壹Mạch Của Chín Chương Này
Chín chương trước, từ 46 tới 54, nói về cái đủ và về cái đức gây dựng từ trong thân rồi lan ra nhà, ra làng, ra nước. Chín chương từ 55 tới 63, vẫn thuộc phần Đức Kinh, quay sang việc khác: chúng đứng ngay ở chỗ giáp ranh của các cặp đối rồi nhìn cách một việc chuyển sang mặt trái của chính nó. Chương 56 đặt cái biết cạnh cái nói, chương 58 đặt họa cạnh phúc, chương 63 đặt việc lớn cạnh việc nhỏ. Đây là chuỗi chương bàn nhiều nhất trong cả sách về lúc một thứ lật mặt.
Đọc rời, chương 58 dễ tụt xuống thành câu an ủi kiểu trong rủi có may, chương 60 thành lời ví von vui về bếp núc, chương 63 thành lời khuyên làm việc nhỏ trước. Đọc liền mạch thì thấy một chuỗi lập luận: mọi đường ranh mà người ta tưởng là chắc đều mỏng, cho nên cái chuẩn để phân định không nằm ở đâu cố định cả, và phép rút ra không phải là chọn đúng bên, mà là không khuấy động.
貳Chương 55: Huyền Phù
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 含德之厚,比於赤子。 | Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử. | Người ngậm đức cho dày thì sánh được với đứa trẻ mới lọt lòng. |
| 2 | 蜂蠆虺蛇不螫,猛獸不據,攫鳥不搏。 | Phong sái hủy xà bất thích, mãnh thú bất cứ, quắc điểu bất bác. | Ong, bò cạp, rắn độc không chích nó; thú dữ không vồ nó; chim quắp mồi không cắp nó. |
| 3 | 骨弱筋柔而握固。 | Cốt nhược cân nhu nhi ác cố. | Xương mềm gân yếu mà bàn tay nắm lại rất chặt. |
| 4 | 未知牝牡之合而全作,精之至也。 | Vị tri tẫn mẫu chi hợp nhi toàn tác, tinh chi chí dã. | Chưa biết chuyện đực cái hợp nhau mà thân thể vẫn dấy lên đầy đủ, ấy là tinh khí đã tới mức cùng. |
| 5 | 終日號而不嗄,和之至也。 | Chung nhật hào nhi bất sá, hòa chi chí dã. | Gào khóc suốt ngày mà giọng không khản, ấy là khí hòa đã tới mức cùng. |
| 6 | 知和曰常,知常曰明。 | Tri hòa viết thường, tri thường viết minh. | Biết cái hòa ấy gọi là biết lẽ thường hằng, biết lẽ thường hằng gọi là sáng. |
| 7 | 益生曰祥。 | Ích sinh viết tường. | Cố bồi thêm vào cái sống thì gọi là điềm gở. |
| 8 | 心使氣曰強。 | Tâm sử khí viết cường. | Lấy lòng muốn mà sai khiến khí thì gọi là ép cho mạnh. |
| 9 | 物壯則老,謂之不道,不道早已。 | Vật tráng tắc lão, vị chi bất đạo, bất đạo tảo dĩ. | Vật đã cứng mạnh thì liền già đi, thế gọi là trái Đạo, mà trái Đạo thì sớm dứt. |
Xích tử 赤子 nghĩa đen là đứa đỏ, đứa bé vừa lọt lòng. Chương chọn hình ảnh ấy không phải để khen sự ngây thơ, mà vì hài nhi là mẫu vật gần nhất của trạng thái khí chưa bị chia: nó chưa có ý tách khỏi vật, nên vật cũng chưa tách ra chống lại nó. Hai vế sau đều kết bằng chữ chí 至: cái đầy không đến từ việc thêm vào, mà đến từ việc chưa hao.
Chương có hai chỗ khác bản. Vương Bật chép 蜂蠆虺蛇不螫, Hà Thượng Công chép 毒蟲不螫. Vương Bật chép 全作; bản Phó Dịch và mạch bạch thư chép 朘作, chữ 朘 chỉ bộ phận sinh dục bé trai.
Hai câu này dễ đọc ngược nghĩa vì tường 祥 và cường 強 nghe như lời khen. Chữ 祥 nghĩa gốc là điềm, lành dữ đều gọi được; đặt cạnh câu kết chương, nó chỉ điềm gở. Ích sinh là cố bồi thêm vào cái sống, tâm sử khí là lấy lòng muốn sai khiến khí; cả hai đều là thêm vào, và chương gọi thêm vào là hỏng.
Câu kết vật tráng tắc lão đã có nguyên văn ở chương 30: độ cứng mạnh không phải là đỉnh mà là chỗ bắt đầu đi xuống.
參Chương 56: Huyền Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 知者不言,言者不知。 | Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri. | Người biết thì không nói, người nói thì không biết. |
| 2 | 塞其兌,閉其門, | Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn, | Bịt lỗ hổng của mình, đóng cửa ngõ của mình, |
| 3 | 挫其銳,解其分, | tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân, | làm nhụt chỗ sắc nhọn của mình, gỡ chỗ rối buộc của mình, |
| 4 | 和其光,同其塵, | hòa kỳ quang, đồng kỳ trần, | hòa ánh sáng của mình vào ánh sáng chung, lẫn mình vào bụi bặm đời thường, |
| 5 | 是謂玄同。 | thị vị huyền đồng. | đó gọi là huyền đồng. |
| 6 | 故不可得而親,不可得而疏; | Cố bất khả đắc nhi thân, bất khả đắc nhi sơ; | Cho nên không ai níu lại được mà thân, cũng không ai đẩy ra được mà xa; |
| 7 | 不可得而利,不可得而害; | bất khả đắc nhi lợi, bất khả đắc nhi hại; | không ai lấy gì làm lợi cho được, cũng không ai lấy gì làm hại được; |
| 8 | 不可得而貴,不可得而賤。 | bất khả đắc nhi quý, bất khả đắc nhi tiện. | không ai đưa lên cho sang được, cũng không ai dìm xuống cho hèn được. |
| 9 | 故為天下貴。 | Cố vi thiên hạ quý. | Vì thế mới là cái quý của thiên hạ. |
Điều phải nói trước tiên: chữ tri 知 ở đây không phải tri thức nhiều hay ít, không đo bằng số sách đã đọc. Nó chỉ cái biết về Đạo, thứ mà chương 1 đã rào trước: đạo khả đạo, phi thường đạo. Cái gì nói ra được thì đã bị cắt gọt cho vừa lời nói, nên không còn là nó nữa.
Vậy người đã biết theo nghĩa ấy thì không cậy vào lời. Câu này không đặt ra điều lệ về sự im lặng: chương 81 còn nhắc tri giả bất bác, bác giả bất tri.
Đoài 兌 ở đây không phải quẻ Đoài của Kinh Dịch, mà là chữ chỉ lỗ hổng, khiếu thông ra ngoài; các nhà chú giải xưa thường hiểu là giác quan, chỗ tâm chạy theo vật. Bốn chữ này đã có nguyên văn ở chương 52, kèm câu chung thân bất cần. Đặt lại ở đây, chúng làm việc dẫn đường: muốn tới huyền đồng thì trước hết phải thôi để mình bị rút ra ngoài theo từng cái nhìn cái nghe.
Bốn câu này cũng có nguyên văn ở chương 4, nơi chúng nói về chính Đạo; ở đây chúng nói về người. Hòa kỳ quang không phải tắt ánh sáng, mà để ánh sáng của mình lẫn vào ánh sáng chung; đồng kỳ trần là ở lẫn trong bụi bặm đời thường.
Câu thứ hai khác bản: Vương Bật chép 解其分, chữ 分 là chỗ chia tách; Hà Thượng Công và phần lớn bản thông hành đời sau chép 解其紛, chữ 紛 là rối bời.
Chữ huyền 玄 đã dùng ở chương 1 trong cụm huyền chi hựu huyền: nó nghĩa là sâu tối, nhìn không thấy đáy, không phải huyền bí theo nghĩa thần thông. Chữ đồng 同 là cùng một. Ghép lại, huyền đồng là cái cùng một ở tầng sâu, nơi các phân biệt chưa kịp mọc ra.
Nó không phải sự hòa tan làm mất mình, cũng không phải thái độ ba phải. Bằng chứng là sáu câu tiếp theo, đi thành ba cặp: thân và sơ, lợi và hại, quý và tiện. Người ở tầng chưa chia thì không có chỗ cho ai cầm.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 蠆 | sái | Con bò cạp |
| 虺 | hủy | Một loài rắn nhỏ có nọc độc |
| 嗄 | sá | Khản giọng, tắt tiếng vì gào nhiều |
肆Chương 57: Thuần Phong
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 以正治國,以奇用兵,以無事取天下。 | Dĩ chính trị quốc, dĩ kỳ dụng binh, dĩ vô sự thủ thiên hạ. | Lấy cái ngay thẳng mà trị nước, lấy cái bất ngờ mà dùng binh, lấy cái không bày việc mà được thiên hạ. |
| 2 | 吾何以知其然哉?以此。 | Ngô hà dĩ tri kỳ nhiên tai? Dĩ thử. | Ta lấy gì mà biết là như vậy? Lấy những điều sau đây. |
| 3 | 天下多忌諱,而民彌貧;民多利器,國家滋昏; | Thiên hạ đa kỵ húy, nhi dân di bần; dân đa lợi khí, quốc gia tư hôn; | Thiên hạ càng lắm điều cấm kỵ, dân càng nghèo; dân càng nhiều đồ sắc bén, nước nhà càng tối tăm; |
| 4 | 人多伎巧,奇物滋起;法令滋彰,盜賊多有。 | nhân đa kỹ xảo, kỳ vật tư khởi; pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu. | người càng lắm mẹo khéo, vật quái lạ càng nổi lên; pháp lệnh càng bày ra chi li, trộm cướp càng nhiều. |
| 5 | 故聖人云:我無為,而民自化; | Cố thánh nhân vân: Ngã vô vi, nhi dân tự hóa; | Cho nên bậc thánh nhân nói: ta không bày việc thì dân tự chuyển hóa; |
| 6 | 我好靜,而民自正; | ngã hiếu tĩnh, nhi dân tự chính; | ta chuộng tĩnh thì dân tự ngay; |
| 7 | 我無事,而民自富; | ngã vô sự, nhi dân tự phú; | ta không sinh sự thì dân tự giàu; |
| 8 | 我無欲,而民自樸。 | ngã vô dục, nhi dân tự phác. | ta không ham muốn thì dân tự mộc mạc. |
Chính 正 là ngay, thẳng, chính diện; kỳ 奇 là lệch, lẻ, ra ngoài lối thường. Cặp này là cặp quen của binh gia, Tôn Tử binh pháp nói dĩ chính hợp, dĩ kỳ thắng. Chương nói hai việc khác nhau thì dùng hai phép khác nhau, và người đem phép của việc binh vào việc trị nước là người dùng mẹo với chính dân mình. Câu thứ ba mới là câu chốt: trên cả hai phép ấy còn vô sự. Ghi thêm: bạch thư Mã Vương Đôi chép 邦 chỗ bản thông hành chép 國, vì kiêng tên húy Lưu Bang.
Bốn cặp ở giữa chương theo một khuôn: càng thêm cái này thì càng sinh ra cái ngược lại. Cặp pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu hay bị hiểu lệch nhất: chương không chống việc có pháp luật, nó nói về một cái vòng, luật càng viết dày thì càng nhiều hành vi bị đặt tên là phạm và càng nhiều kẽ để lách.
Bốn câu kết dựng bằng bốn chữ tự 自. Chủ ngữ vế trước là ngã 我, người ở trên, không phải dân; nên đây là chuyện người cầm quyền rút tay lại, không phải lời khuyên dân buông xuôi.
伍Chương 58: Thuận Hóa
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 其政悶悶,其民淳淳; | Kỳ chính muộn muộn, kỳ dân thuần thuần; | Chính sự mà lờ mờ rộng rãi thì dân thuần hậu chất phác; |
| 2 | 其政察察,其民缺缺。 | kỳ chính sát sát, kỳ dân khuyết khuyết. | chính sự mà soi xét từng li thì dân sứt mẻ gian giảo. |
| 3 | 禍兮福之所倚, | Họa hề phúc chi sở ỷ, | Họa là chỗ mà phúc dựa vào, |
| 4 | 福兮禍之所伏。 | phúc hề họa chi sở phục. | phúc là chỗ mà họa nằm núp sẵn bên trong. |
| 5 | 孰知其極?其無正。 | Thục tri kỳ cực? Kỳ vô chính. | Ai biết được chỗ cùng của nó? Nó vốn không có một cái chuẩn cố định. |
| 6 | 正復為奇,善復為妖。 | Chính phục vi kỳ, thiện phục vi yêu. | Cái ngay rồi lại hóa ra cái lệch, cái lành rồi lại hóa ra cái quái. |
| 7 | 人之迷,其日固久。 | Nhân chi mê, kỳ nhật cố cửu. | Người đời mê chỗ ấy đã lâu ngày lắm rồi. |
| 8 | 是以聖人方而不割,廉而不劌, | Thị dĩ thánh nhân phương nhi bất cát, liêm nhi bất quế, | Cho nên bậc thánh nhân vuông vức mà không cắt ai, có cạnh sắc mà không làm ai đứt tay, |
| 9 | 直而不肆,光而不燿。 | trực nhi bất tứ, quang nhi bất diệu. | ngay thẳng mà không buông tuồng, sáng mà không chói lòa. |
Bốn câu mở đầu dùng bốn chữ điệp, đi thành hai cặp đối. Muộn muộn 悶悶 là mờ tối, không rành rẽ, chỉ lối cai trị không xét nét; sát sát 察察 là soi từng chút. Thuần thuần 淳淳 là chất phác, không có mánh; khuyết khuyết 缺缺 nghĩa gốc là sứt mẻ, ở đây chỉ cái nết bị vỡ.
Lập luận là một vòng phản hồi: càng soi thì càng dạy cho người ta cách né, càng né thì lại càng phải soi.
Chữ phải nhìn kỹ ở câu này là ỷ 倚. Nghĩa gốc của nó là dựa vào, tựa lưng vào, như người tựa vào tường. Nó chỉ một quan hệ đứng cạnh nhau và thấy được: cái này đứng được là nhờ có cái kia đỡ.
Vậy phúc không tự đứng một mình, nó phải tựa vào một cái họa nào đó mới thành hình: chỗ mất mùa làm nên giá trị của mùa được. Đây là câu hay được dẫn kèm chuyện Tái Ông mất ngựa trong Hoài Nam Tử, nhưng chuyện ấy chỉ minh họa được một nửa ý.
Chữ phục 伏 khác hẳn chữ 倚 ở câu trên và không được dịch gộp hai chữ ấy thành một. Nghĩa gốc của nó là nằm rạp xuống, nằm phục, nấp. Nó chỉ một quan hệ nằm sẵn bên trong và chưa thấy được: cái họa không đứng cạnh cái phúc, nó nằm ngay trong ruột cái phúc mà đợi.
Ghép hai câu mới ra đủ thế: nhìn từ phía họa thì thấy phúc đang dựa vào đó mà đứng; nhìn từ phía phúc thì không thấy gì, vì họa đang núp. Vế sau nặng hơn vế trước: nó không an ủi, nó cảnh báo.
Cực 極 là chỗ tận cùng; câu hỏi là câu hỏi tu từ, vì cái vòng họa phúc không có điểm dừng để mà đo. Ba chữ sau là chỗ các bản không thống nhất: Vương Bật chép 其無正, đọc như câu khẳng định, nó không có chuẩn cố định; một số bản chép 其無正邪, thêm trợ từ nghi vấn nên phải đọc thành câu hỏi; lại có nhà đọc 正 theo nghĩa định.
Bốn câu cuối rút ra cách ứng xử, cả bốn theo khuôn có mà không dùng hết: vuông mà không cắt ai, có cạnh mà không làm ai đứt tay, thẳng mà không buông tuồng, sáng mà không chói.
陸Chương 59: Thủ Đạo
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 治人事天,莫若嗇。 | Trị nhân sự thiên, mạc nhược sắc. | Trị người và thờ trời, không gì bằng dè sẻn. |
| 2 | 夫唯嗇,是謂早服; | Phù duy sắc, thị vị tảo phục; | Chỉ có dè sẻn mới gọi là sớm quay về; |
| 3 | 早服謂之重積德; | tảo phục vị chi trùng tích đức; | sớm quay về gọi là chồng chất cái đức; |
| 4 | 重積德則無不克; | trùng tích đức tắc vô bất khắc; | chồng chất cái đức thì không gì là không vượt được; |
| 5 | 無不克則莫知其極; | vô bất khắc tắc mạc tri kỳ cực; | không gì không vượt được thì không ai lường nổi chỗ cùng của mình; |
| 6 | 莫知其極,可以有國; | mạc tri kỳ cực, khả dĩ hữu quốc; | không ai lường nổi chỗ cùng thì có thể giữ được nước; |
| 7 | 有國之母,可以長久; | hữu quốc chi mẫu, khả dĩ trường cửu; | nắm được cái mẹ của nước thì có thể lâu dài; |
| 8 | 是謂深根固柢,長生久視之道。 | thị vị thâm căn cố đế, trường sinh cửu thị chi đạo. | đó gọi là rễ sâu gốc chắc, là đường sống lâu và nhìn xa. |
Chữ sắc 嗇 là chữ chốt của cả chương. Nghĩa gốc gắn với việc nhà nông: gặt lúa cất vào kho, tiếc từng hạt; từ đó ra nghĩa dè, tiếc, không tiêu phí, ở đây không mang tiếng xấu. Cụm sự thiên 事天 thì các nhà hiểu khác nhau: nghi lễ thờ phụng trời, hoặc giữ gìn phần trời cho nơi thân mình.
Hai chữ tảo phục 早服 ở câu sau là chỗ cãi nhau nhiều nhất chương. Một, đọc 服 là phục tùng, sớm theo về với Đạo. Hai, cho 服 là giả tá của 復, sớm trở về gốc. Ba, Hàn Phi Tử trong thiên Giải Lão đọc là sớm bắt tay vào việc theo Đạo.
Căn 根 và đế 柢 là hai loại rễ khác nhau chứ không phải một chữ nói hai lần: 根 là rễ bám ngang giữ cho cây khỏi đổ, 柢 là rễ cái đâm thẳng xuống. Vương Bật chép 柢, nhiều bản in đời sau chép 蒂 (cuống quả), vì hai chữ cùng âm.
Cửu thị 久視 nghĩa đen là nhìn được lâu, tức mắt còn sáng. Ghép với trường sinh thành cụm nói về việc sống bền, không nói về việc không chết; văn bản chỉ nói tới rễ sâu gốc chắc.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 彌 | di | Càng thêm, càng nhiều. Chữ 滋 trong chương cũng nghĩa ấy |
| 劌 | quế | Cứa đứt, làm người khác bị thương vì cạnh sắc |
| 燿 | diệu | Chói lòa. Nhiều bản in đời sau chép là 耀 |
柒Chương 60: Cư Vị
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 治大國, | Trị đại quốc, | Trị một nước lớn, |
| 2 | 若烹小鮮。 | nhược phanh tiểu tiên. | cũng như nấu một con cá nhỏ. |
| 3 | 以道蒞天下,其鬼不神; | Dĩ đạo lị thiên hạ, kỳ quỷ bất thần; | Lấy Đạo mà đến với thiên hạ thì quỷ không hiện oai; |
| 4 | 非其鬼不神,其神不傷人; | phi kỳ quỷ bất thần, kỳ thần bất thương nhân; | chẳng phải quỷ mất cái oai ấy, mà là cái oai ấy không hại tới người; |
| 5 | 非其神不傷人,聖人亦不傷人。 | phi kỳ thần bất thương nhân, thánh nhân diệc bất thương nhân. | chẳng phải chỉ cái oai ấy không hại người, mà bậc thánh nhân cũng không hại người. |
| 6 | 夫兩不相傷,故德交歸焉。 | Phù lưỡng bất tương thương, cố đức giao quy yên. | Hai bên đã không hại nhau, nên đức từ hai phía cùng dồn về đó. |
Phanh 烹 là nấu trong nồi có nước, luộc hoặc om, khác với nướng hay rán. Tiểu tiên 小鮮 nghĩa đen là con cá tươi nhỏ; có nhà đọc rộng ra là món ăn nhỏ nói chung, nhưng chỉ nghĩa cá mới làm cho ví von đứng được.
Vì sao ví von ấy nói về việc không đảo nhiều? Vì cá nhỏ thịt mềm xương mảnh, cứ lật trở thì nát, muốn giữ nguyên con thì phải để yên và chỉ canh lửa. Hà Thượng Công chú: nấu cá nhỏ thì không moi ruột, không đánh vảy, không dám khuấy. Trọng tâm nằm ở số lần động tay.
Chữ lị 蒞 nghĩa là tới nơi, đứng ra coi việc, cũng viết là 莅. Chỗ phải đọc cho đúng là chữ thần 神: ở đây nó không phải danh từ chỉ vị thần, mà là động từ, nghĩa là hiện oai, tỏ ra linh.
Vậy kỳ quỷ bất thần nghĩa là quỷ không hiện oai ra được, chứ không nói quỷ biến mất, cũng không nói có hay không có quỷ. Thư viện giải đúng theo văn bản, không mượn thần điện của các đạo khác lấp vào.
Đoạn giữa chương dựng bằng hai lần phủ định chồng lên nhau, một lối lập luận rút dần. Tầng một: nói quỷ không hiện oai thì chưa đúng hẳn, phải nói là cái oai ấy không chạm tới người. Tầng hai: nói riêng cái oai ấy không hại người cũng chưa đủ, phải nói cả bậc thánh nhân cũng không hại người. Cách viết ấy kéo trọng tâm từ phía quỷ thần về phía người cầm quyền, và điều đem ra so là việc có làm hại người hay không.
Câu kết ngắn nhưng chưa ngã ngũ, vì chữ lưỡng 兩 chỉ hai bên nào thì các nhà hiểu khác nhau. Vương Bật hiểu là quỷ thần và bậc thánh nhân, cả hai đều không hại người nên đức của hai phía cùng về nơi dân. Cách thứ hai hiểu là thần và dân. Cách thứ ba hiểu là bậc thánh nhân và dân.
Chữ giao 交 là qua lại, quy 歸 là dồn về; nhận cách nào thì mệnh đề vẫn giữ nguyên, và đó là chỗ nối với câu mở chương: không khuấy thì không hao.
捌Chương 61: Khiêm Đức
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 大國者下流,天下之交。 | Đại quốc giả hạ lưu, thiên hạ chi giao. | Nước lớn thì ở chỗ thấp của dòng nước, là nơi thiên hạ dồn về gặp nhau. |
| 2 | 天下之牝,牝常以靜勝牡,以靜為下。 | Thiên hạ chi tẫn, tẫn thường dĩ tĩnh thắng mẫu, dĩ tĩnh vi hạ. | Là giống cái của thiên hạ, mà giống cái thường lấy tĩnh mà thắng giống đực, vì tĩnh nên chịu ở dưới. |
| 3 | 故大國以下小國,則取小國; | Cố đại quốc dĩ hạ tiểu quốc, tắc thủ tiểu quốc; | Cho nên nước lớn hạ mình xuống dưới nước nhỏ thì thu phục được nước nhỏ; |
| 4 | 小國以下大國,則取大國。 | tiểu quốc dĩ hạ đại quốc, tắc thủ đại quốc. | nước nhỏ hạ mình xuống dưới nước lớn thì được nước lớn thu nhận. |
| 5 | 故或下以取,或下而取。 | Cố hoặc hạ dĩ thủ, hoặc hạ nhi thủ. | Vậy có bên hạ mình để mà lấy được, có bên hạ mình rồi nhân đó mà được lấy. |
| 6 | 大國不過欲兼畜人, | Đại quốc bất quá dục kiêm súc nhân, | Nước lớn chẳng qua muốn gồm thêm người mà nuôi, |
| 7 | 小國不過欲入事人。 | tiểu quốc bất quá dục nhập sự nhân. | nước nhỏ chẳng qua muốn vào nương mà thờ người. |
| 8 | 夫兩者各得其所欲,大者宜為下。 | Phù lưỡng giả các đắc kỳ sở dục, đại giả nghi vi hạ. | Hai bên đều được cái mình muốn, nhưng bên lớn mới là bên nên hạ mình. |
Hạ lưu 下流 ở đây giữ nghĩa đen: chỗ thấp của dòng nước, nơi mọi khe suối đều chảy về; nó không mang nghĩa xấu như chữ hạ lưu trong tiếng Việt hôm nay. Tẫn 牝 là giống cái, mẫu 牡 là giống đực; chữ thắng ở đây nói bên yên tĩnh rốt cuộc là bên còn lại.
Hai chỗ khác bản: bạch thư Mã Vương Đôi chép 邦 chỗ bản thông hành chép 國, do kiêng húy Lưu Bang; và thứ tự hai vế thiên hạ chi giao với thiên hạ chi tẫn, cùng chỗ ngắt câu, không giống nhau giữa các bản.
Hai câu chỉ khác nhau một chữ, dĩ 以 và nhi 而, và chính một chữ ấy là chỗ các nhà bàn tới nay chưa dứt. Cách đọc phổ biến lấy 以 chỉ mục đích và 而 chỉ kết quả: nước lớn hạ mình để mà lấy, chủ động; nước nhỏ hạ mình rồi nhân đó mà được, bị động. Cách thứ hai coi hai chữ là biến điệu của cùng một ý; lại có nhà ngờ một chữ do chép nhầm. Câu kết chương nghiêng về cách thứ nhất: bên lớn mới là bên nên hạ mình.
玖Chương 62: Vi Đạo
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 道者萬物之奧。 | Đạo giả vạn vật chi áo. | Đạo là chỗ sâu kín của muôn vật. |
| 2 | 善人之寶,不善人之所保。 | Thiện nhân chi bảo, bất thiện nhân chi sở bảo. | Là của báu của người lành, là chỗ nương của người chẳng lành. |
| 3 | 美言可以市,尊行可以加人。 | Mỹ ngôn khả dĩ thị, tôn hạnh khả dĩ gia nhân. | Lời hay có thể đem ra đổi chác, nết đáng trọng có thể thêm vào cho người. |
| 4 | 人之不善,何棄之有? | Nhân chi bất thiện, hà khí chi hữu? | Kẻ chẳng lành, có cớ gì mà đem bỏ? |
| 5 | 故立天子,置三公,雖有拱璧以先駟馬, | Cố lập thiên tử, trí tam công, tuy hữu củng bích dĩ tiên tứ mã, | Cho nên khi lập ngôi thiên tử, khi đặt chức tam công, dẫu có vòng ngọc lớn dâng đi trước xe bốn ngựa, |
| 6 | 不如坐進此道。 | bất như tọa tiến thử đạo. | cũng không bằng ngồi yên mà dâng lên Đạo này. |
| 7 | 古之所以貴此道者何?不曰:以求得,有罪以免邪? | Cổ chi sở dĩ quý thử đạo giả hà? Bất viết: dĩ cầu đắc, hữu tội dĩ miễn da? | Người xưa quý Đạo này là vì cớ gì? Chẳng phải đã nói: nhờ Đạo mà cầu thì được, có tội thì nhờ Đạo mà thoát hay sao? |
| 8 | 故為天下貴。 | Cố vi thiên hạ quý. | Vì thế mới là cái quý của thiên hạ. |
Chữ áo 奧 gốc chỉ góc tây nam trong nhà, chỗ khuất nhất và cũng là chỗ trọng nhất của nếp nhà cổ, nơi đặt bàn thờ và dành cho người tôn quý ngồi; từ đó chữ này có cả hai bề nghĩa dùng được ở đây. Bản bạch thư Mã Vương Đôi chép 注, mà nhiều nhà đọc thành 主, tức chủ; khi ấy câu thành Đạo là cái chủ của muôn vật, khác hướng hẳn. Hai vế sau là chỗ chương đứng riêng: Đạo là của báu của người lành và cũng là chỗ nương của người chẳng lành.
Đây là chỗ mặt chữ các bản khác nhau tới mức câu đổi nghĩa. Vương Bật chép mười một chữ, 美言可以市,尊行可以加人: lời hay thì đem đổi chác được, nết đáng trọng thì đem thêm cho người được. Nhiều bản khác, gồm mạch Hà Thượng Công và phần lớn bản hiệu đính hiện đại, chép mười hai chữ, 美言可以市尊,美行可以加人: lời hay mua được sự tôn trọng, nết đẹp thêm được cho người.
Khác nhau ở một chữ 美 thừa hay thiếu, và ở chỗ chữ 尊 thuộc vế trước hay vế sau. Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê và của Thu Giang Nguyễn Duy Cần đều theo lối mười hai chữ, tức khác ở bản gốc chứ không phải ở người dịch.
Củng bích 拱璧 là vòng ngọc lớn tới mức phải chắp hai tay mới ôm hết; tứ mã 駟馬 là cỗ xe bốn ngựa. Theo lệ nhà Chu, ngọc quý dâng đi trước, xe ngựa theo sau. Đối lại với cả đám rước ấy là bốn chữ tọa tiến thử đạo: ngồi yên mà dâng Đạo này. Hai câu kết cũng khác bản: Vương Bật chép 不曰以求得, có bản chép 不曰求以得; chữ da 邪 ở cuối là trợ từ nghi vấn, dùng như 耶, không phải nghĩa tà.
| Chữ | Âm | Nghĩa trong câu |
|---|---|---|
| 牡 | mẫu | Giống đực, con đực. Đối với 牝 là giống cái |
| 邪 | da | Trợ từ nghi vấn cuối câu, dùng như 耶. Không phải nghĩa tà |
| 諾 | nặc | Tiếng nhận lời, lời hứa buông ra bằng miệng |
拾Chương 63: Ân Thủy
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Dịch nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 為無為,事無事,味無味。 | Vi vô vi, sự vô sự, vị vô vị. | Làm cái không làm, lo cái không lo, nếm cái không mùi vị. |
| 2 | 大小多少,報怨以德。 | Đại tiểu đa thiểu, báo oán dĩ đức. | Lớn nhỏ nhiều ít, lấy đức mà đáp lại oán. |
| 3 | 圖難於其易,為大於其細; | Đồ nan ư kỳ dị, vi đại ư kỳ tế; | Tính việc khó từ lúc nó còn dễ, làm việc lớn từ lúc nó còn nhỏ; |
| 4 | 天下難事必作於易, | thiên hạ nan sự tất tác ư dị, | việc khó trong thiên hạ tất khởi lên từ chỗ dễ, |
| 5 | 天下大事必作於細。 | thiên hạ đại sự tất tác ư tế. | việc lớn trong thiên hạ tất khởi lên từ chỗ nhỏ. |
| 6 | 是以聖人終不為大,故能成其大。 | Thị dĩ thánh nhân chung bất vi đại, cố năng thành kỳ đại. | Cho nên bậc thánh nhân trọn đời không làm chuyện lớn, mà nên được cái lớn của mình. |
| 7 | 夫輕諾必寡信,多易必多難。 | Phù khinh nặc tất quả tín, đa dị tất đa nan. | Hứa nhẹ miệng thì ắt ít giữ được lời, coi nhiều việc là dễ thì ắt gặp nhiều cái khó. |
| 8 | 是以聖人猶難之,故終無難矣。 | Thị dĩ thánh nhân do nan chi, cố chung vô nan hĩ. | Cho nên bậc thánh nhân vẫn coi mọi việc là khó, nên rốt cuộc không gặp việc khó. |
Bốn chữ đại tiểu đa thiểu là chỗ tối nghĩa nhất chương, và nên nói thẳng rằng chưa ai giải xong. Có nhà đọc là coi lớn như nhỏ, coi nhiều như ít; có nhà đọc là lấy nhỏ làm lớn, lấy ít làm nhiều; lại có nhà cho rằng bốn chữ này bị rơi mất mấy chữ đi kèm.
Câu báo oán dĩ đức thì gây tranh luận vì cớ khác. Luận Ngữ thiên Hiến Vấn chép có người hỏi Khổng Tử về việc lấy đức báo oán, ông đáp: vậy lấy gì báo đức, nên lấy ngay thẳng mà báo oán. Có nhà, như Mã Tự Luân, ngờ câu này vốn thuộc chương 79.
Chữ đồ 圖 nghĩa gốc là vẽ bản đồ, từ đó ra nghĩa tính toan, xếp đặt trước; chữ tế 細 là mảnh, nhỏ. Hai câu này không nói việc làm dần dần, mà nói việc chọn thời điểm để ra tay.
Lập luận nằm ở hai câu ngay sau: mọi việc khó đều từng ở giai đoạn dễ, mọi việc lớn đều từng ở giai đoạn nhỏ. Vậy cái quyết định không phải sức của người làm, mà là lúc người ấy đụng vào. Chương 64 nối tiếp bằng hình ảnh cây ôm không xuể mọc lên từ mầm nhỏ.
Câu này có dáng một nghịch lý, nhưng là hệ quả trực tiếp của hai câu trên. Nếu mọi việc lớn đều khởi từ chỗ nhỏ, thì người luôn ra tay ở chỗ nhỏ sẽ không bao giờ có việc lớn để làm. Nhìn từ ngoài, đời người ấy không có chiến công nào đáng kể; nhìn vào kết quả, cái lớn vẫn thành. Chữ chung 終 nghĩa là trọn, suốt, cho tới cuối, nhấn rằng đây là nếp làm việc suốt đời chứ không phải một thế đứng nhất thời.
Chữ nặc 諾 là tiếng nhận lời buông ra bằng miệng; khinh nặc là nhận lời nhẹ nhàng, chưa cân xem việc ấy nặng tới đâu, nên mới quả tín, ít giữ được lời. Câu sau mở rộng cùng một lỗi ấy sang mọi việc. Câu kết đóng lại bằng chữ do 猶, nghĩa là vẫn: bậc thánh nhân vẫn coi mọi việc là khó, không phải vì họ yếu, mà vì chính thái độ ấy giữ cho việc không kịp hóa khó.
拾壹Ý Chỉ Chung Của Chín Chương
- Chương 55Đứa hài nhi và cái đức dàyXương mềm gân yếu mà nắm rất chặt, gào cả ngày mà không khản. Cố bồi thêm vào cái sống là điềm gở.
- Chương 56Cái biết và lời nóiNgười biết thì không cậy vào lời. Hòa ánh sáng, lẫn vào bụi bặm, gọi là huyền đồng.
- Chương 57Càng thêm càng hỏngCấm kỵ nhiều thì dân nghèo, pháp lệnh chi li thì trộm cướp nhiều. Trên không bày việc thì dân tự chuyển hóa.
- Chương 58Họa phúc tựa vào nhauPhúc dựa vào họa mà đứng, họa nằm núp sẵn trong phúc. Không có chuẩn cố định, nên cái ngay có thể hóa lệch.
- Chương 59Dè sẻn là gốcTrị người thờ trời không gì bằng dè. Dè thì sớm quay về, đức chồng chất, thành rễ sâu gốc chắc.
- Chương 60Nấu con cá nhỏTrị nước lớn như nấu cá nhỏ, đảo nhiều thì nát. Hai bên không hại nhau thì đức cùng dồn về một chỗ.
- Chương 61Chỗ thấp của dòng nướcNước lớn ở chỗ trũng nên nhận được cả. Bên lớn mới là bên nên hạ mình.
- Chương 62Đạo không bỏ aiĐạo là của báu của người lành và chỗ nương của người chẳng lành, nên không bỏ ai.
- Chương 63Tính việc khó từ lúc còn dễViệc lớn đều khởi từ chỗ nhỏ. Hứa nhẹ miệng thì ít giữ được lời.
Trục chung của chín chương: đường ranh giữa hai mặt của một việc mỏng hơn người ta tưởng, nên chỗ đáng để ý không phải là đang ở bên nào, mà là đang đi về phía nào. Từ đó, chín chương rút ra cùng một phép, và phép ấy luôn là bớt chứ không phải thêm: bớt khuấy, bớt cấm, bớt hứa, bớt tiêu phí cái vốn có.
拾貳Năm Chỗ Dễ Hiểu Lầm
Chỉ đúng một nửa. Chữ 倚 là dựa vào, nói phúc phải tựa vào họa mới đứng; chữ 伏 là nằm núp, nói họa đã ở sẵn trong ruột cái phúc. Nửa sau là lời cảnh báo.
Không. Chữ 知 ở chương 56 không đo bằng lượng tri thức, mà chỉ cái biết về Đạo, thứ mà lời nói không tải nổi.
Không. Sáu câu ngay sau nói rõ người đạt huyền đồng thì không ai níu lại được mà thân, không ai đẩy ra được mà xa, không ai đưa lên hay dìm xuống được.
Không. Ví von ấy chỉ nói một việc: cá nhỏ đảo nhiều thì nát. Nó bàn về số lần can thiệp, không phải một công thức đem áp vào việc khác.
Không. Chữ 神 ở đây là động từ, nghĩa là hiện oai, tỏ ra linh. Văn bản không bàn chuyện có quỷ hay không.
問Hỏi Đáp Nhanh
Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục nghĩa là gì
Đó là chương 58 Đạo Đức Kinh, và hai chữ then chốt khác nghĩa nhau nên không được dịch gộp. Chữ 倚 nghĩa là dựa vào, tựa lưng vào, nên vế đầu nói phúc phải tựa vào một cái họa nào đó mới thành hình, quan hệ ấy nhìn thấy được. Chữ 伏 nghĩa là nằm rạp xuống, nấp, nên vế sau nói cái họa đang nằm sẵn bên trong cái phúc. Vế sau vì vậy nặng hơn vế trước.
Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri có phải bảo người biết thì đừng nói không
Không. Chữ 知 ở chương 56 không nói về tri thức nhiều hay ít, mà chỉ cái biết về Đạo, thứ mà chương 1 đã rào trước là nói ra thì không còn là nó nữa. Người biết theo nghĩa ấy thì không cậy vào lời, chứ không phải phải im. Chương 81 còn nhắc một câu cùng khuôn: biết thì không lan man, lan man thì không biết.
Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên nghĩa là gì
Là câu mở chương 60. Chữ 烹 là nấu trong nồi nước, cụm 小鮮 là con cá tươi nhỏ. Cá nhỏ thịt mềm xương mảnh, cứ lật trở thì nát, muốn giữ nguyên con thì chỉ canh lửa và để yên. Hà Thượng Công chú rằng nấu cá nhỏ thì không moi ruột, không đánh vảy, không dám khuấy. Ý của câu nằm ở số lần động tay.
Đồ nan ư kỳ dị, vi đại ư kỳ tế nghĩa là gì
Là hai câu ở chương 63: tính việc khó từ lúc nó còn dễ, làm việc lớn từ lúc nó còn nhỏ. Lập luận nằm ở hai câu ngay sau, rằng mọi việc khó đều từng ở giai đoạn dễ và mọi việc lớn đều từng ở giai đoạn nhỏ, nên cái quyết định không phải sức của người làm mà là lúc người ấy đụng vào. Cùng chương còn câu hứa nhẹ miệng thì ít giữ được lời.
Xích tử trong câu hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử là ai
Xích tử nghĩa đen là đứa đỏ, tức đứa bé vừa lọt lòng, da còn đỏ hồng. Chương 55 lấy hình ảnh ấy không phải để khen sự ngây thơ, mà vì hài nhi là mẫu vật gần nhất của trạng thái khí chưa bị chia: nắm tay rất chặt tuy xương mềm gân yếu, gào cả ngày mà giọng không khản. Chương kết bằng lời ngược lại: cố bồi thêm vào cái sống là điềm gở.