VẠN ĐẠO ĐƯỜNG萬道堂EnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đạo Đức Kinh Chương 37 Tới 45: Nguyên Văn, Phiên Âm, Dịch Nghĩa Và Giải Nghĩa Từng Câu

道德經 · Lão Tử, Ngũ Thiên Ngôn

Chín chương bắc qua chỗ chuyển của cả bộ sách: chương 37 khép lại phần Đạo Kinh, chương 38 mở phần Đức Kinh bằng chuỗi tụt dốc từ đức xuống lễ, rồi chương 42 dựng nên vũ trụ luận.

Thuộc đạo
Đạo Giáo
Niên đại
Định hình quãng thế kỷ 4 tới 3 trước Công nguyên
Bản xưa nhất là thẻ tre Quách Điếm, khai quật năm 1993
Độ dài
81 chương, khoảng 5.000 chữ
Trang này gồm chương cuối phần Đạo Kinh và tám chương đầu phần Đức Kinh
Thường tụng khi
Đọc để hiểu, không thuộc loại kinh tụng theo nghi lễ

Mạch Của Chín Chương Này

Chín chương trước khép lại loạt chương bàn về giữ mình và trị nước theo lẽ tự nhiên. Chín chương trên trang này làm việc quan trọng nhất về bố cục của cả bộ sách: chúng bắc qua chỗ chuyển giữa hai phần. Chương 37 là chương cuối cùng của phần Đạo Kinh, gồm các chương 1 tới 37. Chương 38 là chương mở đầu của phần Đức Kinh, gồm các chương 38 tới 81. Tên gọi Đạo Đức Kinh chính là ghép tên hai phần ấy.

Quý vị nên biết một điều mà sách in thông thường ít nói rõ: thứ tự hai phần từng khác với bản thông hành. Hai bản lụa khai quật ở Mã Vương Đôi năm 1973 đều xếp phần Đức trước, phần Đạo sau, nên theo bản ấy sách phải mang tên Đức Đạo Kinh, và chương mà hôm nay gọi là chương 38 chính là chương mở sách. Có chứng cứ sớm hơn nữa: thiên Giải Lão trong Hàn Phi Tử, bản chú giải xưa nhất còn giữ được, cũng bắt đầu bằng chương 38 chứ không phải chương 1.

Đọc rời thì chương 37 chỉ là đoạn ngắn về vua giữ phép vô vi, còn chương 38 là bài luận khô về đức, nhân, nghĩa, lễ. Đọc liền mạch mới thấy hai chương dính nhau như hai mặt một tờ giấy. Chương 37 nói làm được tới đâu khi còn thuận theo Đạo: không làm mà không việc nào không thành, dân tự chuyển hóa, thiên hạ tự yên. Chương 38 nói ngay chuyện gì xảy ra khi Đạo đã mất: phải hạ xuống đức, rồi nhân, rồi nghĩa, rồi lễ, và tới lễ thì đã phải xắn tay áo lôi nhau.

Chuỗi chín chương còn một trục thứ hai, trục gốc và chỗ trở về. Chương 39 nói mọi thứ đứng vững nhờ đạt cái một, chương 40 nói quay trở lại là cái động của Đạo, chương 42 lật ngược chiều ấy để đi xuôi, rồi ba chương cuối kéo tất cả về đời sống thường.

Chương 37: Vi Chính

Chương 37, chương cuối cùng của phần Đạo Kinh. Nổi tiếng vì câu vô vi nhi vô bất vi.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1道常無為而無不為。Đạo thường vô vi nhi vô bất vi.Đạo vốn không làm gì, mà không việc nào không nhờ đó mà thành.
2侯王若能守之,Hầu vương nhược năng thủ chi,Bậc hầu vương nếu giữ được điều ấy,
3萬物將自化。vạn vật tương tự hóa.muôn vật sẽ tự chuyển hóa lấy.
4化而欲作,Hóa nhi dục tác,Chuyển hóa rồi mà lòng ham muốn nổi lên,
5吾將鎮之以無名之樸。ngô tương trấn chi dĩ vô danh chi phác.ta sẽ lấy khúc gỗ chưa đẽo không tên mà đè cho yên.
6無名之樸,夫亦將無欲。Vô danh chi phác, phù diệc tương vô dục.Khúc gỗ chưa đẽo không tên ấy khiến người ta cũng thôi ham muốn.
7不欲以靜,Bất dục dĩ tĩnh,Thôi ham muốn thì lòng lặng,
8天下將自定。thiên hạ tương tự định.thiên hạ sẽ tự yên.
道常無為而無不為
Đạo thường vô vi nhi vô bất vi

Bảy chữ này là câu kết của cả phần Đạo Kinh. Chữ thường 常 vốn là chữ hằng 恆, bản thông hành đổi vì kiêng húy Hán Văn Đế tên Lưu Hằng.

Vế sau có hai lối hiểu cùng đứng vững: không việc gì là không làm được, nói về năng lực, hoặc không việc nào lại không nhờ đó mà thành, nói về hiệu quả. Trang này theo lối thứ hai vì khớp với chương 34 và 51.

Phải ghi thẳng một chỗ văn bản rất nặng: bốn chữ 而無不為 không có trong hai bản cổ nhất. Thẻ tre Quách Điếm chép 道恆亡為也, đạo hằng vô vi, hết câu. Bạch thư Mã Vương Đôi chép 道恆無名, đạo hằng vô danh. Cụm vô vi nhi vô bất vi vẫn có ở chương 48 nên chắc chắn thuộc về sách, nhưng chỗ đứng của nó tại chương 37 là do truyền bản về sau.

吾將鎮之以無名之樸
Ngô tương trấn chi dĩ vô danh chi phác

Chữ trấn 鎮 nghĩa gốc là lấy vật nặng đè cho khỏi động, như cái trấn giấy, không mang nghĩa đàn áp. Vật nặng ấy là khúc gỗ chưa đẽo chưa có tên, chữ phác 樸 đã gặp ở chương 15, 28 và được gọi thẳng ở chương 32.

Buông cho muôn vật tự chuyển hóa thì tốt, nhưng trong khi chuyển hóa thì lòng ham muốn nổi lên. Cách xử lý không phải cấm từng cái muốn, mà đặt lại cái mộc mạc không tên làm nền để cái muốn không còn chỗ bám.

Chương 38: Luận Đức

Chương 38, chương mở đầu phần Đức Kinh. Chương dài nhất và nặng nhất trong chín chương này, cũng là chương mà Hàn Phi Tử lấy làm chương đầu khi chú giải.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1上德不德,是以有德;Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức;Bậc đức cao không ra vẻ có đức, nhờ vậy mà thật có đức;
2下德不失德,是以無德。hạ đức bất thất đức, thị dĩ vô đức.bậc đức thấp giữ khư khư cho khỏi mất đức, nên hóa ra không có đức.
3上德無為而無以為;Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi;Bậc đức cao không làm, mà cũng không có chỗ nhằm nào để mà làm;
4下德為之而有以為。hạ đức vi chi nhi hữu dĩ vi.bậc đức thấp có làm, và làm vì có chỗ nhằm.
5上仁為之而無以為;Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ vi;Bậc nhân cao có làm, nhưng không vì chỗ nhằm nào;
6上義為之而有以為。thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi.bậc nghĩa cao có làm, và làm vì có chỗ nhằm.
7上禮為之而莫之應,Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng,Bậc lễ cao có làm mà không ai đáp lại,
8則攘臂而扔之。tắc nhương tý nhi nhưng chi.bèn xắn tay áo mà lôi người ta theo.
9故失道而後德,失德而後仁,Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân,Cho nên mất Đạo rồi mới tới đức, mất đức rồi mới tới nhân,
10失仁而後義,失義而後禮。thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ.mất nhân rồi mới tới nghĩa, mất nghĩa rồi mới tới lễ.
11夫禮者,忠信之薄,而亂之首。Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ.Lễ là chỗ lòng trung và lòng tín đã mỏng đi, và là đầu mối của loạn.
12前識者,道之華,而愚之始。Tiền thức giả, đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy.Cái biết trước là bông hoa của Đạo, và là khởi đầu của ngu muội.
13是以大丈夫處其厚,不居其薄;Thị dĩ đại trượng phu xử kỳ hậu, bất cư kỳ bạc;Cho nên bậc đại trượng phu ở chỗ dày, không ở chỗ mỏng;
14處其實,不居其華。xử kỳ thực, bất cư kỳ hoa.ở chỗ quả, không ở chỗ hoa.
15故去彼取此。Cố khứ bỉ thủ thử.Nên bỏ cái kia mà lấy cái này.
上德不德,是以有德
Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức

Chữ đức 德 xuất hiện ba lần với hai chức năng: lần thứ hai là động từ, nghĩa là coi mình có đức, bày cái đức của mình ra. Hiểu vậy thì câu hết tối. Người đức cao không tự thấy mình có đức nên đức còn nguyên; người đức thấp lúc nào cũng canh chừng cho khỏi mất đức, mà chính cái canh chừng ấy đã biến đức thành món tài sản phải giữ.

Chữ đức ở sách này không trùng chữ đức của Nho gia. Ở đây đức là phần Đạo hiện ra nơi từng vật, chứ không phải phẩm hạnh do rèn luyện. Chương 51 nói thẳng: Đạo sinh ra, đức nuôi nấng.

上德無為而無以為
Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi

Đây là chỗ khó nhất chương, và các nhà chú giải hiểu khác nhau ở chữ 以. Lối thứ nhất đọc dĩ vi là có chỗ nhằm mà làm, nên vô dĩ vi là làm mà không nhắm kết quả nào cho riêng mình; trang này theo lối ấy. Lối thứ hai đọc dĩ là cố ý. Lối thứ ba, gắn với Hàn Phi Tử, đọc theo hướng lòng người không bị bên ngoài dắt đi.

Một điểm văn bản phải ghi thẳng: bản bạch thư Mã Vương Đôi không có vế 下德為之而有以為, mà đi liền từ thượng đức sang thượng nhân, nên chỉ còn một bậc đức và ba bậc nhân, nghĩa, lễ. Lại có bản thông hành khác chép hạ đức vô vi nhi hữu dĩ vi. Ba mặt chữ cùng tồn tại, chưa bản nào dứt điểm.

失道而後德,失德而後仁,失仁而後義,失義而後禮
Thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ

Đây là chuỗi tụt dốc nổi tiếng nhất của sách, và là lý do chương 38 được chọn làm chương mở phần Đức Kinh. Năm bậc xếp từ cao xuống thấp: Đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ, mỗi bậc dưới là thứ phải dùng tới khi bậc trên đã hỏng.

Tiêu chí phân bậc là mức phải ra tay và mức đòi người khác đáp lại. Đức cao thì không làm gì. Nhân thì có làm mà không nhằm. Nghĩa thì có làm và có nhằm. Tới lễ thì còn đòi bên kia đáp lễ, không đáp thì xắn tay áo mà lôi, hình ảnh cố ý thô để tả nghi thức phải cưỡng bức mới giữ được.

Câu lễ là chỗ lòng trung tín đã mỏng, và là đầu mối của loạn là câu nặng nhất sách nói về Nho gia. Nhưng phải đọc đúng mức: sách không bảo bỏ lễ, nó bảo việc phải cậy vào lễ là dấu hiệu lòng người đã mỏng.

前識者,道之華,而愚之始
Tiền thức giả, đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy

Chữ tiền thức 前識 được hiểu hai hướng. Hàn Phi Tử trong Giải Lão đọc là biết trước, liệu việc chưa tới; hướng kia đọc là cái biết có sẵn, tức khuôn phân loại mang sẵn khi nhìn sự vật. Cả hai dẫn tới cùng kết luận: thứ ấy chỉ là hoa chứ không phải quả. Cặp hậu 厚 dày và bạc 薄 mỏng ở hai câu kết chính là chữ bạc trong trung tín chi bạc phía trên, nên đó là kết luận rút thẳng từ lập luận vừa rồi.

Chương 39: Pháp Bản

Chương 39, phần Đức Kinh. Chương dài, dựng cả một hệ thống quanh chữ nhất.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1昔之得一者:Tích chi đắc nhất giả:Những cái xưa nay đạt được cái một:
2天得一以清;Thiên đắc nhất dĩ thanh;trời được cái một nên trong;
3地得一以寧;địa đắc nhất dĩ ninh;đất được cái một nên yên;
4神得一以靈;thần đắc nhất dĩ linh;thần được cái một nên thiêng;
5谷得一以盈;cốc đắc nhất dĩ doanh;hang được cái một nên đầy;
6萬物得一以生;vạn vật đắc nhất dĩ sinh;muôn vật được cái một nên sống;
7侯王得一以為天下貞。hầu vương đắc nhất dĩ vi thiên hạ trinh.hầu vương được cái một nên làm chuẩn mực cho thiên hạ.
8其致之。Kỳ trí chi.Nay nói cho tới cùng lẽ ấy.
9天無以清,將恐裂;Thiên vô dĩ thanh, tương khủng liệt;Trời không còn giữ được cái trong, e sẽ nứt vỡ;
10地無以寧,將恐發;địa vô dĩ ninh, tương khủng phát;đất không còn giữ được cái yên, e sẽ rung chuyển;
11神無以靈,將恐歇;thần vô dĩ linh, tương khủng hiết;thần không còn giữ được cái thiêng, e sẽ tắt;
12谷無以盈,將恐竭;cốc vô dĩ doanh, tương khủng kiệt;hang không còn giữ được cái đầy, e sẽ cạn;
13萬物無以生,將恐滅;vạn vật vô dĩ sinh, tương khủng diệt;muôn vật không còn giữ được cái sống, e sẽ tuyệt;
14侯王無以貴高,將恐蹶。hầu vương vô dĩ quý cao, tương khủng quyết.hầu vương không còn giữ được chỗ tôn quý, e sẽ ngã.
15故貴以賤為本,高以下為基。Cố quý dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ.Cho nên sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền.
16是以侯王自謂孤、寡、不穀。Thị dĩ hầu vương tự vị cô, quả, bất cốc.Vì thế hầu vương tự xưng là kẻ côi cút, kẻ ít đức, kẻ không lành.
17此非以賤為本邪?非乎?Thử phi dĩ tiện vi bản da? Phi hồ?Thế chẳng phải là lấy hèn làm gốc sao? Chẳng phải vậy sao?
18故致數輿無輿。Cố trí sổ dư vô dư.Cho nên đếm cho hết từng bộ phận của cỗ xe thì chẳng còn cỗ xe nào.
19不欲琭琭如玉,珞珞如石。Bất dục lục lục như ngọc, lạc lạc như thạch.Không muốn lóng lánh như ngọc, cũng không muốn lổn nhổn như đá.
昔之得一者
Tích chi đắc nhất giả

Chữ nhất 一 nối thẳng với bão nhất ở chương 10 và đạo sinh nhất ở chương 42. Ở đây nó là cái làm cho một vật giữ được bản tính của nó; nói theo chữ chương 38 thì cái một chính là đức của vật. Sáu chủ thể xếp từ trời xuống tới hầu vương, đặt vua cùng một hàng với hang núi và cỏ cây, rồi sáu câu sau lặp lại theo chiều ngược để nói cái gì xảy ra khi mất cái một.

貴以賤為本,高以下為基
Quý dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ

Hai câu này lấy một sự thật kiến trúc làm bằng: phần cao đứng được nhờ phần thấp làm nền. Bằng chứng rất thật về mặt lịch sử là ba tiếng tự xưng của vua chư hầu thời Chu: 孤 kẻ côi, quả 寡 kẻ ít đức, bất cốc 不穀 kẻ không lành, tiếng Việt còn giữ dấu vết trong chữ quả nhân. Người tôn quý nhất tự gọi mình bằng ba chữ xấu nhất, và chương đọc thẳng đó là việc lấy cái hèn làm gốc.

故致數輿無輿
Cố trí sổ dư vô dư

Đây là chỗ chú giải chia rẽ nhất trong chương, vì mặt chữ không thống nhất. Bản thông hành chép 輿, cỗ xe: đếm hết từng bộ phận thì chẳng còn thấy cỗ xe đâu, ý nối thẳng chương 11. Nhưng một số bản chép dự 譽, tiếng khen, đọc thành gom cho nhiều tiếng khen thì rốt cuộc chẳng còn tiếng khen nào. Thư viện nêu cả hai, không chốt.

Câu chót dùng hai từ láy: lục lục 琭琭 vẻ lóng lánh của ngọc, lạc lạc 珞珞 vẻ thô cứng của đá. Chỗ đáng nhớ là sách không chọn bên nào; ai đọc vội thường tưởng câu này ca ngợi đá, đó là hiểu sót một nửa.

Chữ khó trong chương 37 tới 39.
ChữÂmNghĩa trong câu
trấnLấy vật nặng đè cho yên, không mang nghĩa đàn áp
攘臂nhương týXắn tay áo lên, tư thế sắp ra tay
nhưngKéo lôi người ta. Không đọc là nhung
trinhChuẩn mực, cái giữ cho ngay
不穀bất cốcKẻ không lành, một trong ba tiếng vua tự xưng

Chương 40: Khứ Dụng

Chương 40, phần Đức Kinh. Chương ngắn nhất trong cả tám mươi mốt chương, vỏn vẹn hai mươi mốt chữ, mà chứa hai câu được trích nhiều nhất sách.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1反者道之動;Phản giả đạo chi động;Quay trở lại là cái động của Đạo;
2弱者道之用。nhược giả đạo chi dụng.mềm yếu là cái dùng của Đạo.
3天下萬物生於有,Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu,Muôn vật trong thiên hạ sinh ra từ cái có,
4有生於無。hữu sinh ư vô.cái có sinh ra từ cái không.
反者道之動;弱者道之用
Phản giả đạo chi động; nhược giả đạo chi dụng

Chữ phản 反 mang ít nhất hai nghĩa và các nhà chú giải nhấn khác nhau. Quay về: chữ 反 thời cổ dùng thông với 返, nên câu nói về cái nhịp đã dựng ở chương 16. Trái ngược: Đạo vận hành ngược với cái người ta trông đợi, cái đầy thì sắp vơi, cái cứng thì sắp gãy. Hai nghĩa không loại nhau, nhưng người đọc nên biết mình đang cầm nghĩa nào.

Chữ nhược 弱 ở vế đối không phải yếu ớt bất lực mà là mềm, không cứng đối lại, và đó là gốc lý luận cho chương 43, 76, 78. Gộp lại: chiều đi của Đạo là quay về, cách đi của Đạo là mềm.

天下萬物生於有,有生於無
Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô

Hai câu này thường được đọc thành chuỗi ba bậc: vô sinh ra hữu, hữu sinh ra vạn vật. Vương Bật chú giải theo đúng chuỗi ấy và cả truyền thống về sau đi theo ông.

Nhưng phải ghi thẳng một dị bản đáng kể: thẻ tre Quách Điếm chép 天下之物生於有生於無, thiếu chữ hữu đứng riêng làm chủ ngữ ở vế sau. Nhiều nhà nghiên cứu đọc thành muôn vật sinh ra từ cái có, sinh ra từ cái không, tức hai vế song song chứ không nối tiếp, và như vậy thì không còn chuỗi ba bậc. Bạch thư Mã Vương Đôi chép đủ như bản thông hành. Thư viện nêu cả hai, không chốt.

Chương 41: Đồng Dị

Chương 41, phần Đức Kinh. Chương dẫn nguyên một loạt câu kiến ngôn, tức lời người xưa truyền lại.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1上士聞道,勤而行之;Thượng sĩ văn đạo, cần nhi hành chi;Kẻ sĩ hạng trên nghe Đạo thì chăm chỉ làm theo;
2中士聞道,若存若亡;trung sĩ văn đạo, nhược tồn nhược vong;kẻ sĩ hạng giữa nghe Đạo thì lúc nhớ lúc quên;
3下士聞道,大笑之。hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi.kẻ sĩ hạng dưới nghe Đạo thì cười phá lên.
4不笑不足以為道。Bất tiếu bất túc dĩ vi đạo.Không bị cười thì chưa đủ là Đạo.
5故建言有之:Cố kiến ngôn hữu chi:Cho nên lời người xưa truyền lại có câu:
6明道若昧;Minh đạo nhược muội;Đạo sáng trông như mờ tối;
7進道若退;tiến đạo nhược thoái;Đạo tiến tới trông như lùi lại;
8夷道若纇;di đạo nhược lỗi;Đạo bằng phẳng trông như gồ ghề;
9上德若谷;thượng đức nhược cốc;đức cao trông như hang trũng;
10大白若辱;đại bạch nhược nhục;rất trắng trông như vấy bẩn;
11廣德若不足;quảng đức nhược bất túc;đức rộng trông như chưa đủ;
12建德若偷;kiến đức nhược thâu;đức dựng vững trông như hờ hững;
13質真若渝;chất chân nhược du;chất thật trông như phai đổi;
14大方無隅;đại phương vô ngung;vuông lớn thì không thấy góc;
15大器晚成;đại khí vãn thành;đồ lớn thì muộn mới thành;
16大音希聲;đại âm hy thanh;tiếng lớn thì thưa tiếng;
17大象無形;đại tượng vô hình;hình lớn thì không có hình;
18道隱無名。đạo ẩn vô danh.Đạo ẩn kín, không tên.
19夫唯道,善貸且成。Phù duy đạo, thiện thải thả thành.Chỉ có Đạo là khéo cấp cho mà lại làm cho thành tựu.
不笑不足以為道
Bất tiếu bất túc dĩ vi đạo

Ba hạng sĩ được phân theo phản ứng khi nghe Đạo, không theo học vấn hay địa vị. Câu tiếp mới là chỗ sắc: nó không trách kẻ cười mà lấy tiếng cười làm bằng chứng ngược. Cần nói cho phân minh để tránh một lối lạm dụng khá phổ biến: câu này không nói hễ bị cười thì tất là đúng, nó chỉ nói một chiều rằng Đạo thì tất bị hạng dưới cười.

故建言有之
Cố kiến ngôn hữu chi

Bốn chữ này cho thấy sách đang dẫn lại lời của người khác. Chữ kiến ngôn 建言 được hiểu hai hướng: tên một sách cổ đã mất, hoặc danh từ chung nghĩa là lời người xưa truyền lại. Không còn văn bản nào để phân xử. Mười hai câu tiếp đi thành một khối rất đều, mỗi câu bốn chữ, cùng một khuôn: cái thật ở mức cao nhất thì trông giống hệt cái trái ngược với nó.

大器晚成
Đại khí vãn thành

Bốn chữ này đã thành thành ngữ trong tiếng Việt, thường hiểu là người tài lớn thì muộn mới nên nghiệp. Nhưng đây là một trong những chỗ dị bản làm đổi nghĩa nặng nhất của cả sách.

Bản thông hành chép vãn 晚, muộn. Bạch thư Mã Vương Đôi chép miễn 免, tức đại khí miễn thành, đồ lớn thì không thành. Thẻ tre Quách Điếm chép mạn 曼, chữ mà giới nghiên cứu đọc cả hai hướng, thông với 慢 là chậm hoặc thông với 無 là không. Nghĩa không thành hợp mạch hơn, vì ba câu liền kề đều là phủ định. Thư viện nêu cả hai, nhưng lưu ý quý vị rằng nghĩa quen thuộc trong tiếng Việt có thể là nghĩa đến sau.

Chương 42: Đạo Hóa

Chương 42, phần Đức Kinh. Chỗ Đạo Đức Kinh chạm vào vũ trụ luận, và cũng là chỗ các nhà chú giải chia rẽ nhất.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1道生一,Đạo sinh nhất,Đạo sinh ra một,
2一生二,nhất sinh nhị,một sinh ra hai,
3二生三,nhị sinh tam,hai sinh ra ba,
4三生萬物。tam sinh vạn vật.ba sinh ra muôn vật.
5萬物負陰而抱陽,Vạn vật phụ âm nhi bão dương,Muôn vật cõng âm ở lưng mà ôm dương trước ngực,
6沖氣以為和。xung khí dĩ vi hòa.khí trống rỗng dung hòa hai bên mà làm nên sự hòa.
7人之所惡,唯孤、寡、不穀,Nhân chi sở ố, duy cô, quả, bất cốc,Điều người đời ghét nhất là côi cút, ít đức, không lành,
8而王公以為稱。nhi vương công dĩ vi xưng.thế mà vương công lại lấy đúng ba tiếng ấy làm xưng hiệu.
9故物或損之而益,或益之而損。Cố vật hoặc tổn chi nhi ích, hoặc ích chi nhi tổn.Cho nên vật có khi bớt đi lại hóa thêm, có khi thêm vào lại hóa bớt.
10人之所教,我亦教之。Nhân chi sở giáo, ngã diệc giáo chi.Điều người xưa đem dạy, ta cũng đem dạy lại.
11強梁者不得其死,Cường lương giả bất đắc kỳ tử,Kẻ cứng cỏi hung hăng không được chết lành,
12吾將以為教父。ngô tương dĩ vi giáo phụ.ta lấy câu ấy làm gốc của lời dạy.
道生一,一生二,二生三,三生萬物
Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật

Mười hai chữ này là chỗ Đạo Đức Kinh chạm vào vũ trụ luận rõ nhất, và là chỗ hai nghìn năm chú giải không ai chịu ai. Điều phải nói trước tiên: sách không nói một, hai, ba là gì, nó chỉ đếm. Mọi nội dung gán cho ba con số ấy đều là của người chú giải.

Cách thứ nhất, theo hướng khí luận. Đây là cách của Hà Thượng Công và của truyền thống Đạo Giáo về sau: một là nguyên khí chưa chia, đời sau gọi là thái cực; hai là khí ấy tách thành âm và dương; ba là âm khí, dương khí cộng thêm hòa khí sinh ra từ chỗ hai khí giao nhau. Bằng chứng nội tại nằm ngay ở câu kế, đúng ba thành phần vừa kể. Một biến thể đọc ba là tam tài trời, đất, người.

Cách thứ hai, theo Vương Bật. Ông không đọc đây là chuỗi sinh hóa vật chất. Ông hỏi ngược rằng vạn vật muôn hình mà quy về một, vậy do đâu tới được cái một ấy, rồi đáp là do ở . Với ông, đoạn này nói về quan hệ giữa cái duy nhất và cái nhiều: hễ đã nói tới cái một là đã có tên, đã có cái đếm, và từ chỗ đếm mà sinh ra muôn cái khác nhau.

Cách thứ ba, đọc con số như một phép nói. Thiên Tề Vật Luận trong Trang Tử dùng đúng lối đếm này để bàn về ngôn ngữ chứ không về vũ trụ: có cái một, rồi có lời nói về cái một, thì đã thành hai, cộng lại thành ba, cứ thế không dứt. Theo hướng này, một hai ba chỉ tả cái đà sinh sôi khi bắt đầu phân biệt và đặt tên.

Thư viện nêu ba cách và không chốt. Điều đáng giữ là chiều của câu: chương 40 nói chiều quay về, chương 42 nói chiều đi ra, hai chương đứng liền nhau chính là để đọc chung.

萬物負陰而抱陽,沖氣以為和
Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa

Đây là chỗ duy nhất trong cả tám mươi mốt chương mà hai chữ âm 陰 và dương 陽 đứng cạnh nhau thành một cặp, điều đáng nhớ vì người đời nay quen coi Đạo Đức Kinh là sách nền của thuyết âm dương. Hai chữ phụ 負 cõng ở lưng và bão 抱 ôm trước ngực vẽ một tư thế thân người rất cụ thể, hợp với nghĩa gốc của âm là sườn núi khuất nắng và dương là sườn núi có nắng.

Chữ xung 沖 là chữ khó nhất câu. Nghĩa gốc là trống, rỗng, cùng chữ với đạo xung nhi dụng chi ở chương 4 và đại doanh nhược xung ở chương 45, nên xung khí là thứ khí trống rỗng ở giữa, không nghiêng bên nào. Có nhà chú giải lại đọc xung theo nghĩa xông vào nhau, hiểu là hai khí xô nhau mà thành hòa. Trang này theo lối thứ nhất vì hợp với cách dùng chữ ấy ở những chương khác trong cùng sách.

物或損之而益,或益之而損
Vật hoặc tổn chi nhi ích, hoặc ích chi nhi tổn

Nửa sau chương đổi giọng, và bản lề nối hai nửa là ba tiếng cô, quả, bất cốc vừa gặp ở chương 39: thứ người đời ghét nhất mà vương công lấy làm xưng hiệu, tức tự bớt mình đi. Từ đó rút ra quy luật bớt đi lại hóa thêm, thêm vào lại hóa bớt. Cặp tổn 損 và ích 益 chính là tên hai quẻ trong Kinh Dịch, ở đó cũng đi thành cặp lật ngược nhau. Câu chót nhận một lời cũ làm giáo phụ 教父, chữ có hai lối đọc, gốc của lời dạy hoặc người thầy đầu tiên, đa số nghiêng về lối thứ nhất.

Chữ khó trong chương 40 tới 42.
ChữÂmNghĩa trong câu
phảnQuay trở lại, dùng thông với 返. Cũng mang nghĩa trái ngược
lỗiGồ ghề, có mấu, không phẳng
thâuHờ hững, qua loa. Ở đây không mang nghĩa trộm cắp
duPhai màu, đổi khác đi
thảiCấp cho, cho vay mà không đòi lại

Chương 43: Biến Dụng

Chương 43, phần Đức Kinh. Chương khai triển vế nhược giả đạo chi dụng của chương 40.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1天下之至柔,Thiên hạ chi chí nhu,Cái mềm nhất trong thiên hạ,
2馳騁天下之至堅。trì sính thiên hạ chi chí kiên.ruổi ngựa đi khắp cái cứng nhất trong thiên hạ.
3無有入無間,Vô hữu nhập vô gian,Cái không có hình lọt được vào chỗ không có kẽ hở,
4吾是以知無為之有益。ngô thị dĩ tri vô vi chi hữu ích.ta nhờ đó mà biết cái lợi của vô vi.
5不言之教,無為之益,Bất ngôn chi giáo, vô vi chi ích,Dạy mà không nói, lợi mà không làm,
6天下希及之。thiên hạ hy cập chi.thiên hạ ít ai theo kịp.
天下之至柔,馳騁天下之至堅
Thiên hạ chi chí nhu, trì sính thiên hạ chi chí kiên

Chữ đáng để ý nhất là trì sính 馳騁, ruổi ngựa phi nước đại, đã gặp ở chương 12 trong câu trì sính điền liệp. Dùng một chữ mạnh và nhanh như vậy cho cái mềm là cố ý: cái mềm không rón rén len lỏi, nó đi khắp như ngựa phi trong lòng cái cứng. Sách không nói rõ cái mềm nhất là gì; phần lớn nhà chú giải hiểu là nước theo chương 78, một số khác hiểu là khí, vì khí lọt vào được chỗ nước không vào nổi.

無有入無間
Vô hữu nhập vô gian

Năm chữ cô đọng tới mức gần như một câu đố, chỗ khó nằm ở hai chữ vô hữu 無有. Lối thứ nhất đọc là cái không có hình thể, thứ không chiếm chỗ nên vào được cả nơi đặc kín; lối thứ hai đọc vô và hữu như hai khái niệm của chương 40. Lối thứ nhất hợp mạch hơn vì cả chương đang nói chuyện mềm cứng rất cụ thể. Chỗ đáng nhớ là bước suy luận ở câu sau: từ một hiện tượng vật chất, sách rút thẳng ra kết luận về cách làm việc.

Chương 44: Lập Giới

Chương 44, phần Đức Kinh. Chương mở bằng ba câu hỏi, ngắn và thẳng.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1名與身孰親?Danh dữ thân thục thân?Danh tiếng với thân mình, cái nào gần hơn?
2身與貨孰多?Thân dữ hóa thục đa?Thân mình với của cải, cái nào nặng hơn?
3得與亡孰病?Đắc dữ vong thục bệnh?Được với mất, đằng nào mới là cái hại?
4甚愛必大費,Thậm ái tất đại phí,Yêu chuộng quá mức thì tất tốn kém lớn,
5多藏必厚亡。đa tàng tất hậu vong.cất giữ quá nhiều thì tất mất mát nặng.
6知足不辱,Tri túc bất nhục,Biết đủ thì không chuốc nhục,
7知止不殆,tri chỉ bất đãi,biết dừng thì không gặp nguy,
8可以長久。khả dĩ trường cửu.nhờ vậy mà được lâu dài.
名與身孰親?身與貨孰多?
Danh dữ thân thục thân? Thân dữ hóa thục đa?

Ba câu hỏi mở chương đều dùng chữ thục 孰, nghĩa là cái nào, và đều bỏ ngỏ không đáp, một lối viết hiếm trong sách vốn quen nói khẳng định. Chữ thân xuất hiện hai lần với hai mặt chữ khác nhau: thân 身 là thân mình, thân 親 là gần gũi.

Câu thứ ba sắc nhất và hay bị đọc lướt. Người đời mặc nhiên coi được là lành và mất là bệnh; câu hỏi này đặt lại cả hai lên cân, rồi ngầm trả lời bằng hai câu kế.

知足不辱,知止不殆
Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi

Hai cụm tri túc biết đủ và tri chỉ biết dừng được nhắc nhiều lần: biết đủ ở chương 33, biết dừng ở chương 32, và chương 46 sẽ nói họa mạc đại ư bất tri túc.

Điều đáng nói là cách lập luận. Sách không nói biết đủ là đức tính tốt; nó nói biết đủ thì không chuốc nhục, biết dừng thì không gặp nguy, tức đưa ra hậu quả chứ không đưa ra lời răn. Đặt đa tàng cất nhiều đối với hậu vong mất dày thì thành một cặp cân xứng: chất đống bao nhiêu thì đổ sập bấy nhiêu.

Chương 45: Hồng Đức

Chương 45, chương cuối trong phần trình bày của trang này. Nối lại khuôn nghịch ngữ của chương 41.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
1大成若缺,Đại thành nhược khuyết,Cái thành tựu lớn trông như còn sứt mẻ,
2其用不弊。kỳ dụng bất tệ.nhưng đem dùng thì không mòn.
3大盈若沖,Đại doanh nhược xung,Cái đầy lớn trông như còn trống,
4其用不窮。kỳ dụng bất cùng.nhưng đem dùng thì không cạn.
5大直若屈,Đại trực nhược khuất,Rất thẳng trông như cong,
6大巧若拙,đại xảo nhược chuyết,rất khéo trông như vụng,
7大辯若訥。đại biện nhược nột.rất giỏi nói trông như ấp úng.
8躁勝寒,靜勝熱。Táo thắng hàn, tĩnh thắng nhiệt.Động cựa thì thắng được lạnh, yên lặng thì thắng được nóng.
9清靜為天下正。Thanh tĩnh vi thiên hạ chính.Trong và lặng thì làm chuẩn cho thiên hạ.
大成若缺,其用不弊
Đại thành nhược khuyết, kỳ dụng bất tệ

Chương này lấy lại đúng khuôn mười hai câu kiến ngôn ở chương 41 nhưng thêm một vế mà chương 41 không có: vế nói về công dụng. Chữ khuyết 缺 là sứt mẻ, chữ tệ 弊 là mòn hỏng vì dùng nhiều. Lập luận nằm ở đó: thứ đã hoàn tất trọn vẹn thì từ đấy chỉ còn đường hao đi, còn thứ vẫn còn chỗ khuyết thì chưa tới đỉnh nên chưa phải đi xuống, ý khớp thẳng với chương 9 và với bất dục doanh ở chương 15.

躁勝寒,靜勝熱。清靜為天下正
Táo thắng hàn, tĩnh thắng nhiệt. Thanh tĩnh vi thiên hạ chính

Ba câu đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nột cùng một khuôn: cái đạt mức cao nhất thì mất hết dấu vết của kỹ thuật nên trông ra vụng về. Sách không bảo hãy tỏ ra vụng, tức làm bộ; nó nói cái khéo tới cùng thì tự nó không còn vẻ khéo.

Hai câu sáu chữ cuối gọn tới mức các nhà chú giải hiểu khác nhau, và mặt chữ giữa các bản cũng không thống nhất. Đọc theo bản thông hành thì rất mộc: rét thì cử động cho ấm, nóng thì ngồi yên cho mát. Nhiều nhà cho rằng vế đầu chỉ là bậc thang để bước lên vế sau, trọng tâm nằm ở tĩnh thắng nhiệt. Lại có bản chép đảo thành tĩnh thắng táo, đọc thế thì hai vế cùng ngả về phía tĩnh, mạch xuôi hơn nhưng mất thế đối. Thư viện giữ mặt chữ bản thông hành và ghi lại lối đọc kia.

Bạch thư chép câu chót thành thanh tĩnh khả dĩ vi thiên hạ chính. Hai chữ thanh tĩnh 清靜 về sau thành thuật ngữ riêng của Đạo Giáo, và là tên của Thanh Tĩnh Kinh.

Chữ khó trong chương 43 tới 45.
ChữÂmNghĩa trong câu
馳騁trì sínhRuổi ngựa phi nước đại, đi khắp không bị cản
無間vô gianChỗ không có kẽ hở, đặc khít
thụcCái nào, ai. Từ để hỏi
đãiNguy, gần chỗ hỏng
tệRách nát, mòn hỏng vì dùng lâu

拾壹Ý Chỉ Chung Của Chín Chương

  • Chương 37Câu kết của phần Đạo Kinh
    Đạo vốn không làm mà không việc nào không nhờ đó mà thành. Lấy khúc gỗ chưa đẽo mà trấn cho lòng muốn lặng, rồi thiên hạ tự yên.
  • Chương 38Chương mở phần Đức Kinh
    Bậc đức cao không ra vẻ có đức. Mất Đạo rồi mới tới đức, nhân, nghĩa, lễ. Tới lễ thì phải xắn tay áo lôi người ta.
  • Chương 39Đạt được cái một
    Trời, đất, thần, hang, muôn vật, hầu vương đều nhờ cái một mà đứng vững. Sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền.
  • Chương 40Hai mươi mốt chữ ngắn nhất sách
    Quay trở lại là cái động của Đạo, mềm yếu là cái dùng của Đạo. Muôn vật sinh từ cái có, cái có sinh từ cái không.
  • Chương 41Ba hạng sĩ và mười hai câu kiến ngôn
    Không bị cười thì chưa đủ là Đạo. Đạo sáng trông như mờ, vuông lớn không góc, tiếng lớn thưa tiếng, hình lớn không hình.
  • Chương 42Chỗ chạm vào vũ trụ luận
    Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh muôn vật. Muôn vật cõng âm ôm dương. Bớt đi lại hóa thêm, thêm vào lại hóa bớt.
  • Chương 43Cái mềm nhất đi khắp cái cứng nhất
    Cái không có hình lọt được vào chỗ không có kẽ. Dạy mà không nói, lợi mà không làm, thiên hạ ít ai theo kịp.
  • Chương 44Ba câu hỏi bỏ ngỏ
    Danh với thân, thân với của, được với mất. Cất nhiều thì mất dày. Biết đủ thì không nhục, biết dừng thì không nguy.
  • Chương 45Cái lớn trông như còn thiếu
    Thành tựu lớn trông như sứt mẻ mà dùng mãi không mòn. Rất khéo trông như vụng. Trong và lặng làm chuẩn cho thiên hạ.

Chín chương này có hai trục chồng lên nhau. Trục thứ nhất là trục bố cục: chương 37 đóng lại phần Đạo Kinh bằng cảnh thiên hạ tự yên, chương 38 mở phần Đức Kinh bằng cảnh phải lần lượt hạ xuống đức, nhân, nghĩa, lễ. Một bên là lúc còn thuận theo Đạo, một bên là lúc đã rơi khỏi Đạo, và việc đặt hai cảnh ấy sát nhau chính là ý đồ của người biên tập.

Trục thứ hai là trục ra và về. Chương 40 nói chiều về, chương 42 nói chiều ra, chương 39 đặt ở giữa để nói thứ giữ cho hai chiều ấy không tan là cái một. Ba chương cuối kéo tất cả về chỗ kiểm chứng được, và ba nhận xét của chúng là ba cách nói lại một luật duy nhất: mọi cái tới cực đều lật sang phía kia, nên chỗ chưa tới cực mới là chỗ còn dùng được.

拾貳Năm Chỗ Dễ Hiểu Lầm

Thứ tự Đạo Kinh trước, Đức Kinh sau là bất biến

Không. Hai bản lụa Mã Vương Đôi đều xếp Đức Kinh trước Đạo Kinh, nên theo bản ấy sách phải gọi là Đức Đạo Kinh. Thiên Giải Lão trong Hàn Phi Tử, bản chú giải xưa nhất còn giữ được, cũng bắt đầu từ chương 38.

Vô vi nhi vô bất vi là câu gốc của chương 37

Chưa chắc. Thẻ tre Quách Điếm chép chương này là đạo hằng vô vi, hết câu; bản bạch thư chép là đạo hằng vô danh. Bốn chữ nhi vô bất vi không có trong cả hai bản cổ, tuy vẫn có mặt ở chương 48.

Chương 38 chỉ là bài đả kích Nho gia

Không hẳn. Chương không nói nhân, nghĩa, lễ là xấu. Nó nói mỗi bậc dưới là thứ phải dùng tới khi bậc trên đã hỏng, và tiêu chí phân bậc là mức phải ra tay cùng mức đòi người khác đáp lại.

Đại khí vãn thành nghĩa là người tài lớn thì muộn mới nên

Đó là nghĩa của bản thông hành. Bản bạch thư chép đại khí miễn thành, đồ lớn thì không thành; thẻ tre Quách Điếm chép chữ mạn, đọc được cả hai hướng. Ba câu liền kề đều là phủ định nên nghĩa không thành hợp mạch hơn.

Một, hai, ba trong chương 42 đã có nghĩa xác định

Không. Chính văn chỉ đếm chứ không nói một, hai, ba là gì. Hà Thượng Công đọc theo khí luận, Vương Bật đọc theo quan hệ giữa vô và cái một, lại có hướng đọc con số như một phép nói về sự sinh sôi. Chưa cách nào được coi là dứt điểm.

Hỏi Đáp Nhanh

Đạo Đức Kinh chuyển từ Đạo Kinh sang Đức Kinh ở chương nào

Ở giữa chương 37 và chương 38. Chương 1 tới 37 là phần Đạo Kinh, chương 38 tới 81 là phần Đức Kinh, và tên sách chính là ghép tên hai phần ấy. Nhưng thứ tự này không bất biến: hai bản lụa khai quật ở Mã Vương Đôi năm 1973 đều xếp Đức Kinh trước Đạo Kinh, nên theo bản ấy sách phải gọi là Đức Đạo Kinh. Thiên Giải Lão trong Hàn Phi Tử cũng bắt đầu chú giải từ chương 38.

Thượng đức bất đức thị dĩ hữu đức nghĩa là gì

Đó là câu mở đầu chương 38 và cũng là câu mở phần Đức Kinh. Chữ đức xuất hiện ba lần với hai chức năng, lần thứ hai là động từ, nghĩa là coi mình có đức và bày cái đức ấy ra. Người đức cao không tự thấy mình có đức nên cái đức còn nguyên; người đức thấp lúc nào cũng canh chừng cho khỏi mất đức, chính cái canh chừng ấy biến đức thành món tài sản phải giữ.

Chương nào của Đạo Đức Kinh ngắn nhất

Chương 40, chỉ hai mươi mốt chữ Hán, gồm bốn vế: phản giả đạo chi động, nhược giả đạo chi dụng, thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô. Ngắn nhưng chứa hai câu được trích nhiều nhất sách, và là cái khung mà mọi bàn luận về hữu với vô ở Trung Hoa từ đời Ngụy Tấn trở đi đều dựa vào.

Đạo sinh nhất nhất sinh nhị nhị sinh tam nghĩa là gì

Đó là chương 42, chỗ Đạo Đức Kinh chạm vào vũ trụ luận. Chính văn chỉ đếm chứ không nói một, hai, ba là gì, nên các nhà chú giải hiểu rất khác nhau. Hà Thượng Công đọc một là nguyên khí chưa chia, hai là âm với dương, ba là âm khí dương khí cộng hòa khí. Vương Bật đọc đây là quan hệ giữa cái duy nhất với cái nhiều chứ không phải bốn giai đoạn nối nhau. Lại có hướng đọc con số như một phép nói về sự sinh sôi khi bắt đầu phân biệt và đặt tên.

Vạn vật phụ âm nhi bão dương nghĩa là gì

Là câu trong chương 42, nghĩa là muôn vật cõng âm ở lưng mà ôm dương trước ngực. Nghĩa gốc của âm là sườn núi khuất nắng, dương là sườn núi có nắng, nên hình ảnh tả một tư thế thân người rất cụ thể. Đây là chỗ duy nhất trong cả tám mươi mốt chương mà hai chữ âm và dương đứng cạnh nhau thành một cặp.

Đọc Tiếp