VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thần Đạo: Kami, Thần Xã, Nghi Thức Và Chỗ Khác Phật Giáo Nhật Bản

神道 Shintō · Shintō, Shinto, Kami no michi, Đạo của các kami

Một đạo không có người sáng lập, không có một bộ kinh bắt buộc, không có tín điều thành văn, mà phần lớn người Nhật vẫn thực hành mỗi năm dù rất ít ai tự nhận mình là tín đồ của nó.

Khởi lập
Không có mốc khởi lập
Lớn dần từ tục thờ bản địa của quần đảo Nhật Bản, tên gọi Thần Đạo chỉ xuất hiện khi cần phân biệt với Phật Giáo
Vùng phát tích
Quần đảo Nhật Bản
Gần như toàn bộ thần xã của đạo này nằm trong lãnh thổ Nhật Bản
Số tín đồ
83.371.429 người theo thống kê nhà nước Nhật, nhưng khảo sát hỏi tự nhận chỉ ra chừng 3 phần trăm dân số
Nguồn Cục Văn hóa Nhật Bản, Niên giám Tôn giáo, so với các khảo sát xã hội học và khảo sát Đông Á của Pew Research Center, số nhà nước tính tới ngày 31/12/2023 công bố tháng 12/2024, khảo sát Pew thực hiện từ tháng 6 tới tháng 9 năm 2023 công bố ngày 17/06/2024

IĐọc Nhanh Trong Năm Câu

Thần Đạo 神道 là đạo bản địa của quần đảo Nhật Bản. Nó không có người sáng lập, không có một bộ kinh bắt buộc, không có bản tín điều nào buộc người theo phải đọc thuộc. Cái làm nên nó là kami, là quan niệm về sự trong sạch và sự ô uế, và là nghi thức chứ không phải tín lý. Người ta không hỏi nhau tin gì, người ta hỏi nhau làm gì và làm thế nào cho đúng phép. Vì thế mới có một tình cảnh mà người ngoài thấy khó hiểu: phần lớn người Nhật đi thần xã đầu năm, mua bùa, treo thẻ nguyện, dự hội làng, mà nếu hỏi thẳng họ theo đạo nào thì phần đông nói mình không theo đạo nào cả.

Một. Thần Đạo không có giáo chủ. Nó lớn dần từ tục thờ núi, sông, đá, cây, biển và người đã khuất, rồi mãi về sau mới có tên, và có tên chính là vì cần một chữ để phân biệt với Phật Giáo mới vào.

Hai. Trung tâm của nó là kami , chữ quen được dịch sang tiếng Việt là thần, nhưng dịch thẳng như thế là chưa đủ.

Ba. Trục đạo đức của Thần Đạo không phải cặp thiện và ác, mà là cặp trong sạchô uế. Từ đó sinh ra harae misogi , phép tẩy trước khi bước vào chỗ thiêng.

Bốn. Nơi thờ gọi là thần xã 神社, nhận ra nhờ cổng torii 鳥居, vốn là một đường ranh giữa cõi thường và cõi thiêng.

Năm. Thần Đạo không có thủ tục cải đạo và không có sổ ghi danh tín đồ, nên con số tín đồ của đạo này không đọc được như con số của các đạo có giáo hội.

Bài đi theo mười lăm mục. Ở mỗi chỗ có tranh cãi, bài tách làm hai hộp: hộp theo giáo nghĩa và hộp theo sử liệu. Phần lịch sử cận đại chỉ ghi sự kiện và niên đại.

IIMột Đạo Không Có Ngày Khai Sinh

Hỏi Thần Đạo ra đời năm nào thì không có câu trả lời, vì nó không ra đời, nó lớn lên. Trên quần đảo Nhật Bản, người ta đã thờ núi, biển, đá lớn, cây cổ thụ và người đã khuất từ rất lâu trước khi có văn bản nào chép lại việc ấy. Những tục lệ rời rạc của từng vùng, từng làng dần được sắp lại và được triều đình ghi vào sổ sách, rồi cái tổng thể đó mới có một cái tên.

Chữ Thần Đạo có từ bao giờ

Hai chữ Thần Đạo 神道, người Nhật đọc là Shintō, nghĩa đen là con đường của các kami, còn có lối đọc thuần Nhật là kami no michi. Điều đáng chú ý là cái tên này không phải do chính đạo ấy tự đặt cho mình từ đầu. Nó xuất hiện khi Phật Giáo đã vào Nhật Bản và người ta cần một chữ để phân biệt lối thờ cũ với Butsudō 仏道, tức Phật đạo. Thần Đạo có tên là vì có một đạo khác tới ở cạnh, giống cái đã xảy ra với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.

Theo sử liệu

Cái còn lại từ buổi đầu là chỗ thờ. Trước khi có nhà điện bằng gỗ, chỗ thờ thường là một vật của tự nhiên được khoanh lại: một tảng đá lớn gọi là iwakura 磐座, một khoảng đất quây có cắm cành cây thiêng gọi là himorogi 神籬, một ngọn núi, một thác nước. Kami được hiểu là giáng xuống chỗ ấy khi được mời. Dấu vết ấy còn sống tới nay: Ōmiwa Jinja 大神神社 ở tỉnh Nara không có nhà điện chính, người hành lễ lạy thẳng vào núi Miwa phía sau vì chính ngọn núi là thần thể. Về niên đại thì giới nghiên cứu rất dè dặt: mộ táng thời Yayoi và thời Kofun có gương đồng, kiếm và ngọc cong, những thứ về sau thành pháp khí Thần Đạo, nhưng nói người thời ấy đã theo Thần Đạo là gán tên đời sau cho một thực hành đời trước.

Một đạo của nơi chốn

Thần Đạo bám vào nơi chốn. Mỗi vùng đất có kami của vùng ấy, mỗi dòng họ có kami của dòng ấy. Cái làm nên một thần xã không phải một giáo lý phổ quát, mà là mối buộc giữa một cộng đồng cụ thể và một kami cụ thể tại một chỗ cụ thể. Vì thế Thần Đạo gần như không đi truyền đạo, không dịch kinh để hoằng dương, không đặt ra nghi thức cải đạo. Một cái đạo mà cốt lõi là ngọn núi sau làng thì rất khó mang đi nơi khác, và đó là lý do gần như toàn bộ thần xã của đạo này nằm trong lãnh thổ Nhật Bản.

IIIGiáo Nghĩa Cốt Lõi

Thần Đạo không có một bản tín điều. Không có công thức đức tin để đọc, không có điều răn đánh số, không có bộ giáo lý mà ai cũng phải học thuộc mới được coi là người theo đạo. Hệ quả lớn hơn người ta tưởng: không ai có thẩm quyền tuyên bố một người là tin sai, vì không có bản đúng để đối chiếu. Cái được chuẩn hóa trong Thần Đạo là nghi thức, không phải niềm tin. Đây cũng là lý do rất nhiều người Nhật nói mình không theo tôn giáo nào mà vẫn đi thần xã đầu năm: chữ tôn giáo trong tiếng Nhật hàm ý một tổ chức có giáo lý và có tư cách hội viên.

Kami, và vì sao dịch thẳng là thần thì chưa đủ

Theo giáo nghĩa

Định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất là của Motoori Norinaga 本居宣長, nhà khảo cứu thế kỷ 18, viết trong bộ chú giải Kojiki-den 古事記伝. Ý của ông, diễn lại cho gọn: kami là bất cứ cái gì có một phẩm chất vượt ra ngoài lẽ thường tới mức khiến người ta phải kính sợ. Không giới hạn ở thần linh trên trời. Trong định nghĩa ấy, kami có thể là một vị trong thần thoại, một người có công lớn lúc sống, một ngọn núi, một cây cổ thụ, một tiếng sấm, thậm chí một vật gây kinh sợ vì nó dữ.

Người Việt quen đọc chữ thần, và cách đọc ấy không sai về mặt chữ. Nhưng chữ thần trong tiếng Việt đã ngấm quá nhiều lớp nghĩa của Đạo Giáo: nghe chữ thần là người Việt hình dung một vị có chức trách trong bộ máy trên trời, có phẩm trật, có sắc phong. Kami không nhất thiết như thế. Một, kami không toàn năng và không toàn tri, mạnh ở vùng của mình. Hai, kami không phải đấng sáng thế đứng ngoài thế giới, các kami sinh ra bên trong thế giới. Ba, ranh giới giữa kami và người không phải một bức tường. Vì ba chỗ lệch ấy, giới nghiên cứu quốc tế thường giữ nguyên chữ kami không dịch. Một khái niệm cổ còn chia hồn của kami làm hai mặt, aramitama 荒魂 là mặt dữ dội và nigimitama 和魂 là mặt hòa dịu, nên lễ không chỉ để xin phúc mà còn để yên lòng cái sức mạnh ấy.

Tám triệu kami là một cách nói, không phải một con số

Người ta hay nghe câu Thần Đạo có tám triệu kami. Nguyên văn là yaoyorozu no kami 八百万の神, chữ đúng là tám trăm vạn. Đây là một thành ngữ ước lệ, nghĩa là nhiều tới mức không đếm được, giống cách người Việt nói trăm họ, muôn dân, ba hồn bảy vía.

Con số duy nhất đếm được nằm trong sổ sách nhà nước thời xưa. Bộ Engishiki 延喜式, khởi soạn năm 905 và phần chính hoàn thành năm 927, có phần Jinmyōchō 神名帳 tức sổ tên thần, ghi 2.861 thần xã được triều đình công nhận. Số kami trong sổ ấy thì các nguồn ghi lệch nhau một đơn vị, chỗ ghi 3.132, chỗ ghi 3.131, và thư viện ghi cả hai chứ không chọn bừa.

Trong sạch và ô uế, cái trục thật sự của đạo này

Theo giáo nghĩa

Kegare 穢れ là sự ô uế, sự vẩn đục, sự hao mòn của khí lực, bám vào người qua tiếp xúc với cái chết, với máu, với bệnh tật, với tai họa, và cả qua việc bỏ bê nghi lễ. Tsumi thường được dịch là tội, nhưng trong khuôn Thần Đạo cổ nó gần với nghĩa chỗ hỏng, chỗ lệch hơn là tội lỗi đạo đức theo lối các đạo độc thần. Điều then chốt: cả hai đều không phải một vết nhơ vĩnh viễn, chúng là thứ bám vào nên là thứ rửa được.

Đây là chỗ khác nhau lớn nhất giữa Thần Đạo và phần lớn các đạo mà người Việt quen nghe. Nhiều đạo dựng trục đạo đức trên cặp thiện và ác, có thưởng có phạt và có một phiên xét xử sau cùng. Thần Đạo dựng trục của nó trên cặp trong sạch và ô uế: việc của con người là giữ cho sạch, và rửa lại khi lỡ bẩn. Từ đó, Thần Đạo cổ không xây dựng một hệ thống thưởng phạt sau khi chết, phần lớn những gì người Nhật hình dung về đời sau là do Phật Giáo mang tới, và mọi nghi lễ Thần Đạo đều bắt đầu bằng một động tác tẩy.

Harae và misogi

Harae là phép tẩy nói chung, thường do người có chức trách làm cho người khác, bằng lời khấn và bằng pháp khí. Misogi là phép tẩy bằng nước, gốc của nó là tự mình dầm mình xuống dòng nước, xuống biển, xuống thác.

Người thường ngày nay gặp harae dưới dạng rút gọn. Ở cổng mỗi thần xã có một bể nước gọi là temizuya 手水舎: khách múc một gáo, rửa tay trái, rửa tay phải, hứng nước vào lòng tay trái để súc miệng, rồi dựng gáo cho nước chảy xuôi theo cán. Toàn bộ chuỗi ấy dùng đúng một gáo nước, và nó chính là misogi thu nhỏ vừa bằng hai bàn tay. Vào ngày cuối tháng sáu và ngày cuối tháng mười hai, nhiều thần xã làm lễ Ōharae 大祓, tức đại tẩy, cho cả cộng đồng.

Ujigami và ujiko

Ujigami 氏神 nguyên nghĩa là kami của một dòng họ, về sau mở rộng thành kami bảo hộ một vùng dân cư, và người sống trong vùng ấy gọi là ujiko 氏子. Một chữ gần nghĩa là ubusunagami 産土神, kami của mảnh đất nơi một người sinh ra. Chỗ này gần với khái niệm thành hoàng làng của người Việt hơn là gần với khái niệm giáo dân. Anh là ujiko của thần xã nào không do anh chọn, nó do anh ở đâu mà ra, và chính cách tính này là gốc của con số tín đồ rất lớn trong thống kê nhà nước Nhật.

IVThiên Chiếu Đại Thần Và Thần Cung Ise

Thần Đạo không có giáo chủ, nên chỗ mà các đạo khác đặt hình người sáng lập thì Thần Đạo đặt một vị kami: Amaterasu Ōmikami 天照大神, âm Hán Việt là Thiên Chiếu Đại Thần, nghĩa đen là vị đại thần soi sáng trời, gắn với mặt trời, được thờ tại Thần cung Ise. Theo luật của thư viện này, bài không mô tả hình tượng theo lối gợi người đọc hình dung một chân dung.

Theo giáo nghĩa

Đoạn được kể lại nhiều nhất trong cả Kojiki lẫn Nihon Shoki là chuyện hang đá trên trời. Sau khi bị em là Susanoo 素戔嗚 làm cho phẫn nộ vì những việc phá phách bị coi là làm ô uế chỗ thiêng, Amaterasu lui vào một hang đá và đóng cửa lại. Mặt trời tắt, thế gian chìm trong tối. Các kami họp lại trước cửa hang, bày một cuộc lễ có nhạc, có múa, có tiếng cười vang, treo một tấm gương và một chuỗi ngọc lên cành cây thiêng. Amaterasu hé cửa nhìn ra, thấy bóng mình trong gương, và các kami kéo được cửa hang mở ra. Truyền thống đọc đoạn này như mẫu gốc của mọi buổi lễ Thần Đạo.

Thần cung Ise

Ise Jingū 伊勢神宮, tiếng Việt quen gọi là Thần cung Ise, nằm ở tỉnh Mie. Tên chính thức chỉ gọn một chữ Jingū 神宮, tức Thần Cung. Đây là một quần thể gồm 125 thần xã lớn nhỏ, xoay quanh hai trung tâm: Naikū 内宮, nội cung, tên chính thức Kōtai Jingū 皇大神宮, thờ Thiên Chiếu Đại Thần, và Gekū 外宮, ngoại cung, tên chính thức Toyouke Daijingū 豊受大神宮, thờ vị kami trông coi cái ăn và mùa màng. Lệ của người đi lễ là viếng ngoại cung trước. Lối kiến trúc gọi là shinmei-zukuri 神明造, gỗ mộc không sơn, mái tranh, sàn nâng cao.

Shikinen Sengū, dựng lại toàn bộ hai mươi năm một lần

Cứ hai mươi năm một lần, toàn bộ điện thờ chính của cả nội cung lẫn ngoại cung được dựng lại hoàn toàn mới trên khoảnh đất kề bên, theo đúng kích thước và lối cũ, cùng toàn bộ đồ thờ và y phục lễ. Thần thể được rước từ tòa cũ sang tòa mới, tòa cũ dỡ đi và gỗ chia về các thần xã khác. Lệ ấy gọi là Shikinen Sengū 式年遷宮.

Kỳ gần nhất là kỳ thứ 62, năm 2013, kỳ thứ 63 dự kiến vào năm 2033. Truyền thống chép rằng lệ này bắt đầu dưới triều Nữ hoàng Jitō, sau khi Thiên hoàng Tenmu ra lệnh mà chưa kịp thực hiện, nên kỳ đầu thường được ghi vào khoảng năm 690. Lệ ấy từng đứt hơn một trăm năm vì nội chiến thế kỷ 15 tới 16, và các nguồn cũng ghi rằng khoảng cách ban đầu có lúc tính là mười chín năm.

Theo sử liệu

Nhìn từ phía sử học và kỹ thuật, Shikinen Sengū giữ nghề chứ không giữ gỗ. Một ngôi nhà gỗ mái tranh dựng theo lối cổ không thể đứng nghìn năm, nhưng cứ hai mươi năm lại dựng lại một lần thì mỗi thế hệ thợ mộc, thợ lợp mái, thợ dệt, thợ rèn đều được làm việc ấy ít nhất một lần trong đời nghề. Cái được truyền là tay nghề và quy cách, và Thần cung phải có rừng riêng cùng kế hoạch trồng rừng tính bằng hàng trăm năm.

Mỗi năm, Thần cung Ise phát ra một loại bùa gọi là Jingū Taima 神宮大麻, chuyển qua các thần xã khắp nước rồi tới từng nhà, đặt lên bàn thờ nhỏ gọi là kamidana 神棚.

VVăn Bản Sớm Nhất, Và Vì Sao Chúng Không Phải Kinh Thánh

Xin nói thẳng ngay câu đầu: Thần Đạo không có kinh thánh. Không có cuốn sách nào được coi là lời mặc khải, không có văn bản nào buộc người theo đạo phải đọc. Cái Thần Đạo có là một số văn bản cổ chép lại thần thoại, phổ hệ và quy cách nghi lễ.

Kojiki 古事記, âm Hán Việt là Cổ Sự Ký, hoàn thành năm 712, là văn bản còn nguyên vẹn xưa nhất của Nhật Bản. Nihon Shoki 日本書紀, âm Hán Việt là Nhật Bản Thư Kỷ, hoàn thành năm 720, đồ sộ hơn, viết bằng Hán văn theo lối chính sử Trung Hoa, và ở nhiều chỗ nó chép song song mấy dị bản của cùng một tích.

Theo sử liệu

Cả Kojiki lẫn Nihon Shoki đều là công trình biên soạn của triều đình, làm theo lệnh, trong giai đoạn nhà nước Nhật Bản đang tự tổ chức lại theo khuôn mẫu luật lệnh tiếp thu từ đại lục. Mục đích của việc biên soạn, theo cách giới nghiên cứu đọc chúng, gắn liền với việc sắp xếp các tích truyện rời rạc của nhiều vùng và nhiều dòng họ thành một mạch kể thống nhất. Từ đó rút ra ba điều: chúng ghi lại thần thoại nhưng không do các thần thoại ấy sinh ra, rất nhiều tục thờ của địa phương không có mặt trong hai bộ ấy mà vẫn tồn tại song song, và chúng không tự xưng là kinh, không được đọc trong lễ. Kojiki còn gần như bị bỏ quên nhiều thế kỷ, cho tới khi Motoori Norinaga chú giải nó thành bộ Kojiki-den cuối thế kỷ 18.

Những văn bản cổ thường được dẫn khi nghiên cứu Thần Đạo. Không văn bản nào trong số này giữ địa vị kinh thánh.
Văn bảnNiên đạiNội dung và địa vị
Kojiki 古事記, Cổ Sự KýNăm 712Thần thoại và phổ hệ, văn bản còn nguyên vẹn xưa nhất của Nhật Bản. Là sử thư biên soạn theo lệnh triều đình
Nihon Shoki 日本書紀, Nhật Bản Thư KỷNăm 720Bộ chính sử đầu tiên, viết bằng Hán văn, ghi song song nhiều dị bản của cùng một tích
Engishiki 延喜式, Diên Hỷ ThứcSoạn 905, phần chính xong 927Quy chế hành chính. Phần nghi lễ ghi quy cách tế tự và sổ tên thần với 2.861 thần xã. Số kami các nguồn ghi 3.132 hoặc 3.131
Norito 祝詞, chúc từLớp cổ nhất chép trong EngishikiCác bài khấn đọc trong lễ. Đây mới là loại văn bản được đọc thành tiếng trong nghi thức
Chỗ hay hiểu lầm

Không. Kojiki là một bộ sử biên soạn theo lệnh triều đình năm 712, chép thần thoại và phổ hệ. Nó không tự xưng là lời mặc khải và không được đọc trong nghi lễ. Văn bản thật sự được đọc thành tiếng trong lễ Thần Đạo là norito, tức các bài khấn, mà bài nổi tiếng nhất là Ōharae no Kotoba 大祓詞 của lễ đại tẩy: đó là lời nói với kami trong một buổi lễ cụ thể, không phải giáo lý để tin.

VINhững Kami Thường Gặp

Vì kami là vô hạn nên không sách nào liệt kê hết, nhưng có một số kami được thờ ở rất nhiều nơi, tới mức đi bất cứ vùng nào của Nhật Bản cũng gặp.

Amaterasu Ōmikami

天照大神, Thiên Chiếu Đại Thần. Vị đứng đầu trong mạch thần thoại, gắn với mặt trời, thờ tại Thần cung Ise.

Susanoo

素戔嗚. Em của Amaterasu trong mạch kể, gắn với bão tố và biển. Có cả phần phá phách lẫn phần trừ họa, tiêu biểu cho cách Thần Đạo không chia kami thành phe thiện phe ác.

Ōkuninushi

大国主, Đại Quốc Chủ. Kami của vùng Izumo, gắn với việc mở mang đất đai và với chuyện nhân duyên. Trung tâm thờ tự là Izumo Ōyashiro, tỉnh Shimane.

Inari

稲荷. Kami của lúa gạo, về sau thành kami của nghề nghiệp và buôn bán. Đây là loại thần xã phổ biến nhất nước Nhật, con số thường nhắc là khoảng ba vạn nơi, nhưng đó là ước tính chứ chưa từng có cuộc kiểm đếm chính thức. Tổng xã là Fushimi Inari Taisha ở Kyoto.

Hachiman

八幡. Một trong những kami được thờ rộng nhất, gắn với võ nghiệp, cũng là kami hòa lẫn với Phật Giáo sớm và đậm nhất.

Tenjin

天神. Vốn là quan văn thời Heian tên Sugawara no Michizane 菅原道真, chết trong cảnh bị đày, về sau được thờ làm kami và thành vị mà học trò đi thi hay tới cầu. Ví dụ rõ nhất của việc người được thờ thành kami.

Ujigami và ubusunagami

氏神産土神. Không phải một vị cụ thể mà là một vai trò: kami bảo hộ một vùng dân cư, hoặc kami của mảnh đất nơi một người sinh ra.

Kami của nghề và của vật

Kami của bếp, của giếng, của cây kim khâu. Nhiều nghề có lễ riêng cho dụng cụ đã mòn, như lễ cắm kim gãy vào miếng đậu phụ mềm để tạ ơn.

Khi một thần xã lớn lập một thần xã mới ở nơi khác thờ cùng một kami, người ta làm nghi thức gọi là phân linh, mời một phần của kami ấy tới ngự ở nơi mới, và việc này không làm kami gốc yếu đi, giống như thắp một cây nến từ một cây nến khác. Đây là cơ chế khiến Inari hay Hachiman có mặt ở hàng vạn nơi.

VIIThần Xã Và Torii

Jinja 神社, tiếng Việt gọi là thần xã, là nơi thờ của Thần Đạo. Tên gọi có nhiều bậc: jinja là tên chung, jingū 神宮 dành cho nơi có quan hệ với hoàng gia, taisha 大社 dành cho nơi giữ vai tổng xã của một hệ.

Torii, cái ranh giới

Torii 鳥居 là cái cổng đứng ở đầu lối vào thần xã: hai cột dựng đứng, hai thanh ngang bắc lên trên. Đây cũng là biểu tượng quốc tế của Thần Đạo, có cả trong bảng mã Unicode. Điều quan trọng nhất về torii nằm ở chức năng: nó là một đường ranh giữa cõi thường và cõi thiêng. Người đi lễ theo phép thì cúi đầu một cái trước khi bước qua torii, và trên lối đi gọi là sandō 参道 thì tránh đi vào chính giữa, vì chính giữa được coi là lối của kami. Torii cũng không nhất thiết đứng ở cổng: có torii dựng giữa ruộng, giữa rừng, giữa biển, trước một tảng đá lớn. Chỗ nào có torii là chỗ ấy được đánh dấu là thiêng.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ nhầm phổ biến nhất với người đọc tiếng Việt, vì du lịch và phim ảnh hay đặt chữ cổng chùa Nhật Bản dưới ảnh một cái torii. Torii là dấu hiệu của thần xã, không phải của chùa Phật Giáo. Chùa Nhật Bản có cổng riêng gọi là sanmon 山門, thường có mái lợp và có tượng hộ pháp hai bên.

Các bộ phận của một thần xã

Những thành phần thường gặp trong khuôn viên một thần xã, xếp theo thứ tự người khách đi qua.
Thành phầnNguyên tự và phiên âmVai trò
Cổng torii鳥居 toriiRanh giới giữa cõi thường và cõi thiêng. Có thể có nhiều lớp nối nhau
Bể nước rửa手水舎 temizuyaChỗ rửa tay và súc miệng trước khi vào lễ. Đây là misogi đã rút gọn
Nhà bái拝殿 haidenNơi người thường đứng lễ, chỗ xa nhất mà khách vào được ở phần lớn thần xã
Điện chính本殿 hondenNơi đặt thần thể, thường đóng kín. Người thường chỉ đứng lễ ở nhà bái phía trước. Thần thể có thể là một tấm gương, một thanh kiếm, một viên đá, và thường không ai được nhìn
Dây thiêng注連縄 shimenawaDây bện bằng rơm, giăng ngang để đánh dấu chỗ thiêng. Buộc quanh cây cổ thụ, quanh đá lớn, hoặc treo trước nhà bái

Những vật người đi lễ mang về

Ema

絵馬, nghĩa đen là ngựa vẽ. Tấm gỗ nhỏ hình ngũ giác, viết điều cầu lên mặt sau rồi treo lên giá. Xưa dâng ngựa thật, sau thay bằng tranh vẽ ngựa, rồi rút gọn thành tấm gỗ này.

Omikuji

おみくじ, quẻ giấy rút ngẫu nhiên, ghi lời đoán từ đại cát tới đại hung. Quẻ xấu thì gấp lại buộc vào giá dây trong khuôn viên, để lại đó chứ không mang về.

Omamori

お守り, túi bùa nhỏ bằng vải, mỗi loại cho một việc: đi đường bình an, thi cử, sinh nở, duyên. Lệ thường là giữ chừng một năm rồi mang trả về thần xã để hóa.

Kamidana

神棚, kệ thờ nhỏ đặt cao trên tường trong nhà hoặc cửa hàng, để bùa của Ise và của thần xã địa phương, có nước, muối, gạo và cành cây thiêng.

Người đọc Việt Nam sẽ thấy nhiều chỗ quen: tấm ema gần với tục viết sớ, quẻ omikuji gần với xin xăm, túi omamori gần với lá bùa hộ mệnh, cái kamidana gần với bàn thờ thần linh trong nhà. Cái khác nằm ở lệ trả về: bùa và quẻ của Thần Đạo có hạn dùng, hết hạn thì mang trả nơi phát để hóa đi, vì cái sạch hao mòn theo thời gian.

VIIINghi Lễ Và Lễ Hội

Nếu phải chỉ ra một thứ làm nên Thần Đạo thì đó là nghi lễ. Đạo này không đòi người ta tin điều gì, nhưng rất chặt về cách làm. Một buổi lễ, dù lớn hay nhỏ, gần như luôn theo bốn nhịp: tẩy sạch, mời kami tới, dâng vật và đọc lời khấn, rồi tiễn kami về.

Người thường lễ thế nào

Phép lễ ở nhà bái phổ biến nhất hiện nay gọi là hai lạy, hai vỗ tay, một lạy, tiếng Nhật là nirei nihakushu ichirei 二礼二拍手一礼: thả tiền vào hòm, rung chuông nếu có, cúi mình hai lần, vỗ tay hai tiếng, chắp tay khấn, rồi cúi một lần nữa. Đây là quy cách phổ biến chứ không phải luật chung, một số thần xã lớn giữ lệ riêng, chẳng hạn có nơi vỗ tay bốn lần. Trong lễ tang, người ta vỗ tay không thành tiếng.

Vật dâng lên kami gọi chung là shinsen, gồm gạo, rượu gạo, muối, nước, cá, rau, hoa quả. Một vật dâng đặc trưng nữa là tamagushi 玉串, một cành sakaki tức cây thiêng, có buộc dải giấy trắng. Điểm khác với bàn thờ người Việt là Thần Đạo hầu như không đốt vàng mã.

Matsuri

Matsuri , thường viết là 祭り, là lễ hội của thần xã. Chữ này cùng gốc với động từ matsuru nghĩa là thờ phụng: matsuri trước hết là một nghi lễ, phần hội náo nhiệt ngoài đường là phần đi kèm.

Một matsuri điển hình có hai lớp. Lớp trong là phần lễ kín trong điện, nhiều khi vào ban đêm. Lớp ngoài là phần rước: thần thể được mời sang một kiệu gọi là mikoshi, rồi cả làng khiêng kiệu ấy đi khắp vùng, ý là kami đi thăm đất của mình. Người Việt sẽ thấy ngay chỗ giống với lệ rước kiệu thành hoàng trong hội làng. Lịch matsuri chạy theo nhịp nhà nông: cầu mùa màng vào mùa xuân, tạ ơn thu hoạch vào mùa thu, trừ tai vào mùa hè.

Những dịp mà người Nhật thường tới thần xã trong một đời người và trong một năm.
DịpNguyên tự và phiên âmNội dung
Lễ ra mắt của trẻ sơ sinh初宮参り hatsumiyamairiĐưa trẻ mới sinh tới thần xã địa phương lần đầu, trình với kami của vùng
Lễ bảy năm năm ba七五三 shichigosanVào tháng mười một, đưa trẻ ba tuổi, năm tuổi và bảy tuổi tới thần xã mừng lớn thêm một bậc
Lễ đi lễ đầu năm初詣 hatsumōdeChuyến đi lễ đầu tiên của năm mới, thường trong ba ngày Tết dương lịch. Dịp đông người nhất trong năm
Lễ đại tẩy大祓 ōharaeHai lần một năm, cuối tháng sáu và cuối tháng mười hai, tẩy chung cho cả cộng đồng

Có một điều về lễ tang cần ghi cho đúng. Thần Đạo nghi thức tang gọi là sōsai, nhưng trên thực tế phần lớn tang lễ ở Nhật Bản được cử hành theo nghi thức Phật Giáo. Lý do nằm ở chính giáo nghĩa đã nói ở trên: cái chết bị xếp vào loại ô uế nặng nhất, nên thần xã theo truyền thống tránh dính tới việc tang, và khoảng trống ấy do Phật Giáo lấp suốt nhiều thế kỷ. Từ đó sinh ra cái nếp người Nhật hay tự nói về mình: sinh con thì đưa tới thần xã, chết thì làm theo nhà chùa.

IXDòng Thời Gian

Vì Thần Đạo không có ngày khai sinh, dòng thời gian dưới đây không bắt đầu bằng một mốc lập đạo. Nó ghi những mốc đủ lớn để đổi hình dạng của đạo này: những lần được ghi vào văn bản, những lần quan hệ với Phật Giáo thay đổi, và những lần quan hệ với nhà nước thay đổi.

  • Thế kỷ 6Phật Giáo truyền vào Nhật Bản
    Từ đây mới có nhu cầu gọi tên lối thờ cũ để phân biệt với đạo mới. Chữ Thần Đạo xuất hiện trong bối cảnh ấy.
  • khoảng 690Kỳ Shikinen Sengū đầu tiên tại Ise
    Truyền thống ghi lệ dựng lại điện thờ hai mươi năm một lần bắt đầu dưới triều Nữ hoàng Jitō. Kỳ thứ 62 vào năm 2013, kỳ thứ 63 dự kiến năm 2033.
  • 712Hoàn thành Kojiki
    Bộ Cổ Sự Ký, văn bản còn nguyên vẹn xưa nhất của Nhật Bản, chép thần thoại và phổ hệ theo lệnh triều đình.
  • 720Hoàn thành Nihon Shoki
    Bộ chính sử đầu tiên, viết bằng Hán văn, chép song song nhiều dị bản của cùng một tích thần thoại.
  • 905 tới 927Biên soạn Engishiki
    Bộ quy chế hành chính có phần ghi quy cách tế tự và sổ tên thần với 2.861 thần xã được triều đình công nhận.
  • Thế kỷ 9 tới 15Thần Đạo và Phật Giáo hòa lẫn
    Thuyết honji suijaku 本地垂迹 định hình, chùa và thần xã chung khuôn viên. Tới thế kỷ 15, Yoshida Shintō 吉田神道 đặt Thần Đạo ở vị trí gốc.
  • 1868Lệnh shinbutsu bunri
    Chính quyền Minh Trị ra loạt lệnh 神仏分離 tách Thần Đạo khỏi Phật Giáo: gỡ tượng Phật khỏi thần xã, bỏ danh hiệu Phật Giáo gán cho kami, buộc tăng sĩ phụ trách thần xã phải chọn một bên.
  • 1868 tới đầu thập niên 1870Haibutsu kishaku
    Phong trào 廃仏毀釈 bài xích Phật Giáo ở nhiều địa phương, khiến hàng nghìn chùa bị đóng cửa. Mức độ khác nhau rất xa giữa các vùng.
  • 1868 tới 1945Giai đoạn Thần Đạo Nhà Nước
    Thời kỳ mà giới nghiên cứu gọi là Kokka Shintō 国家神道: thần xã được nhà nước quản lý và cấp kinh phí, nghi lễ thần xã được xếp ngoài phạm trù tôn giáo trong cách phân loại hành chính đương thời.
  • 1945Chỉ thị Thần Đạo
    Ngày 15 tháng 12, Bộ Tư lệnh Tối cao lực lượng Đồng minh ban hành văn kiện thường gọi là Shinto Directive, chấm dứt việc nhà nước bảo trợ và quản lý Thần Đạo Nhà Nước.
  • 1946Thành lập Thần xã Bản sảnh
    Ngày 3 tháng 2, ba tổ chức cũ hợp lại thành Jinja Honchō 神社本庁, pháp nhân ngoài nhà nước bao quát phần lớn thần xã cả nước, lấy Thần cung Ise làm bản tông.

XHòa Lẫn Với Phật Giáo Và Cuộc Tách Năm 1868

Đây là chỗ lịch sử quan trọng nhất của bài, và cũng là chỗ người đọc tiếng Việt dễ hiểu nhất, vì người Việt đã quen với việc một nhà vừa thờ Phật vừa thắp hương ông bà mà không thấy mình theo hai đạo. Ở Nhật Bản, việc ấy đi xa hơn: suốt hơn một nghìn năm, Thần Đạo và Phật Giáo không phải hai đạo đứng cạnh nhau mà là một thứ trộn vào nhau.

Theo giáo nghĩa

Chữ này nghĩa đen là thần và Phật hòa tập, chỉ tình trạng hai truyền thống nhập vào nhau. Jingūji 神宮寺 là chùa dựng ngay trong khuôn viên thần xã, có sư tụng kinh trước kami, vì có một lối giải cho rằng kami cũng là chúng sinh trong vòng luân hồi và cũng cần được nghe pháp. Ngược lại, chùa cũng mời kami về làm hộ pháp. Trên cùng một mảnh đất có cổng torii, có tháp, có chuông chùa, có bài khấn Thần Đạo và có kinh Phật.

Lối giải hệ thống nhất cho việc hòa lẫn ấy là thuyết honji suijaku 本地垂迹, định hình từ khoảng thế kỷ 9 tới thế kỷ 12. Chữ này nghĩa đen là bản địa thùy tích: bản địa là cái gốc, thùy tích là dấu vết buông xuống. Theo thuyết ấy, một vị Phật hay Bồ Tát là cái gốc, còn vị kami được thờ ở Nhật Bản là cái gốc ấy hiện ra dưới hình thức hợp với đất này. Từ đó sinh ra danh hiệu gongen 権現.

Trên nền đó, Ryōbu Shintō 両部神道 gắn hai cung của Ise với hai mạn đồ của Mật tông. Tới thế kỷ 15, Yoshida Shintō 吉田神道 của Yoshida Kanetomo lật ngược quan hệ, chủ trương Thần Đạo mới là gốc. Tới thế kỷ 18, Motoori Norinaga rồi Hirata Atsutane dựng lên Fukko Shintō 復古神道. Cần ghi nhận cho công bằng với sử liệu: suốt thời gian ấy, phần đông dân chúng không bận tâm tới các hệ thống lý luận này.

Theo sử liệu

Năm 1868, chính quyền mới của thời Minh Trị ban hành một loạt lệnh mà tên chung là shinbutsu bunri 神仏分離, tức thần Phật phân ly, có nguồn ghi tên văn kiện là shinbutsu hanzenrei 神仏判然令. Các biện pháp được ghi lại gồm: buộc tăng sĩ đang phụ trách công việc trong thần xã phải hoàn tục hoặc chuyển thành thần chức, gỡ tượng Phật và pháp khí Phật Giáo ra khỏi khuôn viên thần xã, bỏ các danh hiệu Phật Giáo đã gán cho kami như gongen, và tách các jingūji ra khỏi thần xã. Đi kèm, ở nhiều địa phương nổ ra phong trào bài xích Phật Giáo gọi là haibutsu kishaku 廃仏毀釈, khiến hàng nghìn ngôi chùa bị đóng cửa, đất chùa bị sung công, nhiều tượng và thư tịch bị hủy. Mức độ khác nhau rất xa giữa các vùng, và các nguồn không đưa ra con số thống nhất, nên thư viện ghi là hàng nghìn.

Giai đoạn 1868 tới 1945 là giai đoạn mà giới nghiên cứu gọi bằng thuật ngữ Kokka Shintō 国家神道, tức Thần Đạo Nhà Nước: thần xã được nhà nước quản lý và cấp kinh phí, được xếp vào một phạm trù riêng nằm ngoài khái niệm tôn giáo trong cách phân loại hành chính đương thời. Ngày 15 tháng 12 năm 1945, Bộ Tư lệnh Tối cao lực lượng Đồng minh ban hành Chỉ thị Thần Đạo, bãi bỏ sự bảo trợ và quản lý của chính quyền đối với Thần Đạo Nhà Nước. Ngày 3 tháng 2 năm 1946, ba tổ chức cũ hợp lại thành Jinja Honchō, Thần xã Bản sảnh.

Dấu vết của một nghìn năm hòa lẫn thì không mất theo một đạo lệnh. Tới nay vẫn còn những chùa có torii trong khuôn viên, những thần xã giữ tên gọi cũ mang màu Phật Giáo. Cái phân công lớn nhất vẫn còn nguyên: việc mừng thì tới thần xã, việc tang thì tới chùa, và rất nhiều gia đình Nhật Bản có cả một kamidana trên tường lẫn một bàn thờ Phật gọi là butsudan trong cùng một nhà.

XIBa Dòng Lớn

Vì Thần Đạo không có giáo hội duy nhất và không có giáo lý thành văn, cách chia dòng của nó không giống cách chia tông phái của các đạo khác. Cách phân loại thông dụng nhất chia làm ba dòng, khác nhau ở hình thức tổ chức chứ không ở việc thờ vị nào.

Ba dòng lớn của Thần Đạo theo cách phân loại thông dụng. Chúng không loại trừ nhau, một người có thể tham dự cả ba.
DòngNguyên tự và phiên âmĐặc điểm
Thần Xã Thần Đạo神社神道 Jinja ShintōDòng lớn nhất, gắn với hệ thống thần xã trên cả nước. Không có giáo chủ, không có giáo lý thành văn, trục là nghi lễ tại thần xã và mối buộc với cộng đồng cư dân
Giáo Phái Thần Đạo教派神道 Kyōha ShintōCác giáo phái có người sáng lập, có giáo lý riêng, có tổ chức hội viên. Thời Minh Trị, mười ba giáo phái được nhà nước công nhận riêng thành một nhóm, nên còn gọi là mười ba phái
Dân Tục Thần Đạo民俗神道 Minzoku ShintōLớp tục lệ trong dân, không có tổ chức và nhiều khi không có cả thần xã: kamidana trong nhà, thờ kami của bếp và của giếng, tục của làng, lễ theo mùa. Lớp rộng nhất và khó đếm nhất

Ba dòng ấy không loại trừ nhau. Một người có thể đi lễ thần xã đầu năm theo dòng thứ nhất, giữ tục thờ kami bếp ở nhà theo dòng thứ ba, mà chẳng thuộc giáo phái nào của dòng thứ hai. Đây là chỗ khác căn bản với cách một tín đồ Công Giáo thuộc về một giáo phận. Bên cạnh ba dòng ấy, lịch sử Thần Đạo còn có những lối giải thích riêng như Ryōbu Shintō, Yoshida Shintō và Fukko Shintō, nói ở mục về Phật Giáo.

XIIThần Xã Bản Sảnh Và Giới Thần Chức

Thần Đạo không có giáo hội theo nghĩa một cơ cấu có giáo lý và có quyền quyết định về niềm tin. Cái nó có là một tổ chức hành chính bao quát các thần xã. Jinja Honchō 神社本庁, dịch sang Hán Việt là Thần xã Bản sảnh, thành lập ngày 3 tháng 2 năm 1946 từ việc ba tổ chức cũ hợp lại. Trang chính thức của tổ chức này ghi rõ hai điều: nó lấy Thần cung Ise làm bản tông, và nó bao quát khoảng tám vạn thần xã. Dưới nó, mỗi tỉnh có một jinja-chō 神社庁, tức thần xã sảnh cấp tỉnh.

Ở đây có một chỗ hai nguồn ghi lệch nhau mà thư viện xin ghi cả hai. Trang của chính Thần xã Bản sảnh nói con số là khoảng 80.000 thần xã, còn thống kê của Cục Văn hóa Nhật Bản tính tới ngày 31 tháng 12 năm 2023 ghi số pháp nhân tôn giáo thuộc hệ Thần Đạo là 84.113. Hai con số ấy đếm hai thứ khác nhau: một bên đếm thần xã nằm trong tổ chức, một bên đếm pháp nhân tôn giáo đăng ký theo luật, gồm cả những nơi ngoài Thần xã Bản sảnh và cả các giáo phái. Một số thần xã lớn hoạt động độc lập, trong đó có Fushimi Inari Taisha ở Kyoto.

Thần chức và miko

Người phụ trách công việc tế tự trong thần xã gọi chung là shinshoku 神職, tức thần chức. Tiếng Việt quen dịch theo chữ kannushi 神主, chữ mà người Nhật cũng dùng để chỉ chung người trông coi thần xã. Các bậc chức việc từ trên xuống: gūji 宮司 đứng đầu một thần xã, negi 禰宜 là người phụ tá, gon-negi 権禰宜 là chức việc thường, shutsushi 出仕 là người mới vào nghề. Thần chức không phải người xuất gia: họ lấy vợ lấy chồng, có gia đình, và ở nhiều thần xã nhỏ nghề này còn được truyền trong một dòng họ qua nhiều đời. Muốn có phẩm trật, người ta theo học tại Kokugakuin hoặc Kōgakkan. Phụ nữ có thể trở thành thần chức, kể cả giữ chức gūji.

Miko 巫女 là các thiếu nữ phụ việc trong thần xã, mặc áo trắng và quần hakama màu đỏ son, phụ lễ, dâng vật, múa lễ gọi là kagura, bán bùa và quẻ. Hai điều cần ghi cho chính xác. Một, trong cách phân loại của thần xã Nhật Bản hiện nay, miko không được xếp vào hàng thần chức. Hai, chữ miko thời cổ chỉ người nữ làm vai trung gian để kami nhập vào mà truyền lời, gần với bà đồng trong tín ngưỡng Việt Nam.

XIIISố Tín Đồ, Và Vì Sao Hai Con Số Vênh Nhau Rất Xa

Thư viện phải nói thẳng ngay từ đầu: có hai phép đếm người theo Thần Đạo, và chúng cho ra hai con số cách nhau hàng chục lần. Cả hai đều có nguồn chính thức và đều không sai theo cách đếm của mình.

Cục Văn hóa Nhật Bản, cơ quan phụ trách công việc tôn giáo, hằng năm công bố Niên giám Tôn giáo dựa trên số liệu do chính các tổ chức tôn giáo báo lên. Theo bản công bố tháng 12 năm 2024, với số liệu tính tới ngày 31 tháng 12 năm 2023, hệ Thần Đạo có 83.371.429 tín đồ84.113 pháp nhân tôn giáo.

Tổng số tín đồ trong bảng vượt xa dân số Nhật Bản, vốn ở quãng 124 triệu người. Chính chỗ vượt ấy là dấu hiệu cho thấy đây là phép đếm theo tổ chức chứ không phải theo tự nhận. Nguồn: Cục Văn hóa Nhật Bản, kết quả điều tra thống kê tôn giáo công bố tháng 12 năm 2024, số liệu tính tới ngày 31/12/2023.
HệSố pháp nhân tôn giáoSố tín đồ báo lên
Hệ Thần Đạo84.11383.371.429
Hệ Phật Giáo76.60281.069.419
Tổng cộng mọi hệ178.530172.232.847

Con số theo khảo sát hỏi tự nhận

Khi hỏi thẳng người dân rằng anh chị theo tôn giáo nào, con số đổ sụp. Các khảo sát xã hội học ở Nhật Bản từ nhiều thập niên nay đều cho ra kết quả rằng chỉ khoảng 3 phần trăm dân số tự nhận mình theo Thần Đạo.

Khảo sát của Pew Research Center về đời sống tôn giáo tại Đông Á, thực hiện trên 10.390 người trưởng thành từ tháng 6 tới tháng 9 năm 2023 và công bố ngày 17 tháng 6 năm 2024, thậm chí không tách Thần Đạo thành một mục riêng trong bảng kết quả của Nhật Bản, vì quá ít người tự nhận như vậy. Trong khảo sát ấy, 46 phần trăm người Nhật trưởng thành tự nhận là Phật tử, 42 phần trăm nói mình không theo tôn giáo nào, và chỉ 6 phần trăm nói tôn giáo rất quan trọng với đời mình. Cùng khảo sát ấy ghi nhận 70 phần trăm người Nhật nói trong mười hai tháng qua có dâng đồ ăn hoặc thức uống để tưởng nhớ tổ tiên.

Đếm theo hộ giáo khu, không theo cá nhân đăng ký

Thần xã báo số ujiko, tức cư dân thuộc địa hạt của mình. Người ta thành ujiko vì ở đó chứ không vì đã đăng ký, và không ai rút tên.

Chữ tôn giáo trong tiếng Nhật hàm ý tổ chức

Nhiều người hiểu câu hỏi là có thuộc về một tổ chức có giáo lý và có tư cách hội viên hay không, còn đi lễ thần xã đầu năm thì họ xếp vào tập tục.

Không có thủ tục cải đạo

Không có lễ nhập đạo, không có lời tuyên xưng, không có việc bỏ đạo. Thiếu cái cửa vào và cửa ra ấy thì khái niệm tín đồ không áp được vào đây.

Kết luận thành thật nhất mà thư viện này đưa ra: với Thần Đạo, câu hỏi có bao nhiêu tín đồ là một câu hỏi đặt sai. Câu hỏi đặt đúng hơn là có bao nhiêu người thực hành. Thêm một cứ liệu: Cảnh sát Nhật Bản từng công bố thống kê số người đi lễ đầu năm trên cả nước cho tới năm 2009 thì ngừng, và các con số cuối cùng ấy ở mức hàng chục triệu lượt chỉ riêng ba ngày đầu năm.

Ngoài Nhật Bản và tại Việt Nam

Gần như toàn bộ thần xã của đạo này nằm trong lãnh thổ Nhật Bản. Ngoài Nhật Bản có một số thần xã do cộng đồng người Nhật di cư lập từ đầu thế kỷ 20, tập trung ở Hawaii và Brazil, quy mô rất nhỏ và phục vụ cộng đồng di cư chứ không phải kết quả của một phong trào truyền đạo.

Tại Việt Nam, Thần Đạo không có tư cách pháp nhân và không có cơ sở thờ tự. Theo số liệu Ban Tôn giáo Chính phủ công bố ngày 01 tháng 8 năm 2025, Việt Nam công nhận 16 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký hoạt động, trên 27,7 triệu tín đồ29.890 cơ sở thờ tự, trong đó không có Thần Đạo.

XIVTrong Con Mắt Phong Thủy

Xin nói rõ trước một câu, vì câu này quyết định cách đọc cả mục: Thần Đạo không dạy phong thủy. Không có bài khấn nào bàn về long mạch, không có văn bản nghi lễ nào nói tới tọa hướng theo bát trạch, và không một thần chức nào được đào tạo để xem hướng nhà. Mục này viết ra không phải để gán phong thủy cho Thần Đạo, mà để bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt có chỗ đối chiếu.

Người Nhật có thuật xem nhà riêng, gọi là kasō

Người Nhật một thuật xem tướng nhà, gọi là kasō 家相, chữ Hán Việt đọc là gia tướng. Cần ghi rõ ba điều.

Một, kasō không phải một bộ phận của Thần Đạo. Nó gắn với Onmyōdō 陰陽道, âm dương đạo, một môn thuật số du nhập từ đại lục và trở thành một ngành trong triều đình từ thời Nara và Heian, có chức quan chuyên trách gọi là âm dương sư. Gốc lý luận của nó là âm dương và ngũ hành.

Hai, kasō có kiêng kỵ rất đặc trưng Nhật Bản, nổi bật nhất là kimon 鬼門, quỷ môn, chỉ hướng đông bắc, bị coi là hướng dữ, và hướng đối diện tây nam gọi là urakimon. Người ta tránh đặt bếp, nhà tắm và nhà vệ sinh vào hai hướng ấy, một hệ kiêng kỵ không quy đổi thẳng sang cung phi Đông tứ mệnh Tây tứ mệnh được.

Ba, kinh đô Heian-kyō 平安京, tức Kyoto ngày nay, lập năm 794, được ghi nhận là chọn đất theo nguyên tắc shijin sōō 四神相応, tức tứ thần tương ứng, đúng bộ tứ tượng mà người Việt quen gọi: Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ.

Thần xã hướng theo quy tắc gì

Câu trả lời thành thật là: Thần Đạo không có một luật chung về hướng. Nhà thờ Công Giáo có truyền thống hướng đông, thánh đường Hồi Giáo hướng về Mecca, còn thần xã Nhật Bản thì không có quy tắc bắt buộc nào tương đương. Cái quyết định thế đất và hướng của một thần xã là quan hệ với vật thiêng: nếu thần thể là một ngọn núi hay một tảng đá thì nhà bái phải quay mặt về phía ấy. Nhiều thần xã quay về hướng nam hoặc hướng đông, nhưng đây là xu hướng quan sát được chứ không phải điều luật.

Đối chiếu một số nét của thần xã với khái niệm quen thuộc trong phong thủy cổ truyền Việt Nam. Cột bên phải là cách đọc của thư viện, không phải giáo nghĩa Thần Đạo.
Nét của thần xãChỗ đối chiếu theo lối Việt
Thần xã dựa lưng vào núi hoặc rừng, mặt mở ra khoảng trốngGần với thế tọa sơn hướng thủy và ý niệm có chỗ dựa vững phía sau, có minh đường thoáng phía trước
Cổng torii làm ranh giới, lối đi giữa để trốngGần với lối nghĩ về khí khẩu và về việc cửa vào phải rõ ràng, có chỗ dừng trước khi vào trong
Điện chính đặt ở chỗ cao, sâu, kín, thường không ai vàoGần với nguyên tắc đặt bàn thờ ở chỗ cao, sạch, yên, tường vững phía sau, tránh lối đi lại
Dây shimenawa giăng quanh cây lớn và đá lớnGần với tục buộc vải đỏ, lập miếu nhỏ dưới gốc đa gốc gạo của làng Việt, đều là cách đánh dấu một chỗ được coi là có thần
Chỗ hay hiểu lầm

Lớp thứ nhất, của chính Thần Đạo. Ranh giới thiêng và thường, phép tẩy trước khi vào, chỗ thờ gắn với vật thiêng và với cộng đồng. Đây là giáo nghĩa, và trong đó không có phong thủy.

Lớp thứ hai, của một môn khác ở Nhật Bản. Kasō và Onmyōdō, với kimon hướng đông bắc, và nguyên tắc tứ tượng khi lập Heian-kyō năm 794. Đây là thuật số gốc đại lục, không phải giáo nghĩa Thần Đạo.

Lớp thứ ba, cách đọc của thư viện này. Bảng đối chiếu ở trên, chỉ để người quen lối Việt hình dung được không gian một thần xã. Xem hướng nhà theo bát trạch không phải là thực hành Thần Đạo, cũng như bước qua một cái torii không phải là thực hành phong thủy.

XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Thần Đạo là đạo bị hiểu lệch nhiều trong sách phổ thông tiếng Việt, một phần vì nó không có văn bản nào để tra cho dứt khoát, một phần vì phần lớn thông tin tới với người Việt qua ngả du lịch và phim ảnh. Mục này gom những chỗ hay được hỏi nhất.

Torii là cổng chùa Nhật Bản

Không. Torii 鳥居 là dấu hiệu của thần xã, tức nơi thờ của Thần Đạo. Chùa Phật Giáo Nhật Bản có cổng riêng, thường là công trình có mái lợp, có khi có tầng và có tượng hộ pháp. Vì hai đạo từng hòa lẫn nghìn năm nên vẫn có ngoại lệ, nhưng nguyên tắc chung là gặp torii thì nghĩ tới thần xã.

Kami là thần theo nghĩa toàn năng

Không. Kami không toàn năng, không toàn tri, không phải đấng sáng thế đứng ngoài thế giới, và có cả mặt dữ lẫn mặt lành. Dịch thẳng sang chữ thần của tiếng Việt là kéo theo cả lớp nghĩa phẩm trật và sắc phong của Đạo Giáo, vốn không có trong khái niệm kami.

Thần xã và chùa là một

Không. Thần xã 神社 thờ kami, có torii, có dây shimenawa, người lễ vỗ tay, người trông coi là thần chức và có gia đình. Chùa thờ Phật và Bồ Tát, người lễ chắp tay mà không vỗ tay, người trông coi là tăng sĩ. Đuôi tên jinja, jingū, taisha là thần xã, đuôi ji, dera, in là chùa.

Thần Đạo có bao nhiêu tín đồ thì cứ tra một con số là xong

Không đọc được như thế. Thần Đạo không có khái niệm cải đạo, không có lễ nhập đạo và không có việc rút tên, nên con số tín đồ được tính theo hộ giáo khu. Thống kê nhà nước Nhật ghi hơn 83 triệu, khảo sát hỏi tự nhận ra chừng 3 phần trăm dân số.

Tám triệu kami nghĩa là có đúng tám triệu vị

Không. Yaoyorozu no kami 八百万の神 là một thành ngữ ước lệ, nghĩa là nhiều tới mức không đếm được. Con số đếm được duy nhất là trong sổ tên thần của bộ Engishiki năm 927, với 2.861 thần xã và hơn ba nghìn kami.

Thần Đạo là Đạo Giáo của Nhật Bản

Không. Hai chữ 神道 đọc theo lối Hán Việt là Thần Đạo, nhưng đây là đạo bản địa của quần đảo Nhật Bản, không phải nhánh Nhật Bản của Đạo Giáo Trung Hoa. Cái thật sự từ đại lục sang và ở lại trong triều đình Nhật là môn Onmyōdō, tức âm dương đạo.

XNơi Của Đạo Này Trên Đất Việt

Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.

Xem bảng chung các nơi tâm linh của cả nước

?Hỏi Đáp Nhanh

Thần Đạo là gì

Thần Đạo, tiếng Nhật là Shintō, viết là 神道, là đạo bản địa của quần đảo Nhật Bản. Nó không có người sáng lập, không có một bộ kinh bắt buộc và không có bản tín điều. Trung tâm của nó là kami, tức những gì vượt ra ngoài lẽ thường tới mức gây kính sợ, gồm cả các vị trong thần thoại, các ngọn núi và dòng sông, lẫn những người có công đã khuất. Trục đạo đức của nó là cặp trong sạch và ô uế chứ không phải cặp thiện và ác, nên mọi nghi lễ đều mở đầu bằng một động tác tẩy. Nơi thờ gọi là thần xã, nhận ra từ xa bằng cổng torii.

Ai sáng lập ra Thần Đạo

Không ai cả. Thần Đạo không có người sáng lập, không có ngày khai lập và không có ai giữ bản chuẩn. Nó lớn dần từ tục thờ núi, biển, đá, cây và người đã khuất trên quần đảo Nhật Bản, rồi mới có tên gọi khi Phật Giáo vào từ thế kỷ 6 và người ta cần một chữ để phân biệt lối thờ cũ với đạo mới. Vị kami đứng đầu trong mạch thần thoại là Thiên Chiếu Đại Thần, viết là 天照大神, được thờ tại Thần cung Ise, nhưng vị ấy là một nhân vật trong thần thoại chứ không phải một người sáng lập có thật như Đức Phật hay Khổng Tử.

Thần Đạo có bao nhiêu tín đồ

Câu trả lời tùy phép đếm, và hai phép đếm cách nhau rất xa. Theo Cục Văn hóa Nhật Bản, số liệu tính tới ngày 31 tháng 12 năm 2023 và công bố tháng 12 năm 2024, hệ Thần Đạo có 83.371.429 tín đồ với 84.113 pháp nhân tôn giáo. Nhưng đó là đếm theo hộ giáo khu, tức cư dân thuộc địa hạt của từng thần xã. Khi hỏi thẳng người dân tự nhận theo đạo nào thì chỉ khoảng 3 phần trăm nói mình theo Thần Đạo, và khảo sát Đông Á của Pew Research Center thực hiện từ tháng 6 tới tháng 9 năm 2023, công bố ngày 17 tháng 6 năm 2024, còn không tách Thần Đạo thành một mục riêng vì quá ít người tự nhận.

Torii là gì và có phải cổng chùa không

Torii, viết là 鳥居, là cổng của thần xã Thần Đạo, gồm hai cột đứng và hai thanh ngang. Nó không phải cổng chùa. Chức năng của nó là một đường ranh giới: bước qua torii là rời cõi thường mà vào khu vực thuộc về kami. Vì thế người đi lễ theo phép thì cúi đầu trước khi bước qua và tránh đi vào chính giữa lối vào, vì lối giữa được coi là lối của kami. Torii không nhất thiết đứng ở cổng, còn được dựng giữa ruộng, giữa rừng, dưới biển hoặc trước một tảng đá lớn, và chỗ nào có torii là chỗ ấy được đánh dấu là thiêng.

Đi thần xã Nhật Bản phải lễ thế nào cho đúng

Phép phổ biến nhất gọi là hai lạy, hai vỗ tay, một lạy, tiếng Nhật là nirei nihakushu ichirei. Trước khi vào, rửa tay ở bể nước temizuya: múc một gáo, rửa tay trái, rửa tay phải, hứng nước vào lòng tay trái để súc miệng, rồi dựng gáo cho nước chảy xuôi theo cán. Tới trước nhà bái thì thả tiền lẻ vào hòm, rung chuông nếu có, cúi mình hai lần, vỗ tay hai tiếng, chắp tay khấn rồi cúi một lần nữa. Cần biết rằng một số thần xã lớn giữ lệ riêng, chẳng hạn vỗ tay bốn lần, nên gặp lệ khác thì đó là tục của nơi ấy chứ không phải ai làm sai.

Thần Đạo và Phật Giáo ở Nhật khác nhau thế nào

Thần xã thờ kami, có torii, có dây shimenawa, người lễ vỗ tay, người trông coi gọi là thần chức và có gia đình. Chùa thờ Phật và Bồ Tát, cổng có mái lợp, thường có tháp và chuông lớn, người lễ chắp tay mà không vỗ tay, người trông coi là tăng sĩ. Cần biết thêm rằng hai đạo đã hòa lẫn suốt hơn một nghìn năm trong tình trạng gọi là shinbutsu shūgō, tới mức một khuôn viên có cả chùa lẫn thần xã, và mãi năm 1868 chính quyền Minh Trị mới ra lệnh shinbutsu bunri tách hai bên ra. Tới nay vẫn còn nhiều dấu vết của thời hòa lẫn ấy.

Vì sao đền Ise được xây lại 20 năm một lần

Lệ ấy gọi là Shikinen Sengū, viết là 式年遷宮. Cứ hai mươi năm một lần, toàn bộ điện thờ chính của cả nội cung lẫn ngoại cung Thần cung Ise được dựng lại hoàn toàn mới trên khoảnh đất kề bên, theo đúng kích thước và lối cũ, cùng toàn bộ đồ thờ và y phục lễ. Kỳ gần nhất là kỳ thứ 62 năm 2013, kỳ tiếp theo dự kiến năm 2033. Truyền thống ghi lệ này bắt đầu khoảng năm 690. Về mặt thực tế, nó giữ được tay nghề và quy cách qua từng thế hệ thợ. Lệ này từng bị gián đoạn hơn một trăm năm trong thời nội chiến thế kỷ 15 tới 16.

Người nước ngoài có theo Thần Đạo được không

Thần Đạo không có thủ tục cải đạo, không có lễ nhập đạo cho người thường, không có lời tuyên xưng và không có sổ ghi danh tín đồ theo lối các đạo có giáo hội. Vì vậy câu hỏi theo hay không theo đặt ra ở đây không có chỗ trả lời dứt khoát. Trên thực tế, ai cũng có thể vào thần xã, rửa tay, hành lễ, mua bùa và dự lễ hội, và việc đó không đòi hỏi bất cứ thủ tục nào. Điều duy nhất được kỳ vọng là giữ đúng phép tắc nơi thờ tự, nhất là phần tẩy sạch trước khi vào và việc tránh đi vào chính giữa lối dẫn.

Đọc Tiếp