壹Mạch Của Chín Chương Này
Chín chương trước, từ 19 tới 27, dọn bớt những thứ người đời cộng thêm vào rồi xếp Đạo vào hàng bốn cái lớn. Chín chương tiếp theo đây bàn về chỗ đứng: đứng ở phần nào của một cặp đối, đặt tay vào đâu và không đặt tay vào đâu, lấy gì làm thước đo khi không còn ai nhìn.
Chương 28 mở ra bằng ba cặp đối và chữ phác, khúc gỗ chưa đẽo. Chương 29 nói thiên hạ là món đồ thiêng. Chương 30 và 31 bàn về binh khí. Chương 32 trở lại chữ phác và chữ vô danh. Chương 33 quay thước đo vào trong. Chương 34 tả Đạo lớn tràn khắp mà không làm chủ. Chương 35 nói Đạo thốt ra lời thì nhạt. Chương 36 khép lại bằng quy luật co duỗi.
Đọc rời thì chín chương này rất dễ bị xé lẻ: chương 28 thành lời khuyên nhún nhường, chương 33 thành bốn câu châm ngôn mà người ta thường chỉ trích có nửa vế, chương 36 thành sách dạy mưu.
Đọc liền mạch thì thấy một chuỗi lập luận đi rất thẳng: cái chưa bị cắt ra thì chưa mất khả năng. Chưa cắt nên chưa có tên, chưa có tên thì không ai bắt làm tôi được. Từ đó suy ra thiên hạ không phải món đồ để nắn, binh khí là chỗ cắt xẻ nặng nhất, thước đo thật nằm ở phía trong, và cái lớn nhất lại là cái không tự nhận là lớn.
貳Chương 28: Phản Phác
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 知其雄,守其雌,為天下谿。 | Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư, vi thiên hạ khê. | Biết phần mạnh mẽ mà vẫn giữ phần mềm mại, làm khe nước của thiên hạ. |
| 2 | 為天下谿,常德不離,復歸於嬰兒。 | Vi thiên hạ khê, thường đức bất ly, phục quy ư anh nhi. | Làm khe nước của thiên hạ thì cái đức thường hằng không rời, mà trở về được với đứa trẻ sơ sinh. |
| 3 | 知其白,守其黑,為天下式。 | Tri kỳ bạch, thủ kỳ hắc, vi thiên hạ thức. | Biết chỗ sáng mà vẫn giữ chỗ tối, làm khuôn mẫu cho thiên hạ. |
| 4 | 為天下式,常德不忒,復歸於無極。 | Vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc, phục quy ư vô cực. | Làm khuôn mẫu cho thiên hạ thì cái đức thường hằng không sai lệch, mà trở về được với chỗ không cùng. |
| 5 | 知其榮,守其辱,為天下谷。 | Tri kỳ vinh, thủ kỳ nhục, vi thiên hạ cốc. | Biết chỗ vinh mà vẫn giữ chỗ nhục, làm hang núi của thiên hạ. |
| 6 | 為天下谷,常德乃足,復歸於樸。 | Vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc, phục quy ư phác. | Làm hang núi của thiên hạ thì cái đức thường hằng mới đủ, mà trở về được với khúc gỗ chưa đẽo. |
| 7 | 樸散則為器,聖人用之,則為官長, | Phác tán tắc vi khí, thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trưởng, | Khúc gỗ chưa đẽo mà tán ra thì thành đồ dùng, bậc thánh nhân dùng cái phác ấy thì làm người đứng đầu trăm quan, |
| 8 | 故大制不割。 | Cố đại chế bất cát. | cho nên phép tạo dựng lớn thì không cắt rời. |
Chữ nặng nhất không phải thủ mà là tri, biết: phải biết rõ phần mạnh rồi mới nói tới việc giữ phần mềm. Ba cặp trong chương cùng một khuôn, đều kết bằng phục quy, trở về.
Đây là chỗ có vấn đề văn bản nặng: bản bạch thư Mã Vương Đôi chỉ chép hai cặp, cặp thứ hai là tri kỳ bạch, thủ kỳ nhục, Trang Tử thiên Thiên Hạ dẫn cũng vậy, nên Dịch Thuận Đỉnh và Mã Tự Luân ngờ mấy câu thủ kỳ hắc cùng phục quy ư vô cực là lời chua lọt vào chính văn. Bản Vương Bật chép đủ ba cặp như trang này, và quý vị nên biết là có hai lối.
Phác 樸 là khúc gỗ chưa đẽo, khí 器 là đồ dùng đã thành hình: gỗ chưa đẽo thì thành được bất cứ thứ gì, đẽo thành cái chậu rồi thì chỉ còn là cái chậu.
Chế 制 nghĩa gốc là cắt vải, nên đại chế bất cát là nghịch lý cố ý: phép cắt lớn nhất là phép không cắt rời. Chữ chi trong thánh nhân dụng chi trỏ vào cái khí hay trỏ vào chữ phác thì các nhà chú giải không thống nhất, Vương Bật nghiêng về chữ phác.
參Chương 29: Vô Vi
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 將欲取天下而為之,吾見其不得已。 | Tương dục thủ thiên hạ nhi vi chi, ngô kiến kỳ bất đắc dĩ. | Muốn lấy thiên hạ rồi ra tay nắn sửa nó, ta thấy là không xong được. |
| 2 | 天下神器,不可為也。 | Thiên hạ thần khí, bất khả vi dã. | Thiên hạ là món đồ thiêng, không thể ra tay nắn sửa. |
| 3 | 為者敗之,執者失之。 | Vi giả bại chi, chấp giả thất chi. | Kẻ ra tay nắn sửa thì làm hỏng nó, kẻ nắm chặt thì đánh mất nó. |
| 4 | 故物或行或隨, | Cố vật hoặc hành hoặc tùy, | Cho nên trong muôn vật, có cái đi trước có cái theo sau, |
| 5 | 或歔或吹, | hoặc hư hoặc xuy, | có cái thở nhẹ có cái thổi mạnh, |
| 6 | 或強或羸, | hoặc cường hoặc luy, | có cái mạnh có cái gầy yếu, |
| 7 | 或挫或隳。 | hoặc tỏa hoặc huy. | có cái bị bẻ gãy có cái bị đổ nát. |
| 8 | 是以聖人去甚,去奢,去泰。 | Thị dĩ thánh nhân khứ thậm, khứ xa, khứ thái. | Cho nên bậc thánh nhân bỏ cái quá đà, bỏ cái xa xỉ, bỏ cái thái quá. |
Bốn chữ này nối vào chữ khí cuối chương 28: ở đó khí là đồ dùng do người đẽo ra, ở đây thiên hạ cũng là một thứ khí nhưng là món đồ thiêng. Chữ vi 為 đây là ra tay chế tác, nắn một vật theo ý mình.
Chữ thần 神 hiểu hai hướng và các bản chú lớn không thống nhất: đọc sát mặt chữ thì thiên hạ là vật có thần, một cái sống có nhịp riêng; đọc theo cách dùng về sau thì từ đời Hán thần khí thành điển cố chỉ ngôi vị, mà chính câu này là gốc của điển cố ấy.
Bốn cặp liệt kê là phần chứng minh: muôn vật vốn chia sẵn thành từng cặp trái nhau, nên ai muốn nắn tất cả về một kiểu đều đang chống lại một nửa số vật trong tay mình.
Cặp cuối là chỗ các bản chép khác nhau: Vương Bật chép hoặc tỏa hoặc huy 或挫或隳, bẻ gãy và đổ nát, hai vế cùng nghĩa hỏng nên không thành đối; Hà Thượng Công chép hoặc tải hoặc huy 或載或隳, nâng lên và đổ xuống; bạch thư chép hoặc bồi hoặc đọa 或培或墮.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 雌 | thư | Con mái, phần mềm mại. Đọc là thư, không đọc là từ |
| 谿 | khê | Khe giữa hai sườn núi, chỗ thấp nên nước dồn về |
| 忒 | thắc | Sai lệch, chênh |
| 無極 | vô cực | Chỗ không mốc giới. Chưa phải vô cực của Lý học đời Tống |
| 神器 | thần khí | Món đồ thiêng. Về sau thành điển cố chỉ ngôi vị |
| 羸 | luy | Gầy yếu, kiệt sức |
肆Chương 30: Kiệm Vũ
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 以道佐人主者,不以兵強天下。 | Dĩ đạo tá nhân chủ giả, bất dĩ binh cường thiên hạ. | Người lấy Đạo mà giúp bậc làm chủ thì không dùng binh khí để ép thiên hạ. |
| 2 | 其事好還。 | Kỳ sự hảo hoàn. | Việc ấy hay quay trở lại. |
| 3 | 師之所處,荊棘生焉。 | Sư chi sở xứ, kinh cức sinh yên. | Chỗ quân đóng, gai góc mọc lên ở đó. |
| 4 | 大軍之後,必有凶年。 | Đại quân chi hậu, tất hữu hung niên. | Sau cuộc dấy quân lớn, ắt có năm mất mùa. |
| 5 | 善有果而已,不敢以取強。 | Thiện hữu quả nhi dĩ, bất cảm dĩ thủ cường. | Người khéo chỉ cốt xong việc là thôi, không dám nhân đó mà chiếm lấy phần mạnh. |
| 6 | 果而勿矜, | Quả nhi vật căng, | Xong việc thì đừng khoe, |
| 7 | 果而勿伐, | quả nhi vật phạt, | xong việc thì đừng kể công, |
| 8 | 果而勿驕, | quả nhi vật kiêu, | xong việc thì đừng kiêu, |
| 9 | 果而不得已, | quả nhi bất đắc dĩ, | xong việc là vì chẳng đặng đừng, |
| 10 | 果而勿強。 | quả nhi vật cường. | xong việc rồi thì đừng cậy mạnh. |
| 11 | 物壯則老,是謂不道, | Vật tráng tắc lão, thị vị bất đạo, | Vật tới độ cường tráng thì già đi, thế gọi là trái Đạo, |
| 12 | 不道早已。 | bất đạo tảo dĩ. | trái Đạo thì sớm dứt. |
Hoàn 還 là quay về, chữ hảo 好 đây nghĩa là hay, dễ, thường là. Hai lối hiểu: cái gì gây ra thì quay về chỗ người gây, hoặc việc ấy dễ lật ngược chiều; cả hai cùng dựa trên quy luật hễ đẩy tới cực thì quay đầu.
Kinh cức 荊棘 là cây bụi có gai mọc ở ruộng bỏ hoang, nên câu sau tả ruộng không người cày. Ghi chú văn bản: một trong hai bản bạch thư không có câu đại quân chi hậu, tất hữu hung niên, nên có nhà ngờ đó là lời chua về sau lọt vào chính văn.
Chữ quả 果 đây là xong việc rồi dừng. Năm vế quả nhi đều dán vào chữ ấy: đừng vênh, đừng kể công, đừng lên mặt, chỉ làm vì chẳng đặng đừng, và đừng lấy đó làm chỗ cậy mạnh.
Câu kết là mệnh đề chung chứ không riêng cho chuyện binh khí, bằng chứng là nó lặp lại gần nguyên văn cuối chương 55. Tráng 壯 là đỉnh của sức lực mà đỉnh thì chỉ còn một chiều để đi tiếp; thị vị bất đạo ở đây là mô tả chứ không phải lời buộc lỗi.
伍Chương 31: Yển Vũ
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 夫佳兵者,不祥之器, | Phù giai binh giả, bất tường chi khí, | Phàm cái gọi là binh khí tốt vẫn là món đồ chẳng lành, |
| 2 | 物或惡之,故有道者不處。 | vật hoặc ố chi, cố hữu đạo giả bất xứ. | muôn vật đều ghét nó, cho nên người có Đạo không ở cùng nó. |
| 3 | 君子居則貴左,用兵則貴右。 | Quân tử cư tắc quý tả, dụng binh tắc quý hữu. | Người quân tử lúc thường ở thì trọng bên trái, lúc dùng binh thì trọng bên phải. |
| 4 | 兵者不祥之器,非君子之器, | Binh giả bất tường chi khí, phi quân tử chi khí, | Binh khí là món đồ chẳng lành, không phải món đồ của người quân tử, |
| 5 | 不得已而用之,恬淡為上。 | bất đắc dĩ nhi dụng chi, điềm đạm vi thượng. | chẳng đặng đừng mới dùng tới, mà lấy sự điềm đạm làm hơn cả. |
| 6 | 勝而不美,而美之者,是樂殺人。 | Thắng nhi bất mỹ, nhi mỹ chi giả, thị lạc sát nhân. | Thắng rồi mà không cho là đẹp; còn ai cho đó là đẹp tức là kẻ thích giết người. |
| 7 | 夫樂殺人者,則不可得志於天下矣。 | Phù lạc sát nhân giả, tắc bất khả đắc chí ư thiên hạ hỹ. | Mà kẻ thích giết người thì không thể toại chí với thiên hạ được. |
| 8 | 吉事尚左,凶事尚右。 | Cát sự thượng tả, hung sự thượng hữu. | Việc lành chuộng bên trái, việc dữ chuộng bên phải. |
| 9 | 偏將軍居左,上將軍居右, | Thiên tướng quân cư tả, thượng tướng quân cư hữu, | Phó tướng đứng bên trái, thượng tướng đứng bên phải, |
| 10 | 言以喪禮處之。 | ngôn dĩ tang lễ xứ chi. | ấy là nói rằng người ta lấy lễ tang mà xếp đặt việc ấy. |
| 11 | 殺人之眾,以哀悲泣之, | Sát nhân chi chúng, dĩ ai bi khấp chi, | Người chết đông đảo thì lấy lòng thương đau mà khóc họ, |
| 12 | 戰勝以喪禮處之。 | chiến thắng dĩ tang lễ xứ chi. | đánh thắng rồi thì lấy lễ tang mà xếp đặt. |
Chữ đầu chương gây tranh luận nhiều bậc nhất cả sách. Bản thông hành chép giai 佳, tốt đẹp; Vương Niệm Tôn đời Thanh cho rằng đó là chữ chép lầm của duy 唯, một hư từ mở câu, và bản bạch thư chép phù binh giả, không có chữ giai. Trang này chép theo bản thông hành.
Đoạn giữa chương chuyển sang hệ lễ thời Chu: bên trái thuộc dương ứng việc lành, bên phải thuộc âm ứng việc dữ. Quân tử lúc thường trọng bên trái, khi dùng binh thì chỗ trọng dời sang bên phải, tức chính nghi thức đã tự xếp việc ấy vào hàng việc dữ; thượng tướng quân đứng bên phải, chỗ dành cho tang chủ.
Chương này không kết bằng một mệnh đề về Đạo mà kết bằng một quy định về cách xếp đặt lễ, đó là chỗ nó khác mọi chương khác.
Ghi chú văn bản quan trọng: trong bản có chú của Vương Bật lưu tới nay, riêng chương 31 không có lời chú nào. Từ đó Dịch Thuận Đỉnh và Mã Tự Luân suy rằng một phần đoạn giữa chương vốn là lời chua bị nhập vào chính văn, tuy mới là giả thuyết. Thêm một dị bản: dĩ ai bi khấp chi 以哀悲泣之 thì bản bạch thư chép dĩ bi ai lị chi 以悲哀莅之.
陸Chương 32: Thánh Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 道常無名。 | Đạo thường vô danh. | Đạo thường hằng thì không có tên. |
| 2 | 樸雖小,天下莫能臣也。 | Phác tuy tiểu, thiên hạ mạc năng thần dã. | Khúc gỗ chưa đẽo tuy nhỏ, nhưng thiên hạ không ai bắt nó làm tôi được. |
| 3 | 侯王若能守之,萬物將自賓。 | Hầu vương nhược năng thủ chi, vạn vật tương tự tân. | Bậc hầu vương nếu giữ được nó thì muôn vật sẽ tự tìm về mà thuận theo. |
| 4 | 天地相合,以降甘露, | Thiên địa tương hợp, dĩ giáng cam lộ, | Trời đất giao hòa với nhau mà rơi xuống móc ngọt, |
| 5 | 民莫之令而自均。 | dân mạc chi lệnh nhi tự quân. | dân không ai ra lệnh mà tự đều. |
| 6 | 始制有名, | Thủy chế hữu danh, | Bắt đầu cắt đẽo thì sinh ra tên gọi, |
| 7 | 名亦既有,夫亦將知止, | danh diệc ký hữu, phù diệc tương tri chỉ, | tên đã có rồi thì cũng phải biết chỗ dừng, |
| 8 | 知止可以不殆。 | tri chỉ khả dĩ bất đãi. | biết dừng thì có thể không nguy. |
| 9 | 譬道之在天下,猶川谷之於江海。 | Thí đạo chi tại thiên hạ, do xuyên cốc chi ư giang hải. | Ví Đạo ở trong thiên hạ, cũng như khe suối đối với sông biển. |
Bốn chữ mở chương có hai lối ngắt vì chữ Hán cổ không dấu: đọc liền đạo thường vô danh, hoặc ngắt thành đạo thường, vô danh để lấy chữ thường làm thuộc tính riêng như ở chương 1 và chương 16.
Chữ tiểu 小 không phải nhỏ về kích thước: khúc gỗ chưa đẽo bị gọi là nhỏ vì chưa có tên, mà cái chưa có tên thì không đo được, không xếp hạng được, nên không ai bắt nó làm tôi được. Còn là phác thì còn ngoài tầm sai khiến, đã thành đồ dùng thì đã có chủ.
Chế 制 nghĩa gốc là cắt vải, nên thủy chế hữu danh là vừa ra tay cắt đẽo thì tên gọi sinh ra. Chương không phủ nhận việc chia cắt, chỉ đặt điều kiện là biết chỗ dừng.
Câu ví cuối chương hiểu được hai chiều ngược nhau: Đạo ở trong thiên hạ như sông biển đối với khe suối, muôn vật đều xuôi về Đạo; hoặc bám mặt chữ thì xuyên cốc đứng trước nên Đạo như khe suối giữa lòng sông biển, thấm khắp mọi chỗ. Câu không có chữ nào ép phải theo một chiều, nên thư viện ghi cả hai để quý vị tự cân.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 好還 | hảo hoàn | Hay quay trở lại. Hảo nghĩa là dễ, thường là; không phải háo |
| 荊棘 | kinh cức | Cây bụi có gai, thứ mọc ở ruộng bỏ hoang |
| 果 | quả | Xong việc rồi dừng. Không phải quả cây theo nghĩa đen |
| 佳 | giai | Tốt đẹp. Có ý kiến cho là chép lầm của chữ duy 唯 |
| 恬淡 | điềm đạm | Yên tĩnh nhạt nhẽo, không hăng hái không ham |
| 臣 | thần | Dùng như động từ: bắt kẻ khác thần phục mình |
柒Chương 33: Biện Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 知人者智,自知者明。 | Tri nhân giả trí, tự tri giả minh. | Biết người là khôn, tự biết mình mới là sáng. |
| 2 | 勝人者有力,自勝者強。 | Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường. | Thắng được người là có sức, tự thắng được mình mới là mạnh. |
| 3 | 知足者富,強行者有志。 | Tri túc giả phú, cưỡng hành giả hữu chí. | Biết đủ là giàu, gắng sức mà làm là có chí. |
| 4 | 不失其所者久, | Bất thất kỳ sở giả cửu, | Không mất chỗ đứng của mình thì lâu bền, |
| 5 | 死而不亡者壽。 | tử nhi bất vong giả thọ. | chết mà không mất đi mới là sống lâu. |
Tám chữ này được trích nhiều nhất trong tiếng Việt và cũng bị cắt còn một nửa nhiều nhất: người ta lấy tri nhân giả trí để khen kẻ nhìn người giỏi rồi bỏ vế sau, mà sức nặng của câu lại nằm ở vế sau.
Chữ trí 智 trong sách này chưa bao giờ là lời khen thuần: chương 18 để nó đi liền với đại ngụy là dối trá lớn, chương 19 đặt nó ngay trong lời tuyệt thánh khí trí. Chữ minh 明 thì luôn là chữ tốt và đã được chương 16 định nghĩa sẵn: tri thường viết minh. Vậy hai vế khác nhau về hướng chứ không hơn kém về mức độ: trí đi ra và cần một đối tượng ở ngoài để soi, minh đi vào và tự nó là nguồn sáng.
Lực 力 là sức, thứ đo được và so được. Cường 強 là chỗ phải dừng lại, vì chữ cường trong sách gần như luôn bị chê: chương 30 vừa nói quả nhi vật cường, chương 36 ngay sau nói nhu nhược thắng cương cường, chương 42 nói kẻ cứng cỏi hung hăng không được chết lành.
Các nhà chú giải trả lời không giống nhau, có ba lối đáng kể. Một, chữ cường ở đây theo nghĩa gốc là bền chắc bên trong, khác hướng với cái cường cậy sức. Hai, theo dòng tu dưỡng như Hà Thượng Công, chương này nói phép giữ mình nên cường chỉ sức tự chế ngự. Ba, theo dòng văn bản học, chương 33 gồm những mệnh đề kiểu cách ngôn, có thể lưu hành riêng rồi mới nhập vào sách.
Cả ba đồng ý một chỗ: cái được khen là sức thắng chính mình, nên trích nửa vế trước rồi dừng thì hóa ra khen đúng thứ mà cả sách chê.
Vế đầu định nghĩa lại chữ phú 富: giàu không đo bằng số của cải mà đo bằng khoảng cách giữa cái đang có và cái còn muốn.
Vế sau đọc được hai đường. Chữ 強 đọc âm cưỡng thì cưỡng hành là gắng sức mà làm, cả vế thành lời khen kẻ có chí; đọc âm cường theo nghĩa cứng cỏi ép buộc thì thành ra làm một cách gượng ép và vế này mang sắc chê. Phần lớn các nhà chú giải theo lối trước và trang này phiên là cưỡng hành, nhưng lối sau có lý của nó vì ba vế còn lại trong chương đều hạ thấp phần dùng sức.
Chữ sở 所 là chỗ, vị trí đúng của một vật; không mất chỗ đứng của mình thì lâu bền, đúng quy luật đã thấy ở cụm các phục quy kỳ căn của chương 16.
Câu chót là dị bản đáng kể nhất của chương và nó đổi hẳn nghĩa. Bản thông hành chép chữ vong 亡 là mất đi, bản bạch thư chép chữ vong 忘 là quên: theo chữ 亡 thì chết mà phần thật của mình không mất, theo chữ 忘 thì chết mà người đời không quên. Lối sau gần lối nói thông thường, lối trước là chỗ truyền thống tu tập Đạo Giáo về sau bám vào. Còn một lối thứ ba: chữ thọ 壽 được định nghĩa lại giống chữ phú ở trên, sống lâu đo bằng chỗ mình không bị mất đi chứ không đo bằng số năm. Ba lối đều có người theo, thư viện không chọn thay quý vị.
捌Chương 34: Nhiệm Thành
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 大道汎兮,其可左右。 | Đại đạo phiếm hề, kỳ khả tả hữu. | Đạo lớn tràn lan thay, nó có thể ở cả bên trái lẫn bên phải. |
| 2 | 萬物恃之而生而不辭, | Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất từ, | Muôn vật nương vào nó mà sinh ra, mà nó không chối từ, |
| 3 | 功成不名有。 | công thành bất danh hữu. | nên công rồi mà không nhận đó là của mình. |
| 4 | 衣養萬物而不為主, | Y dưỡng vạn vật nhi bất vi chủ, | Che chở nuôi nấng muôn vật mà không làm chủ, |
| 5 | 常無欲,可名於小; | thường vô dục, khả danh ư tiểu; | thường không ham muốn, nên có thể gọi tên là nhỏ; |
| 6 | 萬物歸焉而不為主,可名為大。 | vạn vật quy yên nhi bất vi chủ, khả danh vi đại. | muôn vật quay về với nó mà nó không làm chủ, nên có thể gọi tên là lớn. |
| 7 | 以其終不自為大,故能成其大。 | Dĩ kỳ chung bất tự vi đại, cố năng thành kỳ đại. | Chính vì rốt cuộc nó không tự cho mình là lớn, nên mới nên được cái lớn của nó. |
Chữ phiếm 汎 vẽ nước tràn khắp mặt, không bờ giữ lại; có bản chép 氾 hoặc 泛. Kỳ khả tả hữu là ở chỗ nào cũng được, đáng chú ý vì cặp tả hữu vừa được chương 31 dùng để phân việc lành việc dữ.
Chữ 衣 đây dùng như động từ, trùm lên, che phủ, nên y dưỡng là che chở mà nuôi; bản Hà Thượng Công chép ái dưỡng 愛養. Bốn chữ nhi bất vi chủ lặp hai lần, một lần lúc cho và một lần lúc được nhận.
Chương đặt hai cái tên trái ngược lên cùng một đối tượng có chủ ý: Đạo đáng gọi là nhỏ vì không đòi hỏi gì, đáng gọi là lớn vì muôn vật đều quay về. Hai tên cùng đúng vì cùng một lý do: nó không làm chủ.
Câu kết là khuôn lập luận trở đi trở lại trong sách, chính vì không làm một việc nên mới thành được việc ấy, đã gặp ở chương 7 và còn gặp lại ở chương 63 cùng chương 66.
玖Chương 35: Nhân Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 執大象,天下往。 | Chấp đại tượng, thiên hạ vãng. | Nắm lấy cái tượng lớn thì thiên hạ tìm đến. |
| 2 | 往而不害,安平太。 | Vãng nhi bất hại, an bình thái. | Tìm đến mà không hại nhau, nên yên ổn bằng phẳng thư thái. |
| 3 | 樂與餌,過客止。 | Nhạc dữ nhị, quá khách chỉ. | Tiếng nhạc với món ngon giữ được khách qua đường dừng chân. |
| 4 | 道之出口,淡乎其無味, | Đạo chi xuất khẩu, đạm hồ kỳ vô vị, | Còn Đạo thốt ra khỏi miệng thì nhạt thếch, chẳng có vị gì, |
| 5 | 視之不足見, | thị chi bất túc kiến, | nhìn thì không đủ để thấy, |
| 6 | 聽之不足聞, | thính chi bất túc văn, | nghe thì không đủ để nghe, |
| 7 | 用之不足既。 | dụng chi bất túc ký. | mà đem dùng thì không sao dùng cho hết. |
Đại tượng 大象 là cái hình tượng lớn, và chương 41 cho biết sách dùng chữ ấy chỉ cái gì: đại tượng vô hình. Vậy đại tượng là một cách gọi khác của Đạo.
Chữ chấp 執 cần cẩn thận vì chính chữ ấy vừa bị chê ở chương 29 trong câu chấp giả thất chi. Vương Bật giải: nắm cái có hình thì mất vì nắm chặt sẽ vỡ, còn cái không hình thì không có gì để vỡ nên nắm được.
Câu trên dựng một cảnh đời thường để đối chiếu: bên đường có tiếng đàn sáo và món ăn thơm, khách đi ngang liền dừng; nhưng chỉ là quá khách, người đi ngang, và chỉ dừng trong chốc lát.
Bản thông hành chép đạo chi xuất khẩu 道之出口, bản bạch thư chép đạo chi xuất ngôn 道之出言. Chương không bảo Đạo nhạt, nó bảo Đạo khi nói ra thành lời thì nhạt. Ba vế cuối tăng cấp rồi lật ngược: nhìn không đủ thấy, nghe không đủ nghe, mà dùng thì không sao dùng hết.
拾Chương 36: Vi Minh
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 將欲歙之,必固張之; | Tương dục hấp chi, tất cố trương chi; | Sắp muốn thu lại thì ắt trước đó phải giương ra; |
| 2 | 將欲弱之,必固強之; | tương dục nhược chi, tất cố cường chi; | sắp muốn làm cho yếu thì ắt trước đó phải làm cho mạnh; |
| 3 | 將欲廢之,必固興之; | tương dục phế chi, tất cố hưng chi; | sắp muốn bỏ đi thì ắt trước đó phải dựng lên; |
| 4 | 將欲奪之,必固與之。 | tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. | sắp muốn lấy đi thì ắt trước đó phải cho vào. |
| 5 | 是謂微明。 | Thị vị vi minh. | Đó gọi là cái sáng kín nhiệm. |
| 6 | 柔弱勝剛強。 | Nhu nhược thắng cương cường. | Mềm yếu thắng cứng mạnh. |
| 7 | 魚不可脫於淵, | Ngư bất khả thoát ư uyên, | Cá không thể rời khỏi vực sâu, |
| 8 | 國之利器不可以示人。 | quốc chi lợi khí bất khả dĩ thị nhân. | món đồ sắc bén của nước không thể đem phô cho người. |
Cả chương đứng hay đổ là ở một chữ: chữ cố 固.
Cách đọc thứ nhất, theo quy luật tự nhiên. Chữ cố giữ nghĩa thông thường là vốn đã, ắt là. Đọc thế thì bốn vế là bốn mệnh đề mô tả chứ không phải lời sai khiến: vật sắp co lại thì trước đó ắt đã giương hết cỡ, sắp yếu đi thì trước đó đã mạnh tới đỉnh. Chương 36 khi ấy chỉ nói lại điều chương 30 vừa nói bằng sáu chữ vật tráng tắc lão, và nó dạy cách nhìn ra dấu hiệu chứ không dạy cách ra tay. Vương Bật giải theo hướng này.
Cách đọc thứ hai, theo thuật trị người. Chữ cố đọc thông với chữ cô 姑 nghĩa là hãy tạm, trước hãy. Đọc thế thì bốn vế thành bốn lời chỉ dẫn: muốn lấy của ai thì trước hãy cho họ. Hàn Phi Tử trong thiên Dụ Lão đã dẫn chương này theo hướng ấy, và từ đó nhiều người đọc Đạo Đức Kinh như một pho sách mưu.
Không cách nào bác được cách kia chỉ bằng mặt chữ, nên xin nêu ba việc để quý vị tự cân. Câu ngay sau bốn vế là nhu nhược thắng cương cường, một mệnh đề về quy luật chứ không phải một mẹo. Chữ cố ở cả bốn vế đều đứng sau chữ tất 必 vốn chỉ sự tất yếu. Nhưng hai câu cuối chương lại kéo hẳn về phía việc nước, nên lối đọc kia cũng có chỗ bám. Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép chữ cổ 古 thay cho 固 ở cả bốn vế, nên không dứt điểm được tranh luận, chỉ cho thấy chữ ấy đã lung lay từ bản xưa nhất.
Vi minh là tên chương trong hệ chương mục Hà Thượng Công, và nó cũng chia hai theo đúng hai lối đọc trên. Đọc theo lối quy luật thì vi minh là cái sáng thấy được chỗ nhỏ, nhận ra mầm của sự đảo chiều khi nó còn chưa lộ; đọc theo lối thuật trị người thì vi minh thành cái khôn ngầm, và chữ minh lệch hẳn với chữ minh ở chương 33.
Câu nhu nhược thắng cương cường không phải kết luận riêng của chương này, cùng ý ấy trở lại ở chương 43, 76 và 78. Chữ thắng 勝 đây không phải thắng trong một cuộc tranh mà là bền hơn, còn lại sau cùng: cái đã giương hết cỡ là cái đang ở gần chỗ quay đầu, còn cái mềm yếu là cái còn chỗ để đi tiếp. Câu này nói về nhịp chứ không nói về trận, và nó chính là lý do cho lựa chọn ở chương 28 mở đầu trang.
Hai câu cuối đi thành cặp: con cá với cái vực, món đồ sắc bén với người ngoài. Cá rời vực thì chết, không phải vì vực quý mà vì ngoài vực nó không sống được.
Lợi khí 利器 là món đồ sắc bén, chữ khí lại xuất hiện, đúng chữ đã chạy suốt từ chương 28 tới đây. Các nhà chú giải hiểu khác nhau: là binh khí và hình phạt, nối với chương 30 và 31; là quyền quyết đoán của người cầm quyền, lối của Hàn Phi Tử, người đã dẫn chính câu này để bàn thuật giữ quyền; hoặc theo Vương Bật là món đồ dùng để làm lợi cho nước, phô ra thì người ta sinh đối phó. Lối thứ hai khiến chương 36 mang tiếng là chương mưu mẹo.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 明 | minh | Cái sáng soi vào bên trong. Mặt chữ là mặt trời ghép mặt trăng |
| 亡 | vong | Mất đi. Bản bạch thư chép chữ vong 忘 là quên |
| 汎 | phiếm | Tràn lan không bờ. Có bản chép 氾 hoặc 泛 |
| 餌 | nhị | Bánh, món ăn, rộng ra là mồi nhử. Không đọc là nhĩ |
| 既 | ký | Hết, cạn. Không phải nghĩa quen thuộc là đã rồi |
| 固 | cố | Vốn đã, ắt là. Có lối đọc thông với chữ cô 姑 là hãy tạm |
拾壹Ý Chỉ Chung Của Chín Chương
- Chương 28Ba cặp đối và chữ phácBiết cái mạnh mà giữ phần mềm, biết chỗ vinh mà giữ chỗ nhục, rồi trở về khúc gỗ chưa đẽo.
- Chương 29Thiên hạ là món đồ thiêngNắn thì hỏng, nắm thì mất. Muôn vật vốn chia sẵn thành cặp trái nhau.
- Chương 30Việc ấy hay quay trở lạiChỗ quân đóng thì gai mọc. Xong việc là thôi. Vật tới độ cường tráng thì già đi.
- Chương 31Binh khí là món đồ chẳng lànhChẳng đặng đừng mới dùng. Phép xếp chỗ theo lễ đã tự xếp việc ấy vào hàng việc dữ.
- Chương 32Đạo thường không tênPhác tuy nhỏ mà không ai bắt làm tôi được. Cắt đẽo thì sinh ra tên, có tên thì phải biết dừng.
- Chương 33Quay thước đo vào trongBiết người là khôn, tự biết mới là sáng. Thắng người là có sức, tự thắng mới là mạnh.
- Chương 34Đạo lớn không làm chủTràn khắp cả tả lẫn hữu. Vì không tự cho là lớn nên mới nên được cái lớn.
- Chương 35Đạo nói ra thì nhạtNhạc và món ngon giữ khách qua đường một lúc. Đạo không có vị mà dùng không sao hết.
- Chương 36Quy luật co duỗiSắp thu lại thì trước đó phải giương ra. Mềm yếu thắng cứng mạnh.
Trục chung của chín chương: cái chưa bị cắt ra thì chưa mất khả năng. Khúc gỗ chưa đẽo thì thành được mọi thứ và không ai bắt làm tôi được; cắt ra thành đồ dùng thì có công dụng nhưng đồng thời có chủ, có tên, có hạng.
Chín chương mở bằng biết cái mạnh mà giữ phần mềm và khép bằng mềm yếu thắng cứng mạnh. Đó không phải trùng hợp: mệnh đề ở chương 36 chính là lý do cho lựa chọn ở chương 28.
拾貳Năm Chỗ Dễ Hiểu Lầm
Không. Chữ đứng đầu mỗi vế là tri, biết. Ai không biết phần mạnh là gì mà ở phần mềm thì chỉ là yếu, chưa phải là giữ.
Không. Phác là khúc gỗ chưa đẽo, chưa bị định hình nên còn nguyên mọi khả năng. Chương 32 nói rõ: cái chưa có tên thì không ai bắt làm tôi được.
Trích vậy là bỏ mất nửa câu mang sức nặng. Chữ trí trong sách luôn có phần dè chừng. Vế đáng nhớ là vế sau: tự biết mình mới là sáng.
Chỉ đúng với một trong hai lối đọc. Chữ cố hiểu là vốn đã thì bốn vế mô tả quy luật co duỗi; đọc thông với chữ cô là hãy tạm thì thành lời chỉ dẫn.
Văn bản không nói gì tới việc đời sau. Nó nói binh khí là món đồ chẳng lành, chỉ dùng khi chẳng đặng đừng, và phép xếp chỗ theo lễ thời Chu đã tự xếp việc ấy vào hàng việc dữ.
問Hỏi Đáp Nhanh
Tri kỳ hùng thủ kỳ thư nghĩa là gì
Câu mở chương 28, nghĩa là biết phần mạnh mẽ mà vẫn giữ phần mềm mại. Chữ đứng đầu là tri, biết, nên câu không bảo bỏ qua phần mạnh mà bảo biết rõ nó rồi mới giữ phần mềm. Ba cặp đối của chương đều theo khuôn ấy và đều kết bằng một chữ trở về, lần cuối là trở về khúc gỗ chưa đẽo.
Phục quy ư phác nghĩa là gì
Là trở về với khúc gỗ chưa đẽo, câu ở chương 28. Phác chưa cưa chưa đẽo nên còn thành được bất cứ thứ gì, đẽo thành đồ dùng rồi thì vĩnh viễn chỉ còn là món đồ ấy. Chương 32 nói tiếp: cái chưa có tên thì thiên hạ không ai bắt nó làm tôi được.
Tri nhân giả trí tự tri giả minh nghĩa là gì
Câu mở chương 33, nghĩa là biết người là khôn còn tự biết mình mới là sáng. Trí là cái khôn hướng ra ngoài dùng để đo người khác, và trong sách này chữ trí luôn có phần dè chừng. Minh là cái sáng hướng vào trong, đã được chương 16 định nghĩa là biết được lẽ thường hằng. Hai vế khác nhau về hướng chứ không hơn kém về mức độ.
Tự thắng giả cường có mâu thuẫn với chỗ Đạo Đức Kinh chê chữ cường không
Có, và các nhà chú giải trả lời không giống nhau. Một lối cho rằng chữ cường ở chương 33 mang nghĩa bền chắc bên trong nên khác hướng với cái cường cậy sức bị chê ở chương 30 và chương 42. Một lối cho rằng chương này nói phép giữ mình nên cường chỉ sức tự chế ngự. Một lối của dòng văn bản học cho rằng chương 33 gồm những mệnh đề kiểu cách ngôn, có thể lưu hành riêng trước khi nhập vào sách.
Tương dục hấp chi tất cố trương chi có phải dạy mưu mẹo không
Có hai lối đọc và không lối nào bác được lối kia bằng mặt chữ. Đọc chữ cố theo nghĩa vốn đã thì bốn vế mô tả quy luật: cái sắp co thì trước đó đã giương hết cỡ. Đọc chữ cố thông với chữ cô nghĩa là hãy tạm thì bốn vế thành lời chỉ dẫn, và Hàn Phi Tử trong thiên Dụ Lão đã dẫn theo hướng ấy. Câu ngay sau là mềm yếu thắng cứng mạnh, một mệnh đề về quy luật, còn hai câu cuối chương lại nghiêng về việc nước.