứu được.and all one's life there is no rescue.
9見小曰明,守柔曰強。Kiến tiểu viết minh, thủ nhu viết cường.Thấy được cái còn nhỏ gọi là sáng, giữ được cái mềm gọi là mạnh.To see what is still small is called clarity, to keep to the soft is called strength.
10用其光,復歸其明,Dụng kỳ quang, phục quy kỳ minh,Dùng cái ánh sáng tỏa ra rồi trở về cái sáng ở trong,Use the light that shines outward, then return to the clarity within,
11無遺身殃,vô di thân ương,không để lại tai vạ cho thân,and leave no calamity behind for oneself,
12是為習常。thị vi tập thường.đó gọi là noi theo lẽ thường hằng.this is called following the constant.
既得其母,以知其子
Ký đắc kỳ mẫu, dĩ tri kỳ tử

Chữ thủy 始 là chỗ khởi đầu, chữ mẫu 母 là mẹ, hai chữ đã đứng cạnh nhau từ chương 1 và trở lại ở chương 25. Phép ở đây đi hai chiều: nắm được mẹ thì biết được con, tức hiểu cái gốc thì suy ra muôn vàn cái ngọn; rồi biết được con thì quay lại giữ mẹ, vì người đi từ gốc ra ngọn rất dễ ở lại luôn với ngọn.

塞其兌,閉其門
Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn

Chữ đoài 兌 dễ gây lẫn. Trong Kinh Dịch, 兌 là tên một quẻ trong tám quẻ đơn, tượng là cái đầm; nhưng ở chương này các nhà chú giải đều không đọc theo nghĩa quẻ, họ đọc 兌 là lỗ hổng, chỗ thông ra ngoài, tức tai mắt mũi miệng. Vương Bật chú: đoài là chỗ mà sự và dục từ đó sinh ra, môn là chỗ mà sự và dục từ đó mà đi.

Cần nói cho phân minh: câu này không bảo bịt tai bịt mắt mà sống. Chương 56 lặp lại đúng hai câu ấy rồi tiếp ngay bằng hòa kỳ quang, đồng kỳ trần, tức vẫn ở giữa đời. Chỗ phải bít là chỗ lòng theo giác quan chạy ra ngoài rồi không về.

Hai câu kiến tiểu viết minh, thủ nhu viết cường định nghĩa lại hai chữ người đời tưởng đã hiểu: sáng là thấy được cái còn nhỏ, mạnh là giữ được cái mềm. Câu cuối có chỗ bản cổ chép khác: bản thông hành chép 習常, tập cho quen lẽ thường, bản bạch thư chép 襲常, nối lấy lẽ thường mà giữ.

IXChương 53: Ích Chứng

Chương 53, phần Đức Kinh. Chương có giọng nặng nhất trong cả sách.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1使我介然有知,Sử ngã giới nhiên hữu tri,Giả như ta có được chút biết vững vàng,If I had even a little steadfast knowledge
2行於大道,唯施是畏。hành ư đại đạo, duy dị thị úy.mà đi trên đường lớn, thì chỉ sợ mỗi chuyện rẽ lệch sang lối khác.and walked on the great way, the one thing I would fear is straying onto another path.
3大道甚夷,而民好徑。Đại đạo thậm di, nhi dân hiếu kính.Đường lớn rất bằng phẳng, mà người ta lại thích đường tắt.The great way is very level, yet people prefer the shortcuts.
4朝甚除,Triều thậm trừ,Sân triều quét dọn sạch bong,The court is swept spotless,
5田甚蕪,điền thậm vu,ruộng đồng thì cỏ mọc rậm,the fields are overgrown with weeds,
6倉甚虛;thương thậm hư;kho lẫm thì trống rỗng;the granaries are empty,
7服文綵,帶利劍,phục văn thải, đới lợi kiếm,mặc áo gấm hoa, đeo gươm sắc,yet they wear embroidered silks, carry sharp swords,
8厭飲食,財貨有餘,yếm ẩm thực, tài hóa hữu dư,ăn uống chán chê, của cải thừa mứa,eat and drink to satiety, and have wealth to spare,
9是謂盜夸。thị vị đạo khoa.thế gọi là đầu sỏ của bọn trộm.this is called the chief of robbers.
10非道也哉!Phi đạo dã tai!Đó không phải là đạo!That is not the Tao!
使我介然有知,唯施是畏
Sử ngã giới nhiên hữu tri, duy dị thị úy

Câu mở đầu có hai chỗ khó, cả hai đều là chỗ chú giải chia ngả. Thứ nhất là giới nhiên 介然: Hà Thượng Công đọc chữ giới 介 theo nghĩa lớn; một số nhà đọc theo nghĩa mảy may, chút ít; lại có lối đọc là dáng đứng vững chắc, kiên định. Bản dịch của trang này nghiêng về lối thứ ba, nhưng quý vị nên biết cả ba.

Thứ hai là chữ 施. Vương Bật chú chữ ấy là tà 邪, đi lệch, nên nhiều nhà đọc nó thông với chữ 迤 và phiên âm là dị, đi vòng vẹo rẽ ngang; một số nhà khác giữ âm thi theo nghĩa ban phát. Trang này theo Vương Bật, vì câu ngay sau nói tới đường tắt.

是謂盜夸
Thị vị đạo khoa

Chữ di 夷 trong đại đạo thậm di nghĩa là bằng phẳng, khác nghĩa cùng mặt chữ ấy ở chương 14. Hai vế đối nhau làm thành hình ảnh gốc cho toàn chương: đường lớn không hề khó đi, vậy mà người ta vẫn bỏ nó để chui vào lối tắt, chỉ vì lối tắt hứa hẹn tới nhanh hơn. Bảy vế giữa chương là một bản kê khai không có lấy một lời bình: sân triều bóng loáng đối lại ruộng hoang kho trống, rồi áo gấm, gươm sắc, ăn chán chê, của thừa.

Hai chữ kết đạo khoa 盜夸 là chỗ bản cổ chép khác. Bản thông hành chép chữ khoa 夸, khoe khoang, nên đạo khoa là kẻ trộm mà còn khoe của trộm được; Hàn Phi Tử trong thiên Giải Lão chép là đạo vu 盜竽, mà vu 竽 là cây sênh, nhạc khí đứng đầu dàn nhạc, nên đạo vu là kẻ cầm đầu đám trộm. Kẻ bị gọi thẳng là trộm là người mặc áo gấm đeo gươm sắc.

XChương 54: Tu Quán

Chương 54, chương cuối trong phạm vi trang này. Chương của chuỗi tu chi ư thân, ư gia, ư hương, ư quốc, ư thiên hạ.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1善建者不拔,Thiện kiến giả bất bạt,Người khéo dựng thì cái dựng lên không bị nhổ đi,What is well planted cannot be uprooted,
2善抱者不脫,thiện bão giả bất thoát,người khéo ôm giữ thì cái giữ không tuột mất,what is well held cannot slip away,
3子孫以祭祀不輟。tử tôn dĩ tế tự bất chuyết.con cháu nhờ đó mà hương khói không dứt.and so the offerings of the descendants never cease.
4修之於身,其德乃真;Tu chi ư thân, kỳ đức nãi chân;Sửa mình nơi tấm thân thì cái đức ấy mới thật;Cultivate it in the self, and its Te becomes real,
5修之於家,其德乃餘;tu chi ư gia, kỳ đức nãi dư;sửa nơi nhà thì cái đức ấy có dư ra;cultivate it in the family, and its Te overflows,
6修之於鄉,其德乃長;tu chi ư hương, kỳ đức nãi trường;sửa nơi làng thì cái đức ấy dài lâu;cultivate it in the village, and its Te endures,
7修之於國,其德乃豐;tu chi ư quốc, kỳ đức nãi phong;sửa nơi nước thì cái đức ấy dày dặn;cultivate it in the state, and its Te grows abundant,
8修之於天下,其德乃普。tu chi ư thiên hạ, kỳ đức nãi phổ.sửa nơi thiên hạ thì cái đức ấy trùm khắp.cultivate it in the world, and its Te covers all.
9故以身觀身,以家觀家,Cố dĩ thân quán thân, dĩ gia quán gia,Cho nên lấy thân mà xem thân, lấy nhà mà xem nhà,Therefore observe the self by the self, the family by the family,
10以鄉觀鄉,以國觀國,dĩ hương quán hương, dĩ quốc quán quốc,lấy làng mà xem làng, lấy nước mà xem nước,the village by the village, the state by the state,
11以天下觀天下。dĩ thiên hạ quán thiên hạ.lấy thiên hạ mà xem thiên hạ.the world by the world.
12吾何以知天下然哉?以此。Ngô hà dĩ tri thiên hạ nhiên tai? Dĩ thử.Ta lấy gì mà biết thiên hạ là như thế? Chính bằng cách ấy.How do I know that the world is so? By this.
善建者不拔,善抱者不脫
Thiện kiến giả bất bạt, thiện bão giả bất thoát

Kiến 建 là dựng đứng lên, bạt 拔 là nhổ lên, bão 抱 là ôm vào lòng, thoát 脫 là tuột ra. Hai vế định nghĩa chữ thiện 善, khéo, bằng kết quả về sau chứ không bằng công sức bỏ ra lúc làm: cây cột chôn sâu vẫn có thể bị nhổ, cái dựng khéo là cái không dựa vào sức chôn; vật ôm chặt vẫn có thể tuột, cái giữ khéo là cái không cần siết.

修之於身,其德乃真
Tu chi ư thân, kỳ đức nãi chân

Năm vế lan từ nhỏ tới lớn, và chữ đi với mỗi bậc không lặp lại: chân 真 thật, dư 餘 có thừa ra, trường 長 dài lâu, phong 豐 dày dặn, phổ 普 trùm khắp. Vì thế đây không phải năm mức độ cao thấp của cùng một thứ đức, mà là năm phạm vi, mỗi phạm vi lộ ra một tính chất khác: ở tấm thân thì thước đo là chữ thật vì chỉ có mình với mình, ở làng thì đo bằng chỗ bền.

Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép bậc thứ tư là tu chi bang 修之邦, bản thông hành chép tu chi ư quốc 修之於國, vì chữ bang 邦 bị kiêng húy do trùng tên Hán Cao Tổ là Lưu Bang; đó là bằng chứng chắc cho biết bản thông hành đã qua tay người chép đời Hán.

Chuỗi dĩ thân quán thân ở cuối có hai lối hiểu: lấy chính thân mình mà xét thân người, suy từ cái gần ra cái xa; hoặc xét thân bằng thước của thân, xét nước bằng thước của nước. Hai chữ dĩ thử khép lại chín chương bằng một lời rất chắc: cái biết về việc lớn đến từ chỗ làm đúng ở bậc gần nhất.

Chữ khó trong chương 52 tới 54.
ChữÂmNghĩa trong câu
兌đoàiLỗ hổng, chỗ thông ra ngoài. Cùng chữ tên quẻ Đoài
勤cầnNhọc nhằn, vất vả, không phải siêng năng
施dịĐi lệch, thông với chữ 迤. Đọc thi thì là ban phát
夷diBằng phẳng. Khác nghĩa chữ 夷 ở chương 14
厭yếmĂn no tới chán, thông với 饜, không phải chán ghét
輟chuyếtNgừng, dứt giữa chừng

XIÝ Chỉ Chung Của Chín Chương

  • Chương 46Cái đủ của người biết đủ
    Có đạo thì ngựa tốt về bón ruộng, không đạo thì ngựa chiến đẻ ngoài đồng.
  • Chương 47Không ra khỏi cửa mà biết
    Cái biết thật là biết lẽ chung, không phải gom tin tức.
  • Chương 48Học thì thêm, tu thì bớt
    Hai việc khác nhau về phép làm chứ không về giá trị.
  • Chương 49Lấy lòng trăm họ làm lòng mình
    Không giữ lòng riêng, không lấy phân biệt hay dở làm điều kiện để đối xử.
  • Chương 50Vì sao người ta đi vào đất chết
    Ba phần mười tự cựa quậy vào chỗ chết, chỉ vì nuôi cái sống dày quá.
  • Chương 51Đạo sinh, đức nuôi
    Bốn thứ làm nên một vật. Nuôi tới cùng rồi buông, đó gọi là huyền đức.
  • Chương 52Giữ mẹ mà biết con
    Nắm gốc thì suy ra ngọn, biết ngọn rồi phải quay lại giữ gốc.
  • Chương 53Đường lớn bằng mà người thích lối tắt
    Ruộng hoang kho trống, còn người thì áo gấm gươm sắc. Thế gọi là đầu sỏ của bọn trộm.
  • Chương 54Sửa mình lan từ thân ra thiên hạ
    Năm bậc thân, nhà, làng, nước, thiên hạ, mỗi bậc một thước đo riêng.

Trục chung của chín chương: cái thiếu không chữa được bằng cách thêm vào. Không biết đủ thì thêm bao nhiêu cũng thiếu, đi thêm bao nhiêu đường cũng không thành cái biết, nên có một loại việc chỉ làm được bằng phép ngược lại.

Ba chương cuối biến điều ấy thành ba phép giữ, cả ba đều nói về hướng: giữ mẹ thì phải quay lại, đi đường lớn thì phải không rẽ, việc sửa mình thì phải bắt đầu từ bậc gần nhất. Chín chương này là chín cách nói về cùng một điều: chỗ đứng quyết định hơn là sức làm.

XIINăm Chỗ Dễ Hiểu Lầm

Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn là câu chê việc học

Không. Hai vế đối nhau về chiều chứ không về tốt xấu, và không có chữ nào mang sắc thái chê. Học là tích lũy còn tu là dọn bớt, lẫn phép này sang việc kia thì hỏng cả hai.

Bất xuất hộ tri thiên hạ là khoe phép thần thông

Không. Cái được nói tới là biết lẽ chung chứ không phải tin tức từng việc; vế dưới nói rõ cái thấy được là đạo trời.

Thập hữu tam ở chương 50 chắc chắn là mười ba

Chưa chắc. Vương Bật đọc là ba phần mười, còn dư một phần dành cho người khéo giữ sự sống; Hàn Phi Tử đọc đúng là mười ba, kể ra bốn chân tay và chín lỗ trên người.

Thánh nhân vô thường tâm là người không có lập trường

Không. Vế sau lấp ngay chỗ trống ấy bằng lòng trăm họ: không phải người không có ý gì, mà là người đã dời chỗ đặt ý.

Tắc kỳ đoài bế kỳ môn là bảo bịt tai bịt mắt, lánh đời

Không. Chương 56 lặp lại đúng hai câu ấy rồi tiếp ngay bằng hòa ánh sáng của mình vào, lẫn cùng bụi bặm, tức vẫn ở giữa đời.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vi học nhật ích vi đạo nhật tổn nghĩa là gì

Đó là câu mở đầu chương 48, nghĩa là làm việc học thì mỗi ngày một thêm vào, làm việc đạo thì mỗi ngày một bớt đi. Câu này thường bị rút gọn thành lời chê việc học, nhưng hai vế đối nhau về chiều chứ không về tốt xấu, và không có chữ nào mang sắc thái chê. Điều nó nói là hai việc dùng hai phép ngược nhau: học là tích lũy, tu đạo là dọn bớt.

Huyền đức trong chương 51 có liên quan gì tới chương 10

Ba vế sinh mà không chiếm, làm mà không cậy công, cho lớn mà không cai quản, cùng bốn chữ thị vị huyền đức, lặp đúng nguyên văn câu kết chương 10. Chỗ đã đổi là vị trí của câu ấy: ở chương 10 nó khép lại chuỗi câu hỏi về tu thân nên huyền đức là lối cư xử người tu nhắm tới, còn ở chương 51 nó khép lại đoạn nói về Đạo với vạn vật nên huyền đức là cách Đạo đối với cái nó sinh ra.

Họa mạc đại ư bất tri túc nghĩa là gì

Là câu ở chương 46, nghĩa là họa không gì lớn hơn chuyện không biết đủ, lỗi không gì lớn hơn chuyện muốn được thêm. Đặt liền sau hai câu về con ngựa, mạch của chương là: sự loạn không nổ ra vì thiếu mà vì không biết đủ.

Bất xuất hộ tri thiên hạ có phải bảo đừng đi đâu không

Không. Chương 47 không bác việc đi và xem, nó bác việc lấy số lượng kiến văn làm thước đo cái biết. Cái được nói tới là biết lẽ chung, vì vế dưới nói rõ cái thấy được là đạo trời.

Xuất sinh nhập tử và thập hữu tam ở chương 50 nghĩa là gì

Bốn chữ đầu có hai lối đọc: ra khỏi chỗ kia là sinh, trở vào là tử; hoặc ra chỗ sống, vào chỗ chết, tức nói về chỗ người ta tự đưa mình vào. Ba chữ thập hữu tam thì Vương Bật đọc là ba phần mười, còn Hàn Phi Tử đọc đúng là mười ba, kể ra bốn chân tay và chín lỗ trên người.

›Đọc Tiếp