
Đạo quán thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, một trong Thăng Long tứ trấn, trấn giữ phương Bắc. Đây là nơi giữ được lễ thức Đạo Giáo rõ nét nhất trong các di tích còn lại ở Hà Nội.
Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Các đạo có mặt: Phật Giáo, Thờ Cúng Tổ Tiên, Công Giáo, Đạo Mẫu Tứ Phủ, Ấn Độ Giáo, Đạo Giáo, Hồi Giáo, Nho Giáo, Đạo Cao Đài, Tin Lành, Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hòa Hảo, Chính Thống Giáo, Bahá'í
Bốn trăm hai mươi nơi đã viết ở Việt Nam. Mỗi nơi ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng, lễ tiết, cùng đường tới nơi.
Mỗi chấm là một nơiRê chuột lên để xem tên, bấm để mở trang nơi ấy
Cả 420 trang đều đã có bản tiếng Anh.

Đạo quán thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, một trong Thăng Long tứ trấn, trấn giữ phương Bắc. Đây là nơi giữ được lễ thức Đạo Giáo rõ nét nhất trong các di tích còn lại ở Hà Nội.
Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Văn Xương Đế Quân của Đạo Giáo cùng Hưng Đạo Đại Vương, là một trong những nơi thể hiện rõ nhất lối Tam Giáo đồng nguyên của người Việt.
Ảnh: Richard Mortel from Riyadh, Saudi Arabia, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa biểu tượng của xứ Huế, dựng trên đồi Hà Khê nhìn ra sông Hương. Tháp Phước Duyên bảy tầng là hình ảnh quen thuộc nhất của Phật Giáo Việt Nam.
Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền thuần Việt đầu tiên. Cả ngọn núi là một quần thể chùa am nối nhau lên đỉnh.
Ảnh: Imgcloud, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Quần thể chùa động trong lòng núi đá vôi, thờ Quán Thế Âm. Lễ hội chùa Hương kéo dài suốt ba tháng đầu năm âm lịch, dài nhất Việt Nam.
Ảnh: Hoàng Việt at vi.wikipedia, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi chùa dựng trên một cột đá giữa hồ, hình đóa sen nở, do vua Lý Thái Tông cho xây sau một giấc mộng thấy Quán Thế Âm.
Ảnh: Thomas Schoch, CC BY-SA 2.5, Wikimedia Commons

Gồm chùa cổ trong hang núi có từ đời Lý và khu chùa mới dựng đầu thế kỷ 21, một trong những quần thể chùa lớn nhất Đông Nam Á.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa cổ nhất còn lại ở Sài Gòn, tổ đình của phái Lâm Tế ở Nam Bộ, giữ nguyên lối kiến trúc chùa Nam Bộ thế kỷ 18.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chùa lớn giữa lòng Sài Gòn, dựng theo lối chùa miền Bắc, mang tên tổ đình Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang của Thiền phái Trúc Lâm.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Nơi thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền, đồng thời là trường đại học đầu tiên của nước Việt. Bia tiến sĩ ở đây là di sản tư liệu thế giới.
Ảnh: The original uploader was Chuoibk at English Wikipedia., CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Trung tâm thờ Mẫu Liễu Hạnh, một trong Tứ bất tử của người Việt. Đây là cái nôi của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Ảnh: Thang Nguyen from Nottingham, United Kingdom, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Tòa nhà thờ gạch đỏ không tô trát dựng năm 1877 tới 1880 theo đồ án của kiến trúc sư Jules Bourard giữa lòng Sài Gòn, hai tháp chuông cao gần sáu mươi mét vươn trên quảng trường Công xã Paris. Đây là Nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1960 và mang tước hiệu Vương cung thánh đường.
Ảnh: rjabalosIII, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Quần thể nhà thờ Công giáo do linh mục Phêrô Trần Lục (cụ Sáu) chủ trì dựng từ 1875 đến 1899 theo ngôn ngữ kiến trúc đình chùa Việt Nam, gồm phương đình ba tầng bằng đá xanh, nhà thờ lớn với sáu hàng cột gỗ lim nguyên khối, bốn nhà thờ cạnh, nhà thờ đá và ba hang đá nhân tạo.
Ảnh: Unknown, but published in 1926, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Trung tâm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, công trình hợp nhất lối kiến trúc Á Đông và phương Tây, nơi đặt Thiên Nhãn lớn nhất của đạo Cao Đài.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi nhà ở làng Hòa Hảo nơi Đức Huỳnh Giáo Chủ khai đạo năm 1939, cùng ngôi An Hòa Tự kề bên. Tín đồ gọi chung cả vùng này là cội nguồn của đạo.
Ảnh: Mrfly911, CC0, Wikimedia Commons

Nơi thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, đầu mối của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở tầm quốc gia. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được UNESCO ghi danh.
Ảnh: Hoài Hương, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nơi hành hương đông bậc nhất Nam Bộ, thờ Bà Chúa Xứ trên nền một pho tượng đá cổ. Lễ hội Vía Bà đã được UNESCO ghi danh năm 2024.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ba toà đền trên nền cung Trùng Quang của hành cung Thiên Trường, thờ mười bốn vị vua Trần và Hưng Đạo Đại Vương. Lễ Khai Ấn rằm tháng Giêng nổi tiếng cả nước.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC0, Wikimedia Commons

Phủ thờ Mẫu Liễu Hạnh bên hồ Tây, nơi lui tới quen thuộc nhất của người Hà Nội mỗi mùng một và rằm. Một trong những chốn hầu đồng còn giữ nếp xưa giữa nội thành.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa được coi là cổ nhất Thăng Long, dựng từ thời Lý Nam Đế trên bãi sông Hồng rồi dời vào gò Kim Ngư giữa hồ Tây.
Ảnh: Rolfmueller, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Tổ đình trên núi Bà Đen, thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, nơi hành hương lớn nhất Đông Nam Bộ mỗi dịp đầu năm và hội Vía Bà tháng Năm âm lịch.
Ảnh: Trung Quân, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của bốn bang người Hoa đất Thủ, nơi diễn ra lễ rước kiệu rằm tháng Giêng thu hút hàng vạn người mỗi năm.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Đền thờ một vị nữ thần coi kho lương thời Lý, về sau thành nơi giới buôn bán cả nước tới vay lộc đầu năm và trả lễ cuối năm.
Ảnh: Thang Nguyen from Nottingham, United Kingdom, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa được coi là xưa nhất nước, cái nôi của Phật giáo Luy Lâu và của tín ngưỡng Tứ Pháp, nơi thờ Pháp Vân.
Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa gỗ thời Lê còn nguyên vẹn bậc nhất, nổi tiếng với gác chuông ba tầng mười hai mái dựng hoàn toàn bằng mộng gỗ.
Ảnh: Daaé, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn giữa rừng Hữu Lũng, một trong những cửa đền trọng nhất của giới hầu đồng, gắn với Chầu Bé Bắc Lệ.
Ảnh: Unknown photographer (Collection Julie Vola), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Chùa Bắc tông trên khu đất rộng hai mươi héc-ta ở sườn đông nam bán đảo Sơn Trà, do cố Hòa thượng Thích Thiện Nguyện khai sơn từ năm 2004 và khánh thành năm 2010, nổi bật với tượng Quán Thế Âm cao sáu mươi bảy mét nhìn ra vịnh Đà Nẵng.
Ảnh: Khoitran1957, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Cửa đền của Quan Hoàng Mười, vị thánh xứ Nghệ trong hàng Tứ Phủ, một trong những nơi hành hương lớn của giới hầu đồng miền Trung.
Ảnh: Đền Ông Hoàng Mười, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm từ thời Trần tại ngã ba Phượng Nhãn, thuộc Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa thế giới năm 2025, đồng thời lưu giữ kho mộc bản kinh Phật là Di sản tư liệu khu vực châu Á, Thái Bình Dương.
Ảnh: ngocchat1014, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính toà của Tổng giáo phận Hà Nội, khánh thành lễ Giáng Sinh năm 1886, công trình Gothic sớm nhất còn đứng giữa phố cổ.
Ảnh: Cookie Nguyen, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Trấn phương Đông trong Thăng Long tứ trấn, thờ thần Long Đỗ, vị thần đất của kinh thành. Đây là ngôi đền cổ nhất còn lại giữa khu phố cổ Hà Nội.
Ảnh: Greg Willis, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Trấn phương Tây trong Thăng Long tứ trấn, thờ Linh Lang Đại Vương, một hoàng tử đời Lý. Tên đền lấy từ đôi voi đá quỳ phục hai bên lối vào.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Trấn phương Nam trong Thăng Long tứ trấn, thờ Cao Sơn Đại Vương. Tấm bia đá đời Lê còn giữ được là hiện vật quý nhất của đền.
Ảnh: Binh Giang, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi chùa giữ pho Quan Âm nghìn mắt nghìn tay của Trương Thọ Nam, tác phẩm điêu khắc gỗ hàng đầu của mỹ thuật Việt Nam, cùng cây cầu đá và tháp Báo Nghiêm.
Ảnh: Jean-Pierre Dalbéra, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Chùa trên núi Lạn Kha, giữ pho tượng A Di Đà bằng đá thời Lý và hàng linh thú đá mười con, những hiện vật sớm nhất của điêu khắc Phật giáo Đại Việt.
Ảnh: Bongbech, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nơi thờ tám vị vua nhà Lý trên đất Cổ Pháp, quê tổ của dòng họ. Đền giữ bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi do Phùng Khắc Khoan soạn.
Ảnh: Truongson78, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chùa gắn với Thiền sư Từ Đạo Hạnh, dựng theo lối tiền Phật hậu Thánh bên hồ Long Chiểu, có hai cầu ngói Nhật Tiên và Nguyệt Tiên và thủy đình múa rối nước.
Ảnh: Hoài Dương Phạm, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa trên đỉnh núi Câu Lậu giữ bộ tượng gỗ mít thời Tây Sơn gồm 34 pho được công nhận bảo vật quốc gia, nổi bật với mười tám vị Tổ truyền đăng (quen gọi là mười tám vị La Hán), bộ Tuyết Sơn và Bát bộ Kim Cương.
Ảnh: Liftold at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa giữa lòng Hà Nội, xưa là công quán tiếp sứ thần các nước láng giềng, nay là trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ảnh: thalling55, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương dựng trên chính đất bản doanh Vạn Kiếp, cửa đền trọng nhất của tín ngưỡng Đức Thánh Trần trong cả nước.
Ảnh: Handyhuy (thảo luận) 14:20, ngày 21 tháng 4 năm 2008 (UTC), CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Một trong ba chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm, nơi Đệ tam tổ Huyền Quang viên tịch và nơi Nguyễn Trãi về ở ẩn.
Ảnh: Hoangkid, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền nhìn ra vịnh Bái Tử Long, thờ Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, nơi hành hương lớn nhất vùng Đông Bắc.
Ảnh: Hoangkid, CC BY 3.0, Wikimedia Commons
Ngôi chùa bên sông Đáy đi vào câu ví vắng như chùa Bà Đanh, thờ Phật cùng Tứ Pháp theo lối chùa làng vùng chiêm trũng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Nơi thờ nữ tướng Lê Chân, người lập ra làng An Biên tức gốc của thành phố Hải Phòng, và là thành hoàng của đất cảng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Được coi là ngôi chùa cổ nhất Hải Phòng, giữ bộ Trường A Hàm và gần ba trăm mộc bản, là chốn tổ của Phật giáo đất cảng.
Ảnh: Ditichlichsu, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nơi thờ Bà Triệu dưới chân núi Gai, cùng lăng mộ trên đỉnh núi Tùng, một trong những đền thờ nữ anh hùng lâu đời nhất nước.
Ảnh: Gió Đông at vi.wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Quần thể đền phủ nằm rải trên sườn núi Nưa, thờ Mẫu Thượng Ngàn và Cô Chín, cửa đền lớn của giới hầu đồng xứ Thanh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Đứng đầu bốn ngôi đền thiêng xứ Nghệ, thờ Tứ Vị Thánh Nương, nữ thần che chở người đi biển suốt dải duyên hải Bắc Trung Bộ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền thứ hai trong bốn đền thiêng xứ Nghệ, thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, người khai mở đất Nghệ An thời Lý.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Cửa đền bên bờ sông Lam thờ Quan Hoàng Mười, nơi hành hương lớn của giới hầu đồng, đứng cùng đền Nghệ An trong câu chuyện về vị thánh ấy.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Chùa trên núi Hồng Lĩnh gắn với sự tích công chúa Diệu Thiện, được coi là gốc của tên Hương Tích mà chùa Hương ngoài Bắc mang theo.
Ảnh: Anh Họ Nguyễn, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc của Giáo hội Công giáo Việt Nam tại vùng đồi thấp Quảng Trị, gắn với sự tích Đức Mẹ hiện ra năm 1798, được Giáo hoàng Gioan XXIII nâng lên hàng Tiểu Vương cung thánh đường năm 1961, nổi bật với ngọn tháp chuông cổ ba tầng và ngôi Vương cung thánh đường mới khởi công năm 2012.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa được coi là cổ nhất miền Trung, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông từng ghé trên đường vào Chiêm Thành năm 1301.
Ảnh: Genghiskhan, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi điện bên sông Hương thờ Thiên Y A Na, vị nữ thần gốc Chăm được người Việt tiếp nhận, nơi giữ lễ hầu đồng trên thuyền có một không hai.
Ảnh: Lưu Ly (thảo luận), CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Tổ đình do Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơn, nơi Thiền sư Liễu Quán đắc pháp, và là trung tâm của phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ 20.
Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa mang tên chữ Hiếu, nổi tiếng vì khu mộ các vị thái giám triều Nguyễn nằm ngay trong khuôn viên, và là chốn tổ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Tổ đình trên đồi Hàm Long, nơi đặt Phật học viện đào tạo tăng tài của xứ Huế, giữ giếng Hàm Long và nhiều bảo tháp tổ sư.
Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa Tổng giáo phận Huế, công trình hiện đại do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, mặt bằng hình thánh giá và mái vươn lên như hai bàn tay chắp.
Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Trung tâm tế tự Ấn Độ Giáo của vương quốc Chăm Pa suốt hơn chín thế kỷ, thờ thần Shiva dưới hiệu Bhadresvara, được UNESCO ghi danh năm 1999.
Ảnh: Philip Nalangan, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Năm ngọn núi đá vôi mang tên ngũ hành, trong lòng là hệ hang động và chùa chiền, với Tam Thai và Linh Ứng là hai quốc tự do vua Minh Mạng ban sắc.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Tổ đình trên đỉnh núi Thiên Ấn bên sông Trà Khúc, được chúa Nguyễn ban biển sắc tứ, nổi tiếng với giếng Phật và chuông Thần.
Ảnh: Daoduyan09, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa dựng chủ yếu bằng gỗ cà chít kết hợp vách đất trộn rơm theo lối Roman ghép với nhà rông Tây Nguyên, công trình gỗ lớn bậc nhất còn lại của vùng cao nguyên.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Tổ đình cổ nhất miền Trung của phái Lâm Tế, do Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn trên nền mười ngôi tháp Chăm cũ bên thành Đồ Bàn.
Ảnh: Leemyongpak, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Quần thể đền tháp Chăm thờ nữ thần Po Nagar, nơi người Chăm và người Việt cùng hành lễ suốt nhiều thế kỷ, gốc của tín ngưỡng Thiên Y A Na.
Ảnh: 4pf3154f7, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa lớn nhất Khánh Hòa dưới chân núi Trại Thủy, với pho Kim Thân Phật Tổ trắng ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống cả thành phố.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa Kitô Vua dựng bằng táp lô xi măng trên núi Bông, lối Gothic Pháp, tháp chuông có đồng hồ bốn mặt và dàn chuông đúc ở Pháp. Tên dân gian nhà thờ Đá đặt theo sắc xám của táp lô chứ không phải vật liệu đá.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Cụm tháp Chăm còn đủ ba nếp nguyên vẹn trên đồi Trầu, thờ vua Po Klong Garai được thần hóa dưới dạng linga có mặt người, nơi người Chăm hành lễ Katê hằng năm.
Ảnh: Lam Tr Th, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Một trong những thánh đường lớn của người Chăm Bàni, dòng Hồi giáo bản địa hóa lâu đời ở Nam Trung Bộ, nơi giữ lễ Ramưwan theo lịch Chăm.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Cụm ba tháp Chăm trên đồi Bà Nài nhìn ra biển, thờ thần Shiva rồi về sau thờ thêm công chúa Po Sah Inư, nơi mở hội Katê của người Chăm Bình Thuận cũ.
Ảnh: Vinnie Cartabiano, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Nơi thờ vợ chồng một vị đạo sĩ được dân vùng biển tôn là Thầy và Thím, giữa rừng dầu Bàu Cái, một trong những lễ hội lớn nhất vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chùa trên núi Tà Cú gắn với Tổ Hữu Đức, nơi có pho Thích Ca nhập Niết Bàn dài bốn mươi chín mét tạc nằm theo sườn núi.
Ảnh: Liftold at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thiền viện lớn nhất của dòng Trúc Lâm phục hưng do Hòa thượng Thích Thanh Từ khai sơn, nơi tu học theo lối thiền Trúc Lâm Yên Tử giữa rừng thông Đà Lạt.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa khảm mảnh sành sứ từ chân tháp tới nóc điện, có tháp chuông bảy tầng cao nhất Việt Nam và con rồng ghép từ hàng vạn vỏ chai.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa Giáo phận Đà Lạt theo lối Roman, mang tên dân gian từ con gà trống bằng đồng trên đỉnh tháp chuông cao bốn mươi bảy mét.
Ảnh: Original uploader was Dongson.vmvn at vi.wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa cuối cùng được triều Nguyễn ban biển sắc tứ, dựng theo lối nhà rường Huế ghép với nhà dài Ê Đê, tổ đình của Phật giáo Tây Nguyên.
Ảnh: DXLINH, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Đạo quán của người Hoa thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng cả hệ thần linh Đạo Giáo, với bộ tượng gỗ thếp vàng và điện Thập Điện Diêm Vương chạm khắc kín tường.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Lăng mộ và miếu thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, nơi người Sài Gòn xưa tới thề nguyền trước án, và là một trong những di tích cổ nhất còn lại của đất Gia Định.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Hội quán của người Hoa gốc Quảng Đông thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, nổi tiếng với dải phù điêu gốm Thạch Loan trên nóc và rừng nhang vòng treo kín trần.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Hội quán chung của người Hoa hai phủ Chương Châu và Tuyền Châu, thờ Bổn Đầu Công, ngôi miếu Hoa vào loại sớm nhất còn lại ở Chợ Lớn.
Ảnh: choi kwangmo, CC0, Wikimedia Commons

Đền Ấn Độ Giáo do cộng đồng người Tamil dựng giữa Sài Gòn, thờ nữ thần Mariamman, nay người Việt tới lễ đông không kém người Ấn.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thánh đường Hồi giáo trung tâm của Sài Gòn, do cộng đồng người Ấn gốc Nam Á dựng, nay là nơi hành lễ của tín đồ nhiều quốc tịch giữa lòng quận nhất.
Ảnh: Dragfyre, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa dựng để tôn trí xá lợi Phật, mang lối kiến trúc hiện đại với tháp chuông bảy tầng, và là nơi đặt thư viện Phật học lớn của Sài Gòn.
Ảnh: Tác giả Wikimedia Commons, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa mang tên nước, nay là trụ sở Ban Trị sự Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, với bảo tháp mười ba tầng cao sáu mươi ba mét.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer đầu tiên dựng ở Sài Gòn, mái cong nhiều tầng theo lối Khmer, nơi giữ lễ Chôl Chnăm Thmây giữa lòng thành phố.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi nhà thờ toàn thân màu hồng theo lối Roman kết hợp Gothic và Phục Hưng, một trong những giáo đường lớn và lâu đời nhất của Tổng giáo phận Sài Gòn.
Ảnh: Ngô Trung, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đền thờ Hưng Đạo Đại Vương giữa Sài Gòn, do người Bắc di cư lập, nơi giữ nghi lễ hầu Thánh dòng Trần Triều ở phương Nam.
Ảnh: Gary Todd from Xinzheng, China, CC0, Wikimedia Commons

Quần thể tượng đài Phật giáo Nam tông trên sườn núi Lớn, dựng theo bốn chặng cuộc đời Đức Phật, với bảo tháp Xá Lợi và pho Thích Ca ngồi trên toà sen lớn.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Cụm ba di tích gồm đình Thần, Lăng Cá Ông và miếu Bà Ngũ Hành, nơi giữ trọn vẹn tín ngưỡng thờ Cá Ông của cư dân đi biển Nam Bộ.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Văn miếu đầu tiên của xứ Đàng Trong, dựng trước Văn miếu Gia Định và Vĩnh Long, nơi thờ Khổng Tử và tôn vinh đạo học của vùng đất mới.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Một trong những ngôi chùa cổ nhất Nam Bộ, dựng trên sườn núi Bửu Long, giữ pho tượng A Di Đà tạc bằng gỗ từ đầu thế kỷ 19 cùng các bức chạm trên cổng tam quan.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi cổ tự dưới chân núi Sam, nổi bật với ba ngôi tháp mái vòm kiểu Ấn kết hợp kiến trúc Việt. Đây cũng là nơi yên nghỉ của Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, tổ khai sáng Bửu Sơn Kỳ Hương.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Sơn Lăng của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, vị quan đã chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế và mở đất Châu Đốc. Trong lăng còn bia Vĩnh Tế Sơn và mộ hai bà phu nhân.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Chùa Nam Tông Khmer cổ nhất An Giang, dựng năm 1696 rồi xây lại bằng gạch ngói năm 1896. Nơi đây lưu giữ bộ sưu tập kinh lá buông lớn nhất Việt Nam.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thánh đường Hồi Giáo Islam của cộng đồng Chăm bên bờ sông Hậu, dựng từ giữa thế kỷ 18 và xây lại năm 1965 theo thiết kế của kiến trúc sư Mohamet Amin. Đây là trung tâm tôn giáo của người Chăm Châu Giang.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Đình thần thờ Nguyễn Trung Trực bên cửa sông Kiên, khởi đầu từ việc dân chài Rạch Giá thỉnh linh vị ông vào ngôi đình thờ thần Nam Hải có trước rồi dời về vị trí hiện nay năm 1891, nay là nơi mở lễ giỗ lớn nhất vùng vào cuối tháng Tám âm lịch.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Miếu thờ thần biển trên mũi đá cửa sông Dương Đông, nguyên là Long Vương thần miếu của dân đi biển Phú Quốc. Ngôi miếu hiện nay được dựng năm 1937, thờ Chúa Ngọc cùng Cậu Tài và Cậu Quý.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Hội quán của người Hoa hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh, dựng từ năm 1894 đến 1896, thờ Quan Thánh Đế Quân cùng Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chùa còn gần như nguyên khung gỗ và phần lớn vật liệu chở từ Quảng Đông sang.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Chùa Nam Tông Khmer dựng năm 1569, tên chính thức là Sêrâytêchô Mahatup. Vườn chùa là nơi cư trú của đàn dơi ngựa quý, loài có sải cánh tới một mét rưỡi.
Ảnh: Phucphucphuc, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chùa Nam Tông Khmer lâu đời nhất Sóc Trăng, khởi dựng năm 1533 và xây lại chánh điện năm 1918. Chùa là nơi đặt Trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Chùa Nam Tông Khmer bên Ao Bà Om, tên Khmer là Angkorajaborey, dựng năm 1695 và xây lại bằng gạch ngói năm 1842. Chùa nằm trong cụm di tích cùng Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khmer.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Khu thờ Quán Thế Âm hướng ra biển Đông, khởi đầu từ một ngôi nhà lá của dân đi biển. Tượng Mẹ Nam Hải cao mười một mét theo phần lớn tư liệu được dựng trong những năm 1973 tới 1975.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ giáo xứ bên quốc lộ 1A, nơi an nghỉ của Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị được Giáo hội tuyên phong Chân phước tử đạo năm 2026 trong thánh lễ cử hành tại chính nơi này.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Tổ đình dòng Lâm Tế ở Mỹ Tho cũ, nổi tiếng vì lối kiến trúc pha năm nguồn Việt, Hoa, Khmer, Pháp và Chăm, với cổng tam quan khảm sành sứ và hệ tượng gỗ cổ.
Ảnh: GiaoThong2013, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền hội quán của người Hoa gốc Phúc Kiến ở Sa Đéc, khởi công năm 1924 và hoàn thành năm 1927, thờ Quảng Trạch Tôn Vương tức Ông Quách. Công trình nổi bật với mái ngói âm dương và tranh tường.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa cổ nhất Long An cũ, nơi nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng ở dạy học và làm thuốc, còn giữ pho tượng Bồ Tát Địa Tạng bằng đồng và các tấm bia đá.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Nguyễn Hoàng Bảy, vị tướng trấn ải biên thùy được sắc phong Thần Vệ quốc, nên dân gian quen gọi là đền Ông Hoàng Bảy. Bên trong còn có các cung thờ Mẫu, cho thấy lớp tín ngưỡng kép ở đây.
Ảnh: Bem photography:, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, dựng trên đồi Hỏa Hiệu thời Lê Trung hưng, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai chừng năm trăm mét. Sân đền có cây đa cổ hàng trăm năm tuổi.
Ảnh: Tác giả Wikimedia Commons, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ giáo xứ Sa Pa kính Đức Mẹ Mân Côi, xây bằng đá đục tại chỗ gắn vữa vôi cát mật mía theo lối Gothic La Mã, đứng giữa trung tâm phố núi dưới chân núi Hàm Rồng.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Chùa nằm trong động Tam Thanh, giữ pho tượng A Di Đà tạc thẳng vào vách đá từ thời Lê, cao hơn hai mét. Được xưng là đệ nhất bát cảnh xứ Lạng.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền bên bến đá sông Kỳ Cùng, thờ thần Giao Long rồi về sau thờ thêm Quan lớn Tuần Tranh theo thần tích một vị bị hàm oan, lễ tháng Giêng rước kiệu sang đền Tả Phủ.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh nơi vùng biên, gắn với truyền thuyết Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan gặp Mẫu khi đi sứ. Lớp thờ Phật Bà Quan Âm đặt chung trong đền, thể hiện lối thờ Mẫu hòa Phật.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Chùa thiền phái Trúc Lâm dựng mới trên núi Phia Nhằm, cách thác Bản Giốc chừng năm trăm mét. Không liên quan tới chùa Phật Tích cổ ở Tiên Du, Bắc Ninh, dù trùng ba chữ Phật Tích.
Ảnh: Phạm Quang Sơn, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Dương Tự Minh, thủ lĩnh coi phủ Phú Lương và phò mã triều Lý, dưới chân núi Đuổm, cụm ba đền Thượng Trung Hạ, lễ chính mùng Sáu tháng Giêng.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Chùa dựng trong lòng hang núi đá, tên chữ Kim Sơn tự, tương truyền có từ thời Lý. Tam bảo nằm sâu trong động nên còn được gọi là Tiên Lữ Phật động.
Ảnh: Thành phố Thái Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Một trong ba đền của hệ thờ Mẫu xứ Tuyên, thờ hai công chúa Ngọc Lân và Phương Dung theo thần tích một chỗ lánh nạn về sau thành đền, là nơi khởi kiệu trong lễ rước Mẫu.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền dưới chân núi Độc nhô ra biển Đồ Sơn, thờ Đào Thị Hương được vua Tự Đức sắc phong 'Đông Nhạc Đế Bà, Trịnh Chúa Phu Nhân'.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Đền thờ bà Dương Quý Phi nhà Tống, được dân Phố Hiến tôn là Mẫu nghi thiên hạ. Trước đền có cây đa sanh si quấn nhau gần tám trăm năm tuổi.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đền chính Đa Hòa bên sông Hồng thờ Đức thánh Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân là công chúa Tiên Dung và công chúa Hồng Vân (Tây Sa), do tiến sĩ Chu Mạnh Trinh đứng ra thiết kế và dựng lại năm 1894.
Ảnh: Wkpd.donhat89, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chùa ba tầng Hạ, Trung, Thượng dựa vào vách núi và hang đá, được chúa Trịnh Sâm đặt tên Bích Động và xưng là Nam thiên đệ nhị động.
Ảnh: Jakub Hałun, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Bùi Chu, do giám mục Venceslao Onate Thuận khởi dựng theo lối Baroque Tây Ban Nha. Dưới gian cung thánh là phần mộ bảy vị giám mục.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Cụm ba tháp gạch Chăm dựng khoảng cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13 trên đất Vijaya, thường được suy đoán thờ Shiva ở tháp giữa cùng Vishnu và Brahma ở hai tháp bên. Tháp giữa cao 38,81 mét, được ghi nhận là tháp gạch cổ cao nhất Đông Nam Á, có chân đế và diềm mái bằng đá sa thạch chạm khắc mang ảnh hưởng nghệ thuật Khmer.
Ảnh: Ms Sarah Welch, CC0, Wikimedia Commons

Tháp Chăm dựng khoảng cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12 trên núi Nhạn bên sông Đà Rằng, nay thờ Thiên Y A Na, tức Pô Nagar, Mẹ Xứ Sở. Đây là ngọn tháp còn tương đối nguyên vẹn duy nhất của vùng Phú Yên cũ và vẫn có hội vía Bà.
Ảnh: Ms Sarah Welch, CC0, Wikimedia Commons

Cụm tháp Chăm cổ nhất còn lại của vùng Panduranga, dựng khoảng cuối thế kỷ 8 đầu thế kỷ 9, thờ Shiva dưới các danh hiệu Adidevesvara và Vrddhesvara. Ba ngọn tháp nằm sát Quốc lộ 1, nay chỉ còn tháp Bắc và tháp Nam, tháp Giữa đã đổ.
Ảnh: Original uploader was Dongson*vmvn at vi.wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Tháp gạch duy nhất của văn hóa Óc Eo hậu kỳ còn đứng ở Tây Nam Bộ, mang dáng Khmer thời tiền Angkor chứ không phải tháp Chăm. Trong tháp từng đặt bệ Linga Yoni đá xanh, quanh tháp tìm được tượng Shiva, Uma và Lakshmi nay là bảo vật quốc gia.
Ảnh: Nguyễn Hoàng Nhật Thiên Nam (talk · contribs), CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Văn miếu trấn Hải Dương thờ Khổng Tử cùng tám danh nhân khoa bảng xứ Đông, trong đó có Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Tuệ Tĩnh và nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ. Đây là văn miếu hàng trấn lớn còn lại, nơi ghi danh 637 tiến sĩ Nho học.
Ảnh: Viethavvh at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Đền An Xá thờ Ngọc Hoàng Thượng đế cùng Ngũ Lão Tiên Ông và các vị thiên tiên địa tiên, một trung tâm Đạo giáo cổ của vùng châu thổ sông Hồng. Đền còn giữ cây tháp đất nung nhiều tầng đã được công nhận bảo vật quốc gia.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đền Quốc Mẫu Tây Thiên trên sườn Tam Đảo thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, người phù vua Hùng dựng nước và giữ nước. Nơi đây là một trong những trung tâm thờ Mẫu lâu đời của người Việt, khảo cổ cho thấy dấu tích đậm nhất thuộc thời Trần.
Ảnh: Nguyen Tam, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Chùa Bổ Đà dựa lưng núi Phượng Hoàng (núi Bổ Đà) bên bờ bắc sông Cầu, tương truyền có từ thời Lý, mở mang lớn thời Lê Trung Hưng và là chốn tổ của Thiền phái Lâm Tế gắn với dòng chảy Trúc Lâm vùng Kinh Bắc. Chùa giữ bộ mộc bản kinh Phật khắc trên gỗ thị cùng vườn tháp cổ vào loại lớn nhất nước.
Ảnh: Suthatthichchanquang, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chùa Bối Khê tên chữ Đại Bi tự có mốc niên đại từ năm 1338 đời Trần, thờ theo lối tiền Phật hậu Thánh với điện sau thờ thiền sư Nguyễn Bình An tức Đức Thánh Bối. Chùa còn bộ vì gỗ và bệ đá hoa sen năm 1382 thuộc hàng hiếm ở đồng bằng Bắc Bộ.
Ảnh: Pvloc90, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Chùa thờ Phật và thần Pháp Vân, một trong bốn vị Tứ Pháp của tín ngưỡng nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ. Tòa thượng điện còn nguyên bộ vì gỗ chạm khắc thời Trần, thuộc số ít kiến trúc gỗ cổ nhất còn lại ở Việt Nam.
Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons

Khu di tích gồm nhiều đền chùa thờ Phật, thờ Mẫu, thờ Khổng Tử và các vị thần của cộng đồng Việt cùng người Hoa. Đây là dấu tích còn lại của thương cảng Phố Hiến thế kỷ XVII, nơi từng được ví chỉ đứng sau Kinh Kỳ.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Chùa thờ Phật và Quốc sư Nguyễn Minh Không, người được xem là tổ khai sáng từ thời Lý, ngoài ra còn thờ Đức Thánh Trần. Ngôi chùa nổi tiếng với tháp Cửu Phẩm Liên Hoa và quả chuông lớn đặt giữa lòng hồ.
Ảnh: Bình Giang, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Chùa theo lối tiền Phật hậu Thánh, ngoài thờ Phật còn thờ Đức Thánh tổ Dương Không Lộ. Đây là ngôi chùa cùng gốc với chùa Keo Thái Bình, tách ra sau trận lụt sông Hồng năm 1611, giữ nhiều mảng chạm gỗ cổ.
Ảnh: Kid1485, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Chùa dựng trên núi Đọi thời Lý Thánh Tông, thờ Phật và gắn với lễ tịch điền của nhà vua. Nơi đây còn bia Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1121 và tượng Kim Cương thời Lý, đều là bảo vật quốc gia.
Ảnh: VuThiAnh, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons
Đền Cao trên núi An Phụ thờ An Sinh Vương Trần Liễu, thân phụ Hưng Đạo Đại Vương, kề bên là chùa Tường Vân thờ Phật. Quần thể còn có động Kính Chủ với hệ thống bia ma nhai và chùa Nhẫm Dương, chốn tổ thiền phái Tào Động Việt Nam.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Chùa Tam Chúc dựng lại trên nền chùa cổ trong lòng núi đá vôi, thờ Phật cùng các vị tổ của Phật giáo. Quần thể gồm đình Tam Chúc thờ Đinh Tiên Hoàng, đền Mẫu, đền Giếng và hồ Tam Chúc với nhiều dấu vết khảo cổ.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC0, Wikimedia Commons

Tháp Bình Sơn đứng trước chùa Vĩnh Khánh, là cây tháp đất nung cổ vào hàng cao nhất còn lại ở Việt Nam. Tháp thờ Phật theo lối tháp thờ của Phật giáo Lý Trần, mười một tầng còn nguyên với gạch chạm rồng, sư tử và lá đề.
Ảnh: Viethavvh at Vietnamese Wikipedia, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Chùa Quỳnh Lâm do Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng thời Lý, sau thành trung tâm đào tạo tăng tài của thiền phái Trúc Lâm. Khu di tích gồm am chùa Ngọa Vân nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, chùa Hồ Thiên, đền Thái và đền An Sinh thờ các vua Trần.
Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Phật viện Đồng Dương là tu viện Phật giáo Đại thừa do vua Indravarman II dựng năm 875 giữa kinh đô Indrapura của Chăm Pa. Nay chỉ còn một mảng tường gạch dân gian gọi là Tháp Sáng, phải chống đỡ bằng giàn thép, cả khu là phế tích.
Ảnh: Lê Thy at Vietnamese Wikipedia, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đền thứ hai trong cụm thờ Đức thánh Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân Tiên Dung và Hồng Vân (Tây Sa), đồng thời phối thờ Triệu Việt Vương, dựng trên khoảnh đất nổi giữa vùng từng là đầm Dạ Trạch, nơi thần tích đặt chỗ ba vị hóa về trời. Đền giữ biểu tượng cây gậy và chiếc nón theo thần tích, hai bia đá năm 1819, chuông đúc năm 1902, lớp công trình hiện còn dựng lại năm 1890 theo lối chữ Công.
Ảnh: Khangoii, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đình làng của quê hương nhà Lý, thờ ba vị thành hoàng Cao Sơn, Thủy Bá, Bạch Lệ đại vương, tức thần Đất, thần Nước và thần Trồng trọt, sau phối thờ Lục Tổ và tám vị vua triều Lý. Đình dựng theo lối nhà sàn, nền gỗ cao hơn mặt đất, mái lớn chiếm gần hết chiều cao công trình, được coi là một trong ba ngôi đình đẹp nhất xứ Kinh Bắc.
Ảnh: Binh Giang, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Đình bên sông Hồng thờ Hy Khang Thiên Vương Lý Ông Trọng và Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung, vị tướng người làng Chèm mà truyền thuyết kể là đã sang giúp nhà Tần giữ đất phương Bắc. Năm 1902-1903 dân làng kiệu cả ngôi đình nặng hàng trăm tấn lên cao thêm 2,4 mét để tránh nước sông, chỉ bằng dụng cụ nhà nông.
Ảnh: NKSTTSSHNVN, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đình cổ vào loại sớm nhất còn lại ở Việt Nam, thờ ba vị thành hoàng Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh. Niên đại thời Mạc đã được kiểm chứng bằng phương pháp phóng xạ các bon 14, nên đây là mốc chuẩn để giới nghiên cứu so sánh mọi ngôi đình khác.
Ảnh: Duyphuong (thảo luận), CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đình thờ ba anh em họ Cao có công phù giúp vua Đinh dẹp loạn mười hai sứ quân. Dân xứ Đoài có câu đẹp đình So, to đình Cấn, nói về nghi môn ba cửa và tòa đại bái rộng chừng ba trăm mét vuông của ngôi đình này.
Ảnh: Suaql4a, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Đình thờ Đức Thánh Tích Lịch Hỏa Quang, thành hoàng của cả tổng Phùng, và tướng Vũ Hùng có công dẹp giặc thời Trần. Toàn bộ khung đình dựng bằng gỗ xoan, loại gỗ rẻ của làng quê, mà vẫn giữ được gần một nghìn họa tiết chạm khắc, nên được xem là kiệt tác chạm gỗ đình làng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Đình thờ thành hoàng là tướng quân Hoàng Đạo. Tòa đại đình dựng từ những năm ba mươi của thế kỷ 17 nên thuộc lớp đình sớm còn lại ở xứ Đoài, giữ được bộ vì kiểu ván mê và kiểu biến thể giá chiêng chồng rường con nhị.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đình thờ bốn vị thành hoàng, gồm ba vị Tản Viên Sơn Thánh và Quán Sơn thành hoàng. Đây là một trong những ngôi đình lớn của xứ Đoài còn giữ phong cách nghệ thuật Hậu Lê, bố cục hình chữ nhất, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật.
Ảnh: Nt5974, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đình bên sông Lam thờ chính Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, người trấn trị châu Nghệ An thời Lý, phối thờ Tứ vị Thánh Nương và chư Phật. Đây là ngôi đình có chạm khắc gỗ vào loại phong phú nhất miền Trung.
Ảnh: Ptdtch, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Đình thờ thần Lân Hổ, tên thật Phùng Tráng, người có công đánh quân Nguyên Mông, phối thờ mẹ ông là bà Phùng Thị Dung và thần Nuôi Ná. Đình còn hai mươi mốt bức chạm gỗ tả sinh hoạt dân gian, được coi là mẫu mực của điêu khắc đình làng Bắc Bộ.
Ảnh: Nguyễn Văn Hữu, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Ba ngôi đình liền nhau của ba làng Cánh, gồm đình Hương Canh, đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường, cùng thờ sáu vị thành hoàng thuộc hậu triều Ngô. Cả ba dựng theo lối chữ vương vốn dành riêng cho nơi thờ vua, mái lợp ngói mũi hài theo kỹ thuật đóng óc vảy rồng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đình Việt nằm xa nhất về phía đông bắc, thờ các vị thành hoàng rước chân hương từ quê cũ Đồ Sơn, phối thờ sáu vị tiên công ra khai lập làng Trà Cổ và Quận He Nguyễn Hữu Cầu. Đình giữ nguyên lối kiến trúc đồng bằng Bắc Bộ trên bán đảo cát ven biển với bộ khung gỗ lim và tục thi Ông Voi.
Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Thánh Gióng ngay trên quê sinh của ngài, một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt. Hội Gióng đền Phù Đổng mở từ mùng bảy tới mùng chín tháng Tư âm lịch, đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Ảnh: Bình Giang, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Quần thể đền chùa dưới chân núi Vệ Linh, thờ Thánh Gióng ở đúng nơi truyền thuyết kể ngài cởi áo giáp sắt rồi bay về trời. Tương truyền vua Lê Hoàn trên đường đánh Tống đã vào lễ ở miếu nhỏ tại đây, thắng trận trở về mới cho tạc tượng bằng gốc trầm hương và dựng thành khu đền uy nghi.
Ảnh: NKSTTSSHNVN, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Hai Bà Trưng bên cửa sông Hát, nơi Hai Bà lập đàn thề rồi phất cờ khởi nghĩa năm 40 và cũng là nơi Hai Bà tuẫn tiết. Đây được coi là ngôi đền cổ nhất trong hệ thống đền thờ Hai Bà, mỗi năm mở ba kỳ lễ chứ không phải một.
Ảnh: Tranganh24, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Đền dựng trên đất Mê Linh, nơi Hai Bà Trưng lên ngôi và đặt kinh đô sau khi đánh đổ ách đô hộ nhà Đông Hán năm 40. Tương truyền đời vua Lý Anh Tông gặp hạn hán, Hai Bà báo mộng, vua cầu đảo được mưa nên truyền lập đền thờ ngay tại cố hương của Hai Bà.
Ảnh: Ltn12345, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến và các tướng lĩnh, dựng ngay trên nền kho lương mà ông đặt ở đây để phục vụ cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai năm 1285. Hằng năm đêm mười bốn tháng Giêng đền mở lễ phát lương, phát túi lương tượng trưng gồm năm loại hạt.
Ảnh: Suaql4a, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Phụ dực quốc chính Thượng tướng quân Trần Minh Công, tên thật Trần Lãm, người góp công lớn giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân. Đền giữ được lớp chạm gỗ mang đặc trưng nghệ thuật cuối thế kỷ 16, và là di tích quốc gia đặc biệt mới được xếp hạng năm 2025.
Ảnh: Không rõ (Unknown), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng ngay trên quê ông ở làng Trung Am, thờ một nhà nho và nhà tiên tri chứ không phải một vị thần. Khu di tích rộng hơn chín héc ta, còn am Bạch Vân nơi ông dạy học và quán Trung Tân nơi ông dựng bia luận về chữ trung.
Ảnh: Unghoangphuc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Đền thờ Lê Đại Hành Lê Hoàn dựng trên chính quê sinh của vua ở làng Trung Lập, nơi phát tích nhà Tiền Lê. Đây được coi là ngôi đền cổ bậc nhất xứ Thanh, giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc cổ cùng hai tấm bia đầu thế kỷ 17.
Ảnh: Nguoivuban, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngọn núi đá nhỏ ngay ngã ba sông Vân và sông Đáy, chỉ cao hơn hai chục mét nhưng mang trên vách hơn bốn mươi bài thơ văn khắc vào đá của Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Phạm Sư Mạnh, Ngô Thì Sĩ. Trên núi có chùa Non Nước và Nghênh Phong Các, dưới chân núi có đền thờ Trương Hán Siêu.
Ảnh: TruongHuynb (thảo luận), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ba nếp thờ tự của một làng gốm bên sông Cầu nằm liền nhau trong một vòng lũy tre, gồm đình thờ thành hoàng, chùa thờ Phật với gần một trăm pho tượng cổ, và từ chỉ thờ Khổng Tử cùng các bậc tiên hiền của làng. Cửa võng đình Thổ Hà làm năm 1692 đã được công nhận bảo vật quốc gia, và cả quần thể được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đầu năm 2026.
Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Bốn công trình thờ tự thời Lê Trung Hưng của một xã trung du gắn liền với cây dã hương nghìn năm tuổi, gồm hai ngôi đình, một ngôi đền và một ngôi chùa, cùng thờ hai vị thần núi sông được dân vùng này giữ hương khói liên tục nhiều đời. Quần thể được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2024.
Ảnh: Kien1980v, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Nơi dân làng Kiên Mỹ lập điện thờ ba anh em họ Nguyễn ngay trên nền nhà cũ của gia đình, ban đầu mượn hình thức một ngôi đình làng để giữ được hương khói qua thời cấm đoán. Trong khuôn viên còn cây me và giếng nước tương truyền có từ đời cha ông ba người, được dân coi là vật thiêng của đất.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Mười bảy điểm di tích chia làm sáu cụm trải trên vùng thượng đạo phía đông Gia Lai, trong đó phần thờ tự tập trung ở An Khê đình và An Khê trường, nơi lưu giữ sắc phong và là chỗ dân vùng này về cúng mỗi mùa xuân. Quần thể được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022.
Ảnh: Thuhm, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Hai tòa miếu thờ tổ tiên của hoàng tộc Nguyễn trong Hoàng thành Huế: Triệu Tổ Miếu ở khu đông nam thờ vị thủy tổ, Thế Tổ Miếu ở góc tây nam thờ các vị vua trong triều. Trước sân Thế Miếu là Hiển Lâm Các và Cửu Đỉnh đúc những năm 1835 tới 1837, bộ đỉnh đồng ghi hình sông núi cây cỏ của cả nước.
Ảnh: Lưu Ly, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Đàn tế Trời của triều Nguyễn, dựng năm 1806 ở phía nam Kinh thành, gồm ba tầng chồng lên nhau: tầng trên tròn gọi là Viên đàn ứng với Trời, tầng giữa vuông gọi là Phương đàn ứng với Đất, tầng dưới vuông ứng với Người. Đây là đàn tế Giao nguyên vẹn duy nhất còn lại ở Việt Nam.
Ảnh: Lưu Ly at vi.wikipedia, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Vòng thành đất cổ nhất còn lại ở Việt Nam, bên trong là cụm thờ tự gồm đền Thượng thờ vua An Dương Vương, am thờ Mỵ Châu, đình Ngự Triều Di Quy, giếng Ngọc và chùa Bảo Sơn. Tám làng quanh thành nhận việc phụng thờ theo lệ bát xã hộ nhi, giữ hội Cổ Loa mùng Sáu tháng Giêng hằng năm.
Ảnh: VuThiAnh, CC0, Wikimedia Commons

Cụm ba nếp thờ tự liền nhau giữa nội thành Hà Nội gồm đền, chùa và đình. Đền dựng từ năm 1142 ở bãi Đồng Nhân ven sông Hồng, tới năm 1819 bãi lở nên dời vào khu Cựu Võ Sở của triều Lê ở thôn Hương Viên, chỗ đứng hiện nay. Được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019.
Ảnh: Tttrung, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nơi yên nghỉ và nhà thờ của đại danh y Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, người sống nửa đời ở Hương Sơn và để lại bộ sách thuốc lớn nhất của y học cổ truyền Việt Nam. Danh nhân được UNESCO vinh danh năm 2023 nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh, và quần thể di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2024.
Ảnh: Nguyenquangdongtump, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đất phát tích và nơi đặt lăng của nhà Trần, gồm khu lăng mộ, khu đền thờ ba tòa là đền Vua, đền Thánh, đền Mẫu, và khu khảo cổ. Được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014, hội đền mở từ ngày 13 tới ngày 16 tháng Giêng.
Ảnh: Taxigiadinh, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ngôi từ do dân làng Lương Xâm lập để thờ Ngô Quyền, được các triều nối nhau ban sắc, hiện còn giữ hai mươi lăm đạo sắc phong có niên đại từ năm 1522 tới năm 1924. Cùng với các nếp thờ ở những làng lân cận, cụm di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt ngày 17 tháng 1 năm 2025.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Năm điểm di tích trên đất Dương Kinh, kinh đô thứ hai của nhà Mạc: từ đường họ Mạc ở Cổ Trai, khu tưởng niệm các vua nhà Mạc, chùa Trà Phương, chùa Nhân Trai và cụm đền chùa Hòa Liễu. Được công nhận di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 152 ngày 17 tháng 1 năm 2025.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ba nơi thờ cùng một người là đại danh y thiền sư Tuệ Tĩnh, nằm cách nhau vài cây số trên đất Cẩm Giàng cũ. Đền Xưa dựng nơi quê sinh, chùa Giám là nơi ông tu hành và chữa bệnh, đền Bia gắn tích tấm bia được đưa từ phương bắc về. Cả cụm được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tháng 12 năm 2017.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đền thờ và lăng mộ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, dựng theo lệnh nhà vua ngay sau khi ông mất, mặt bằng kiểu nội công ngoại quốc, phía trước có hồ bán nguyệt. Được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 2280 ngày 31 tháng 12 năm 2020.
Ảnh: Linhcandng (thảo luận), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Quần thể bốn điểm thờ tự trên đất Nam Đàn gồm đền thờ vua Mai, lăng mộ vua trong thung lũng Hùng Sơn, mộ thân mẫu ở Cồn Dẻ và đền thờ Mai Thánh Mẫu ở Cồn Chèn. Được công nhận di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 1649 cuối tháng 12 năm 2022.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Kinh đô của ba triều Đinh, Tiền Lê và buổi đầu nhà Lý, nay còn lại vòng thành dựa núi và một cụm thờ tự dày đặc: đền vua Đinh, đền vua Lê, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, đền thờ công chúa Phất Kim, chùa Bà Ngô cùng hai lăng vua trên núi. Hội Trường Yên mở vào tháng Ba âm lịch.
Ảnh: Kien1980v (thảo luận) 02:39, ngày 3 tháng 9 năm 2017 (UTC), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Quần thể di tích quốc gia đặc biệt gồm 11 điểm di tích bên sông Bạch Đằng, nổi bật với các đền, miếu, đình thờ Trần Hưng Đạo, Vua Bà và ba bãi cọc gỗ thời Trần.
Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Tây Kinh của vương triều Hậu Lê ở quê hương Lê Lợi, nơi quy tụ Chính điện, chín tòa Thái Miếu, sáu lăng vua Lê sơ và năm tấm bia đá Bảo vật quốc gia.
Ảnh: Bùi Lê Việt Cường, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi đền dựng trên mỏm đá nhô ra biển ở đầu núi Trường Lệ, thờ một vị thần chỉ có một chân theo tích tự xẻ đôi thân mình để vừa giữ bờ vừa theo thuyền ra khơi. Đền nằm trong cụm di tích và danh thắng Sầm Sơn được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Khu mộ và đền thờ nhà thơ thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu trên đất Ba Tri, gồm nhà bia, đền thờ cũ, đền thờ mới và khu mộ ba người trong gia đình. Được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Khu mộ và đền thờ Trương Định giữa lòng Gò Công, mộ lập năm 1864 với bia đá cẩm thạch, trùng tu những năm đầu thập niên 1930, đền thờ dựng bên cạnh vào đầu thập niên 1970. Đây là một trong năm điểm thuộc cụm di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 694 ngày 18 tháng 7 năm 2024.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Một gò đất nổi giữa Đồng Tháp Mười chồng nhiều lớp: bên dưới là nền đền tháp của văn hóa Óc Eo, bên trên là miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tháp Linh và hai ngôi đền thờ hai vị thủ lĩnh thế kỷ XIX. Được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2012, mỗi năm có hai kỳ lễ lớn.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi nhà thờ Tin Lành lâu đời nhất còn đang thờ phượng ở Hà Nội, nằm trong một con phố nhỏ sau chợ Hàng Da. Từ một gian nhà nguyện nhỏ dựng khoảng năm 1920, nhà thờ đã ba lần mở rộng và nay là nơi nhóm lại của Hội Thánh Tin Lành Hà Nội.
Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ngôi nhà thờ Tin Lành lớn nhất và được biết đến nhiều nhất ở Sài Gòn, đứng ngay góc Trần Hưng Đạo và Đề Thám. Hội Thánh nơi đây lập năm 1920 từ sáu người tin đạo đầu tiên, nay là một trong những chi hội đông tín hữu nhất của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Hội Thánh Tin Lành đầu tiên của Việt Nam, lập năm 1911 khi các giáo sĩ Hội Truyền giáo Phước Âm Liên hiệp đặt chân tới Đà Nẵng. Người Việt đầu tiên chịu báp têm ở đây về sau thành người đi truyền đạo khắp cả vùng Đông Dương.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi nhà thờ Tin Lành cổ nhất Tây Nguyên, dựng trên một sườn đồi thông giữa lòng Đà Lạt. Ngôi nhà thờ đá khánh thành năm 1942 với tháp chuông và cửa kính màu đã thành một dấu quen của thành phố, và hội thánh dựng thêm ngôi đền thờ mới năm 2012.
Ảnh: - Ninh Chữ (thảo luận) -, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Hội Thánh Tin Lành của thành phố cảng, tính mốc từ năm 1915 và đã mừng một trăm năm vào năm 2015. Hải Phòng cũng là nơi từng có ngôi nhà thờ Tin Lành sớm nhất trên đất Việt Nam, dựng năm 1894 cho tín hữu người Âu, nay không còn.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Chi hội Tin Lành Nha Trang lập năm 1926 từ một nhóm nhỏ người tin đạo, đã mừng chín mươi năm vào năm 2016. Ngôi nhà thờ hiện nay xây trong hai năm 2006 tới 2008 trên mảnh đất hội thánh mua từ đầu những năm 1950.
Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Trung ương của Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo, chi phái đông thánh sở thứ nhì của đạo Cao Đài. Tòa Thánh xây lại năm 1935 từ ngôi thánh thất An Hội cũ, trên khuôn viên hơn bảy nghìn mét vuông giữa thành phố Bến Tre.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tổ đình trung ương của Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên tại xã Tiên Thủy, khởi dựng từ năm 1955 trên nền Thánh Tịnh Châu Minh Đàn có từ thập niên 1930 và khánh thành ngôi Tam Đài mới năm 2016.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Trung ương của Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý, chi phái khởi từ cơ sở ở Mỹ Tho năm 1928 và lập Hội Thánh Minh Chơn Lý giai đoạn 1930 - 1931 do ông Nguyễn Văn Ca (Bửu An Thiên) đứng đầu. Tòa Thánh nằm trên khu đất ba mẫu tại số 193 đường Nguyễn Trung Trực, phường Mỹ Phong, cách chùa Vĩnh Tràng chừng non một cây số.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Trung ương của Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo, chi phái của miệt Cà Mau Bạc Liêu gắn với Đức Ngọc Chưởng Pháp Trần Đạo Quang (Trần Thanh Nhàn). Ngôi thánh thất dựng năm 1929 (có nguồn ghi 1930) giữa vùng đất trũng Thới Bình, tới năm 1954 được nâng thành Tòa Thánh sau khi Tòa Thánh Ngọc Minh ở Giồng Bốm (Giá Rai, Bạc Liêu) hư hại.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Tổ đình của pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi tại số 264 đường 30 Tháng 4, phường Tân An (phường Hưng Lợi cũ), Cần Thơ, dòng tu vô vi do Đức Ngô Minh Chiêu truyền lại. Khu đất được mua năm 1927, ngôi tổ đình hiện nay dựng lại trên nền cũ năm 1951 với kích thước thu nhỏ, gắn liền với khu mộ đặt Bảo Tháp Đức Ngô.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh, dựng năm 1932 để báo ơn các bậc tiền bối có công với đạo, từ năm 1947 kiêm làm Điện Thờ Đức Phật Mẫu trong khi chờ dựng ngôi Điện Thờ chính thức. Đây là nơi hành lễ Hội Yến Diêu Trì Cung mỗi rằm tháng tám.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Giáo sở trung ương của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài tại Đà Nẵng, nơi quy tụ hơn sáu mươi thánh sở trải mười bảy tỉnh thành. Công trình khởi công ngày 28 tháng 11 năm 1955 và khánh thành mùng 1 tháng Sáu năm Bính Thân (8 tháng 7 năm 1956), dựng theo chỉ dẫn mang chữ Việt, nét Việt và màu Việt.
Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương giữa cánh đồng Láng Linh, dựng năm 1897, dân quanh vùng quen gọi là chùa Nhà Láng. Đây là nơi thờ Đức Phật Thầy Tây An cùng Đức Cố Quản Trần Văn Thành và gia quyến.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Một trong hai trại ruộng của hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương dưới chân núi Két do Phật Thầy Tây An cùng đệ tử mở khoảng năm 1849 - 1851, gắn với việc lập hai làng Hưng Thới, Xuân Sơn và truyền thuyết đôi trâu Sấm, Sét. Chùa còn gọi là Chùa Phật Lâm Vồ do có cây lâm vồ cổ thụ trước cổng, bên trong thờ trần điều không tượng cốt.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thánh đường Hồi Giáo Islam quy mô lớn của cộng đồng Chăm Châu Giang bên bờ sông Hậu, với mái vòm bầu dục và hai tông màu trắng cùng xanh ngọc. Từ ngôi nhà gỗ tên Masjid Yahya dựng khoảng năm 1700, thánh đường đã qua ba lần xây lại lớn.
Ảnh: Adam Jones Adam63, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thánh đường Hồi Giáo có tuổi đời lâu nhất Sài Gòn, dựng năm 1885 bởi cộng đồng Hồi Giáo gốc Mã Lai và Indonesia. Quanh thánh đường là một con hẻm hơn năm mươi hộ, phần lớn là người Hồi Giáo đã sống ở đây hơn một trăm năm.
Ảnh: Senamohamed, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Thánh đường của xóm Chăm quận 8 cũ, nơi tụ cư đông tín đồ Hồi Giáo nhất Thành phố Hồ Chí Minh với khoảng ba nghìn người. Cộng đồng ở đây phần lớn gốc Châu Đốc, An Giang, dời về Sài Gòn từ những năm 1950 tới 1960.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường của làng Chăm Phú Nhuận, tên Chăm là palei Bhauh Thơng (hay palei Baoh Hadeng, nghĩa là làng Trái Mun). Đây là làng Chăm duy nhất ở vùng Ninh Thuận cũ có hai cộng đồng truyền thống là người Chăm Bàni (Awal) và người Chăm Bà La Môn (Ahier) cùng cư trú đan xen trong một làng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường của làng Chăm Thành Tín, tên Chăm là palei Cwah Patih nghĩa là bãi cát trắng. Làng theo Bàni gần như trọn vẹn, và đây là nơi đặt Hội đồng Sư cả Bàni của cả vùng Ninh Thuận cũ, tức là ngôi đứng đầu về mặt chức sắc.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Long Xuyên, tước hiệu Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình, tháp chuông vươn cao năm mươi lăm mét giữa lòng thành phố bên sông Hậu. Mặt tiền đặt tượng Đức Mẹ Ban Hòa Bình cỡ lớn, lối dựng pha giữa Art Deco và Gothic.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Bắc Ninh, tước hiệu Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, dựng theo lối Baroque trên mặt bằng hình chữ thập. Hai ngọn tháp cao hai mươi hai mét treo ba quả chuông đồng, đứng cách thành cổ Bắc Ninh chừng hai trăm mét.
Ảnh: vi:Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Cần Thơ, tước hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu, dựng theo lối Gothic với mặt bằng hình thánh giá nhìn từ trên xuống. Lầu chuông bên hông treo ba quả chuông đồng đúc năm 1926 đưa từ Pháp sang, khắc chữ Latinh.
Ảnh: Không rõ, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của Giáo phận Quy Nhơn, khởi dựng năm 1938 do hội kiến trúc SIDEC thiết kế, nổi bật với tháp chuông nhọn cao 47,2 mét nên người dân quen gọi là Nhà thờ Nhọn. Thánh đường khánh thành ngày 10 tháng 12 năm 1939 với tước hiệu Đức Mẹ Mân Côi, từ năm 1961 mang tước hiệu Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Ảnh: 2722004q, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Hưng Hóa, tước hiệu Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, dựng theo lối Byzantine với mái vòm lớn và hàng trăm ô kính tròn. Tòa giám mục Hưng Hóa đặt tại Sơn Tây nên tên nhà thờ khác hẳn tên giáo phận.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Thái Bình, tước hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngôi hiện nay cung hiến năm 2007 trên nền ngôi cũ dựng từ năm 1906. Hai ngọn tháp cao bốn mươi sáu mét dựng theo ý hai ngọn nến đang cháy được hai bàn tay nâng lên trời.
Ảnh: Daaé, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Hải Phòng, tước hiệu Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, dựng theo lối Gothic với tháp chuông vuông cao hai mươi tám mét. Lòng nhà thờ không cột, chứa chừng chín trăm người, dưới nền có phần mộ ba vị giám mục.
Ảnh: Qjafcc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng, tước hiệu Thánh Đaminh, dựng theo lối nhà sàn miền núi phía Bắc ghép với mái cong cung đình Việt. Tháp chính năm tầng ứng với năm hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, mái lợp ngói âm dương màu xanh.
Ảnh: Maynardnguyen, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Vinh, tước hiệu Đức Mẹ Lên Trời, dựng theo lối Gothic với ba tòa tháp đối xứng ở mặt tiền. Làng Xã Đoài quanh nhà thờ là một trong những làng đạo lâu đời và đông đúc bậc nhất miền Trung.
Ảnh: Maynardnguyen, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Thanh Hóa, tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, mười gian dài bốn mươi bốn mét, tháp chuông cao hai mươi lăm mét. Hai quả chuông trên tháp đều là quà tặng từ Pháp, quả lớn mang tên Thánh Anna.
Ảnh: Linhcandng (thảo luận), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Vĩnh Long, tước hiệu Thánh Anna, dựng theo bản vẽ của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ phỏng hình con tàu ông Nôê. Thân nhà thờ dài bảy mươi lăm mét, cao hai mươi bảy mét, chứa được hai tới ba nghìn người.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Đà Nẵng, tước hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu, dựng theo lối Gothic với đường nét cao vút và vòm cửa quả trám. Con gà trống trên đỉnh tháp làm vật chỉ hướng gió đã thành tên gọi dân gian của nhà thờ.
Ảnh: Dragfyre, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Ban Mê Thuột, tước hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu, mặt bằng hình thánh giá dài bốn mươi lăm mét với hơn tám trăm mét vuông sàn. Nhà thờ chứa khoảng một nghìn hai trăm chỗ, đứng giữa vùng cao nguyên đông giáo dân bậc nhất Tây Nguyên.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Xuân Lộc, tước hiệu Chúa Giêsu Vua, dựng theo lối Gothic trên khung bê tông cốt thép với tháp chuông cao bốn mươi bốn mét. Giáo phận Xuân Lộc là giáo phận đông giáo dân nhất Việt Nam.
Ảnh: Maynardnguyen, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của Giáo phận Mỹ Tho, tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, do linh mục Régnier (Cha Gẫm) khởi công năm 1906 và hoàn thành năm 1910 theo lối Hy Lạp - Rôma thời Phục Hưng. Lòng nhà thờ lấy màu trắng làm chủ đạo, mái vòm châu Âu chạm hoa văn, cao hai mươi bốn mét và dài năm mươi ba mét.
Ảnh: Kwozyn, CC0, Wikimedia Commons

Tiểu vương cung thánh đường tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, từng là nhà thờ chính tòa của Địa phận Tây Đàng Ngoài từ năm 1882 đến năm 1936 và được Tòa Thánh nâng lên hàng vương cung thánh đường năm 2010. Từ năm 2024, đây là Trung tâm Hành hương Toàn quốc kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nơi lưu giữ hài cốt và di vật của nhiều vị thánh.
Ảnh: ngocchat1014, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Tiểu vương cung thánh đường tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, được Tòa Thánh nâng lên hàng vương cung thánh đường ngày 12 tháng 8 năm 2008. Thân nhà thờ dài tám mươi mét, cao ba mươi mét, tháp chuông bốn mươi bốn mét treo bốn quả chuông đúc tại Pháp.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ của cộng đoàn Công giáo người Hoa ở Chợ Lớn, tước hiệu Thánh Phanxicô Xaviê, ghép lối Gothic Pháp với kiến trúc Hoa. Cổng tam quan lợp ngói lưu ly, câu đối chữ Hán trên cột, thánh lễ cử hành cả tiếng Việt lẫn tiếng Quảng Đông.
Ảnh: Gary Todd from Xinzheng, China, CC0, Wikimedia Commons

Nhà thờ cổ nhất vùng Phú Yên cũ, dựng theo lối Gothic với hai tháp chuông và vữa trộn bằng đường mật, vôi và cát. Nơi đây lưu giữ cuốn Phép giảng tám ngày in tại Rôma năm 1651, cuốn sách chữ Quốc ngữ đầu tiên, và có khu lưu niệm chân phước Anrê Phú Yên.
Ảnh: Đông Hồ, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận Đà Nẵng, tước hiệu Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu, gồm ngôi nhà thờ dưới đồng và nhà nguyện trên đồi Bửu Châu. Ngày hành hương lớn là 31 tháng 5, lễ Đức Mẹ Thăm Viếng, kéo khách hành hương cả miền Trung về.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC0, Wikimedia Commons
Một trong ba thánh đường của ấp Phum Soài, làng Chăm nằm kề ấp Châu Giang bên bờ sông Hậu. Cộng đồng ở đây theo Hồi Giáo Islam chính thống, hành lễ năm lần mỗi ngày và chay trọn tháng Ramadan.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường Hồi Giáo Islam của làng Chăm Đồng Ky bên bờ tây sông Hậu gần hồ Búng Bình Thiên, vùng biên An Phú. Ngôi hiện nay khánh thành cuối năm 2009 với kinh phí hơn năm tỷ đồng, có sảnh dưới cho nam và tầng lửng cho nữ, từng được nêu là thánh đường Islam có sức chứa lớn tại Việt Nam.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Một trong hai nơi hành lễ của làng Chăm Đa Phước, cùng với thánh đường Al Ehsan lớn hơn ở kề bên. Làng nằm đối diện Châu Đốc qua sông, sống bằng dệt thổ cẩm, thêu và buôn bán nhỏ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Thánh đường của xóm Chăm Islam khu Cầu Kho (tục gọi là Thánh đường Nancy) ở số 459B Trần Hưng Đạo, dựng năm 1950 và xây lại lần cuối tháng 3 năm 2003 theo dáng một tòa lâu đài màu xanh. Một số bài báo chú gộp nơi này với tên Jamiul Muslimin (vốn là thánh đường ở số 52 Nguyễn Văn Trỗi, nơi đặt Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo thành phố).
Ảnh: Gary Todd from Xinzheng, China, CC0, Wikimedia Commons
Thánh đường của làng Chăm An Nhơn, tên Chăm là palei Mblap Klak nghĩa là Mblap cũ. Đây là một trong bảy Sang Magik Bàni của vùng Ninh Thuận cũ, nơi các vị Acar vào ở suốt tháng Ramưwan để giữ giới thay cho cả làng, và đứng cùng thôn với Thánh đường Islam 103 khác hệ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường của làng Chăm Lương Tri, tên Chăm là palei Cang, làng Bàni nằm xa nhất về phía tây bắc trong bảy làng Bàni của vùng Ninh Thuận cũ. Thánh đường mở trong kỳ Ramưwan và các kỳ lễ Suk Yeng luân phiên giữa bảy làng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường của làng Chăm Tuấn Tú, tên Chăm là palei Katuh, làng Bàni nằm trên vùng cát ven biển phía nam Phan Rang. Đây là nơi khép lại vòng lễ Suk Yeng của bảy làng Bàni trong mùa lễ 2025.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường của làng Chăm Phước Nhơn, tên Chăm là palei Mblap Baruw nghĩa là Mblap mới, làng tách ra từ An Nhơn. Bảng hiệu hiện nay ghi Sang Mưgik Bà-Ni Phước Nhơn, thay cho bảng cũ từng ghi theo lối gọi chùa.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường của làng Chăm Thanh Kiết, tên Chăm là palei Njar, trụ sở của Hội đồng Sư cả Hồi Giáo Bàni vùng Bình Thuận cũ và là một trong mười thánh đường Bàni của cả vùng. Cộng đồng Bàni ở đây đông hơn và có nhiều chức sắc hơn bên Ninh Thuận cũ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thánh đường của làng Chăm Bình Thắng trong cụm làng Chăm của xã Phan Hòa cũ. Cổng cũ dựng trước năm 1975 mang chữ Mesjid, cổng mới dựng năm 2022 khắc dòng chữ Chăm Akhar Thrah và chữ Latinh Sang Magik Haluw Panat sau cuộc họp bàn về tên gọi đầu tháng Ba năm 2022.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Thánh đường Islam đầu tiên của vùng Ninh Thuận cũ, mang số hiệu 101, dựng tại thôn Văn Lâm đầu thập niên 1960. Tín đồ hành lễ năm lần mỗi ngày, tụ về ngày thứ Sáu và chay trọn tháng Ramadan.
Ảnh: nguyenquoctuan, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thánh đường Islam mang số hiệu 103, dựng năm 1968 tại thôn An Nhơn, cách ngôi Sang Magik Bàni của cùng làng chừng hai trăm mét. Đây là ngôi thứ ba của dòng Islam chính thống trong vùng Ninh Thuận cũ.
Ảnh: nguyenquoctuan, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thánh đường Islam mang số hiệu 102, dựng năm 1964 tại thôn Phước Nhơn, ngôi thứ hai của dòng Islam chính thống trong vùng Ninh Thuận cũ. Thánh đường đứng cách ngôi Sang Magik Bàni của cùng làng chỉ chừng một trăm mét.
Ảnh: nguyenquoctuan, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Trung ương của Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu, một trong các Hội Thánh Cao Đài có tổ chức giáo hội kết hợp cả phổ độ lẫn tuyển độ (nội giáo tâm truyền). Cơ sở khởi từ Nhà đàn Thạnh Mỹ lập năm 1928, tới năm 1956 dựng và khánh thành đủ ngôi Tam Đài giữa đồng đất Thạnh Xuân.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Thánh thất lớn nhất của đạo Cao Đài trong nội thành Sài Gòn, thuộc Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, nơi sinh hoạt của Họ Đạo Sài Gòn với khoảng năm nghìn đạo hữu. Ngôi hiện nay xây lại trong hai năm 1999 tới 2001 theo mẫu Tòa Thánh Tây Ninh thu nhỏ.
Ảnh: Thomas Schoch, CC BY-SA 2.5, Wikimedia Commons
Cơ quan nghiên cứu và phổ truyền giáo lý chung của đạo Cao Đài, trụ sở tại đường Cống Quỳnh. Đây không phải một chi phái mà là nơi các Hội Thánh cùng gửi người về học hỏi và biên soạn, với tôn chỉ phổ truyền chánh pháp, phổ biến giáo lý và phổ tế quần sanh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi chùa phát triển từ trại ruộng Hưng Thới do Phật Thầy Tây An giao đệ tử Tăng Chủ Bùi Thiền Sư lập dưới chân núi Két khoảng năm 1849 - 1851, vừa cày ruộng vừa tu hành. Chùa thờ trần điều không tượng cốt, gian sau đặt linh vị Phật Thầy Tây An và bảo lưu hệ thống câu đối chữ Hán cùng chữ lạ độc đáo khắc trên cột đá hoa cương.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Tòa Thánh của Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan ở Tam Quan, xây từ năm 1956 tới năm 1959 và khánh thành năm 1960. Đây là trung ương của một Hội thánh Cao Đài riêng ở miền Trung, mang tên thánh thất đầu tiên tại Sài Gòn nơi các vị tiền bối nhập môn.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Đan viện Biển Đức đầu tiên ở Việt Nam, lập ngày 10 tháng 6 năm 1940 trên đồi Thiên An bởi Dom Romain Guillauma (có nguồn ghi Romain Guillaume) và Dom Corentin Colin từ La Pierre-qui-Vire, nhà thờ cung hiến ngày 11 tháng 7 năm 1965, đan viện mẹ của Thiên Bình, Thiên Phước, Thiên Hòa và cơ sở Chiang Mai.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Đại chủng viện tại số 30 Kim Long bên bờ bắc sông Hương, nơi đào tạo linh mục cho Tổng giáo phận Huế, Đà Nẵng, Kontum, Hưng Hóa, Hội Thừa Sai Việt Nam và hai dòng tu, nối truyền thống từ năm 1740, hình thành đại chủng viện từ 1880 tới 1882, dời về Phú Xuân năm 1888, Hội Xuân Bích điều hành từ năm 1962 và mở lại từ ngày 21 tháng 9 năm 1994.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đại chủng viện của Tổng giáo phận Hà Nội, nối truyền thống đào tạo linh mục từ lớp học của cha François Deydier năm 1666, qua Kẻ Vĩnh năm 1765 và Kẻ Sở năm 1862. Năm 1973 trường mở lại với danh hiệu Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội tại số 40 phố Nhà Chung.
Ảnh: Hoanghatruonggiang at vi.wikipedia, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Hà Tĩnh, giáo phận được tách từ giáo phận Vinh và thành lập ngày 22 tháng 12 năm 2018, nhận Đức Maria Mẹ Thiên Chúa làm bổn mạng. Ngôi nhà thờ giáo xứ Văn Hạnh nhận Thánh Micae làm quan thầy, khởi công tháng 9 năm 2003 và cung hiến ngày 26 tháng 4 năm 2012.
Ảnh: AnthonyLTT-HT, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ trên đồi Mai Anh bên đường Ngô Quyền, dựng đầu thập niên 1940 nhờ bà Suzanne Humbert, phu nhân Toàn quyền Jean Decoux, đứng ra vận động quyên góp. Tường đá chẻ xây vôi mật mía, sơn màu hồng đậm, mái ngói đỏ dáng nhà rông, nguyên là nguyện đường của Tu hội Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn và từ năm 2000 là nhà thờ giáo xứ Mai Anh do Tu hội Truyền giáo Vinh Sơn coi sóc.
Ảnh: Trần Huy Phương, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Phan Thiết, giáo phận lập theo tông sắc ngày 30 tháng 1 năm 1975. Ngôi thánh đường hiện nay do cha Giuse Nguyễn Tiến Huynh cùng giáo dân xây, khởi công năm 1992 và cung hiến năm 1993, mặt tiền cách điệu mũ và gậy giám mục.
Ảnh: Maynardnguyen, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đan viện dòng Xitô Thánh Gia ở vùng Dran bên sông Đa Nhim, do cộng đoàn Châu Sơn từ Nho Quan vào miền Nam giai đoạn 1953 tới 1957 dựng cơ sở trên khu đồi 150 héc ta ngày 1 tháng 6 năm 1957, thành đan viện tự trị năm 1961 và nâng lên hàng đan phụ viện ngày 13 tháng 11 năm 1963.
Ảnh: Congluancs, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đan viện gốc của cộng đoàn Châu Sơn thuộc Hội dòng Xitô Thánh Gia, khai sinh ngày 8 tháng 9 năm 1936 từ đan viện mẹ Phước Sơn trên đồn điền cũ ở Nho Quan, nổi bật với ngôi thánh đường gạch đỏ không trát dài 64 m xây dựng từ năm 1939 tới năm 1945.
Ảnh: Kien1980v at Vietnamese Wikipedia, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Bà Rịa, giáo phận lập năm 2005 và trẻ nhất Việt Nam lúc ấy. Ngôi hiện nay theo lối Roman hiện đại với hai tháp đá hoa cương cao 45 mét, đặt đá năm 2007 và cung hiến ngày 10 tháng 4 năm 2010 sau 32 tháng xây.
Ảnh: Maynardnguyen, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ chính tòa của giáo phận Phú Cường, dựng lại theo lối Gothic với tỷ lệ hiện đại, khởi công năm 2009 và cung hiến ngày 25 tháng 4 năm 2014. Đây là ngôi thứ tư trên đất họ đạo Thủ Dầu Một, sau ngôi gạch năm 1865, ngôi gỗ năm 1897 và ngôi làm phép năm 1941.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Trung tâm hành hương Đức Mẹ của giáo phận Bà Rịa trên sườn Núi Lớn, khởi từ tượng Đức Mẹ cao 7 mét do cha Phaolô Nguyễn Minh Tri dựng năm 1963. Tượng lớn hiện nay đứng ở độ cao chừng 60 mét so với mặt biển, khánh thành cuối năm 1994, đền thánh cung hiến năm 1995.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima của Tổng giáo phận Sài Gòn bên cầu Bình Triệu, do cha Phaolô Võ Văn Bộ mua khu đất chừng 12,5 hecta và dựng từ năm 1966. Đài tượng Đức Mẹ cao chừng 3 mét được Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình làm phép ngày 15 tháng 8 năm 1966, ngôi nhà thờ mới cung hiến năm 2017.
Ảnh: Buiminhthac, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Cơ sở đào tạo mục sư và truyền đạo của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), nối mạch từ lớp học đầu năm 1919 và Trường Kinh Thánh Đà Nẵng lập năm 1921. Viện mở lại năm 2003, nhà thờ và cơ sở ở Bình Trưng cung hiến ngày 30 tháng 10 năm 2017 với hơn 9.000 người dự.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Nhà mẹ của dòng Xitô Việt Nam, cộng đoàn đan tu khai sinh ngày 15.8.1918 tại núi Phước Sơn ở Quảng Trị do cha Henri Denis (Biển Đức Thuận) khởi xướng, ngày 6.10.1964 nâng hàng đan viện và hợp thành Hội dòng Xitô Thánh Gia, nhà nguyện hiện nay ở Phước Hòa cung hiến ngày 11.9.1999.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đại chủng viện của Tổng giáo phận Sài Gòn, do Đức cha Dominique Lefèbvre đặt viên đá đầu tiên năm 1863, linh mục Théodore Louis Wibaux điều hành việc xây dựng và khánh thành năm 1866. Nhà nguyện dựng năm 1867 còn đứng tới nay, trường mở lại với khóa I ngày 6 tháng 2 năm 1987.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nhà thờ của Chi hội Tin Lành Hội An trên đường Phan Châu Trinh, tín hữu mua đất và dựng nhà thờ tại chỗ hiện nay khoảng năm 1929 tới 1930, sau khi Tin Lành vào Hội An năm 1921. Kiến trúc giản dị, mặt tiền hướng tây nam với tường cao và cây thập tự, bên trong không có tượng ảnh, chỉ một cây thập tự.
Ảnh: Steffen Schmitz, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Trung tâm hành hương Đức Mẹ của giáo phận Xuân Lộc, pho tượng cao 50 m (bệ 17 m, tượng 33 m), khởi công năm 2015, cung hiến Đền thánh năm 2026.
Ảnh: Baojcn01, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Trung tâm hành hương của giáo phận Mỹ Tho tại họ đạo Ba Giồng, nơi Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu làm cha sở trước khi bị xử trảm tại Mỹ Tho ngày 7 tháng 4 năm 1861. Ngài được phong thánh năm 1988, trung tâm mang tên ngài khánh thành ngày 24 tháng 11 năm 2017.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi chùa quy mô đầu tiên của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tại vùng núi Tượng (xã Ba Chúc), do Đức Bổn Sư Ngô Lợi dựng năm 1877 cùng đình An Định theo bố cục tiền đình hậu tự, đối diện tổ đình chùa Tam Bửu và được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1980.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Tổ đình trung tâm của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa dưới chân núi Tượng (xã Ba Chúc), do Đức Bổn Sư Ngô Lợi khởi lập giai đoạn 1876 - 1882 theo bố cục tiền đình hậu tự gắn với đình Tam Bửu, nơi lưu giữ ngôi Long Đình đóng năm 1879 và được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1980.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thánh đường Hồi Giáo Islam của làng Chăm Búng Lớn, đứng bên hồ Búng Bình Thiên ở vùng biên An Phú. Ngôi dựng từ năm 1992, tới năm 2011 được nới rộng thêm 256 mét vuông để có chỗ hành lễ riêng cho nữ tín đồ.
Ảnh: Hillbirt03, CC0, Wikimedia Commons
Tòa Thánh trung ương của Hội Thánh Cao Đài Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý, đặt trên nền Thánh thất Mông Thọ lập năm 1936 (Hội Thánh định hình năm 1955, làm lễ trí thạch năm 1958). Điểm nhận diện riêng là trong Bát Quái Đài không làm Quả Càn Khôn, và sát cạnh Thánh Tòa có Diêu Trì Bửu Điện thờ Đức Diêu Trì Kim Mẫu.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Thánh thất Cao Đài lớn nhất Việt Nam, thuộc Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, khởi lập năm 1938 và đại trùng tu năm 2005 tới 2010 trên đồi thông Trại Mát với hai tháp Hiệp Thiên Đài cao 18 mét.
Ảnh: Diane Selwyn, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi chùa trên núi Thiên Thai phía nam Huế do Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán khai sơn, nơi phát xuất dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán, dòng truyền thừa lớn nhất của Phật Giáo miền Trung. Tháp của Tổ Liễu Quán dựng năm 1743 trên triền núi cách chùa chừng một cây số về phía nam.
Ảnh: Lưu Ly (thảo luận), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình Lâm Tế ở phía nam Kinh thành Huế do Thiền sư Nguyên Thiều người Quảng Đông khai sơn cuối thế kỷ 17, được chúa Nguyễn Phúc Thái ban biển Sắc tứ Quốc Ân tự năm 1689. Chùa còn giữ bộ ván kinh Pháp Hoa khắc in năm 1731 và vừa đại trùng tu toàn bộ bằng gỗ, khánh thành năm 2022.
Ảnh: Lưu Ly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình dòng Liễu Quán ở vùng đồi Dương Xuân phía tây nam Huế, khởi từ thảo am của Tổ Tánh Hoạt Huệ Cảnh giữa thế kỷ 19. Chùa dựng theo lối chữ khẩu của chùa Huế truyền thống và được trùng tu lần gần nhất từ năm 2013 tới năm 2015.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh ở Hội An, do Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo người Phúc Kiến khai sơn, nơi ngài đặt bài kệ truyền thừa và nơi đặt tháp của ngài. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991.
Ảnh: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình thứ hai của dòng Lâm Tế Chúc Thánh ở vùng Hội An, cách tổ đình Chúc Thánh chừng nửa cây số, khai sơn vào khoảng giữa thế kỷ 18. Chùa giữ lối mái chồng diêm lợp ngói âm dương cùng chuông, khánh, tượng mười tám vị La Hán và nhiều hoành phi câu đối.
Ảnh: Benjaminelevenis, CC0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa cổ bên con đường nước xưa từ thành Thăng Long ra bến Đông Bộ Đầu, tên chữ Hồng Phúc tự, là tổ đình đầu tiên của dòng thiền Tào Động ở miền Bắc từ thế kỷ 17. Chùa giữ 28 tấm bia đá và pho tượng vua cõng Phật hiếm thấy.
Ảnh: Viethavvh at vi.wikipedia, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi chùa của vùng hành cung Thiên Trường nhà Trần, nổi bởi ngọn tháp mười bốn tầng cao 19,51 mét dựng đầu thế kỷ 14 để tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông. Chùa giữ bộ tượng Trúc Lâm Tam Tổ với tượng Trần Nhân Tông nằm nhập Niết Bàn.
Ảnh: I Love Triệu Đà, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình Lâm Tế bên sông Đồng Nai do Tổ Thành Nhạc Ẩn Sơn khai sơn cuối thế kỷ 17, được coi là một trong những ngôi chùa sớm nhất của Phật Giáo Nam Bộ. Chùa dựng theo lối chữ tam và giữ bảo tháp Tổ khai sơn trong khuôn viên.
Ảnh: Mrfly911, CC0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa cổ trên cù lao Phố giữa hai nhánh sông Đồng Nai, do nhà sư Thành Đẳng thuộc dòng Lâm Tế khai sơn nửa sau thế kỷ 17. Chùa giữ pho tượng A Di Đà bằng gỗ mít cao 2,25 mét và được xếp hạng di tích quốc gia năm 1990.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Thiền viện do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập năm 1974 trên khu đất rộng chừng mười héc ta ở Long Thành, nay là tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm thời hiện đại. Chánh điện khánh thành ngày 15 tháng 4 năm 1986, quanh đó là thiền đường, tăng đường, thư viện và hàng trăm thiền thất.
Ảnh: Vinnie Cartabiano, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình Lâm Tế ở Sài Gòn khởi từ một am giữ gỗ trùng tu chùa Giác Lâm năm 1798, đổi tên Giác Viên năm 1850. Chùa nổi tiếng với 153 pho tượng gỗ mít và 57 bao lam chạm khắc.
Ảnh: Gary Todd from Xinzheng, China, CC0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình của Thiên Thai Thiền Giáo Tông dưới chân núi Dinh, khởi từ hang đá nơi Tổ Huệ Đăng tu, chùa dựng từ năm 1920. Khuôn viên chừng sáu héc ta gồm hai khu là chùa Thiên Thai và tháp Thiên Bửu.
Ảnh: Lưu Ly (thảo luận), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi tịnh xá lớn của Hệ phái Khất Sĩ ở Sài Gòn, khởi công năm 1965, được gọi là ngôi nhà chung của hệ phái. Trong khuôn viên có bảo tháp Ngọc Phật chín tầng hình bát giác cao 37 mét, ứng với ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi tự viện đầu tiên của Phật Giáo Nam Tông người Việt, dựng năm 1938 trên khu đất rừng ở Gò Dưa, lạc thành và kiết giới năm 1940. Năm 2007 chùa được sách kỷ lục Việt Nam ghi là ngôi tự viện Theravada đầu tiên ở Việt Nam.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa Nam Tông Kinh giữa nội đô Sài Gòn, lập năm 1947 và xây lại từ năm 1949, mang tên tu viện Kỳ Viên thời Đức Phật. Chùa thờ xá lợi Phật do Hòa thượng Narada người Tích Lan dâng năm 1953 và được xem là trung tâm hoằng pháp của hệ phái Nam Tông Việt Nam.
Ảnh: Diane Selwyn, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa Nam Tông Khmer bên quốc lộ 1A cách trung tâm Sóc Trăng cũ chừng 12 cây số, tên Khmer là Sà Lôn, người Việt gọi là chùa Chén Kiểu vì tường và mái được ốp bằng mảnh chén, đĩa sứ. Chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2012.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa Nam Tông Khmer ở vàm sông Ô Môn, theo lời kể khởi dựng năm 1735 bằng cây lá, chánh điện hiện nay dựng từ năm 1950 tới năm 1952 theo bản thiết kế thỉnh từ Phnôm Pênh. Chùa được công nhận di tích cấp thành phố năm 2006.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa Nam Tông Khmer lớn bậc nhất vùng Bạc Liêu cũ, khởi công năm 1887 trên khu đất gần năm héc ta, cách bờ biển chừng hai cây số. Kiến trúc mang dáng đền tháp Angkor với hơn trăm pho tượng và chánh điện có mười tám bậc thang.
Ảnh: Huỳnh Hoàng Nhật Duy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ngôi tổ đình bên sông Hậu do ông Hương cả Lê Văn Gồng vận động dân làng Đông Hậu dựng năm 1894, sau thành chốn tu học của các vị hòa thượng từ Quảng Ngãi vào. Chánh điện dựng năm 1962 theo hình chữ sơn, sân chùa nay có vườn kinh khắc đá.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi tịnh xá đầu tiên của Hệ phái Khất Sĩ, do Tổ sư Minh Đăng Quang dựng cuối năm 1948 bên xóm Chài ở thị xã Vĩnh Long cũ. Chánh điện hình bát giác đường kính 18 mét dựng năm 1993, tượng trưng Bát Chánh Đạo.
Ảnh: Quốc Anh Võ, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Khmer ở ấp Cù Lao, dựng năm 1860 trên khu đất chừng bốn héc ta, người địa phương quen gọi là chùa Cù Lao. Chánh điện dựng lại từ năm 2001 tới năm 2010 rộng hơn 427 mét vuông và cao hơn 36 mét, mái nhiều tầng, vách phủ phù điêu và tranh tích Phật.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Ngôi chùa cổ ở làng Hà Trung phía đông nam Huế, thời các chúa Nguyễn là một ngôi chùa công và được ban biển Sắc tứ Hà Trung tự. Thiền sư Nguyên Thiều, người mở dòng Lâm Tế ở Đàng Trong, được chúa cử về trụ trì nơi đây, nên bia tháp của ngài dựng năm 1729 mang tên Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Thiền viện của Thiền phái Trúc Lâm hiện đại do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập trên núi Linh Sơn giữa hồ Truồi, khởi công năm 2006 và khánh thành năm 2008. Giác Ngộ gọi đây là thiền viện đầu tiên của thiền phái ở miền Trung, người đến thường qua hồ bằng thuyền rồi leo 172 bậc đá lên cổng tam quan.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi chùa thời Trần trên sườn núi Tam Ban, nơi an táng Đệ nhị tổ Trúc Lâm Pháp Loa trong tháp Viên Thông dựng năm 1334. Chùa còn giữ tấm bia Thanh Mai Viên Thông tháp bi dựng năm 1362, khắc chừng năm nghìn chữ về hành trạng của Tổ, nay là Bảo vật quốc gia.
Ảnh: Đặng Thái Hoàng, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Thiền viện của Thiền phái Trúc Lâm hiện đại do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập trên nền ngôi chùa cổ Thiên Ân ở sườn núi Tam Đảo, khởi công năm 2004 và khánh thành năm 2005. Khu thiền viện xây trên chừng 4,5 héc ta giữa khoảng rừng 50 héc ta, có nhà trưng bày hiện vật tìm thấy khi đào móng.
Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Thiền viện trên núi Lớn ở Vũng Tàu, khởi từ thất Pháp Lạc mà Hòa thượng Thích Thanh Từ lập năm 1966, là nơi bắt đầu công cuộc phục hưng Thiền tông đời Trần của Thiền phái Trúc Lâm hiện đại. Thiền viện ở độ cao chừng 80 mét, lưng tựa núi, mặt nhìn ra biển.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi tòng lâm lớn của Phật Giáo Bắc Tông bên quốc lộ 51, do Hòa thượng Thích Thiện Hòa khai sơn năm 1958 làm nơi tăng chúng tu học tập trung. Chánh điện Vạn Phật Quang khởi công năm 2002, dài 91 mét, rộng 46 mét, hai tầng, được ghi nhận là chánh điện lớn nhất Việt Nam.
Ảnh: Thuydaonguyen, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình Lâm Tế ở Thủ Dầu Một do Thiền sư Đại Ngạn khai sơn năm 1741, dời về chỗ hiện nay năm 1868. Chánh điện còn gần trăm pho tượng gỗ mít thếp vàng và bộ mộc bản in kinh khắc năm 1885.
Ảnh: Nhoxleminhtien, CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa Bắc Tông trên khu đất rừng cũ ở Hóc Môn do Hòa thượng Ngộ Chân Tử lập năm 1957, chánh điện hiện nay trùng tu từ năm 1995 theo dáng mái chùa miền Bắc. Chùa được biết nhiều nhờ các khóa tu Phật thất bảy ngày và khóa tu mùa hè cho thanh thiếu niên, mỗi khóa có hàng nghìn người dự.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình Lâm Tế do Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc khai sơn giữa thế kỷ 18 ở vùng Chợ Đũi, được vua Minh Mạng ban biển Sắc tứ Từ Ân tự. Năm 1870 chùa được dựng lại bên rạch Ông Buông ở Phú Lâm, nay còn giữ hoành phi chạm gỗ sơn son thếp vàng thế kỷ 19 cùng hàng trăm quyển kinh chữ Hán và chữ Nôm.
Ảnh: Lưu Ly, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi chùa dòng Lâm Tế Gia Phổ ở Thủ Đức do Hòa thượng Thích Trí Tịnh khai sơn giữa thập niên 1950 trên nền một ngôi nhà được cư sĩ Nguyễn Thị Hương hiến cúng. Đây là nơi Hòa thượng dịch và giảng các bộ kinh Đại Thừa như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Địa Tạng từ chữ Hán sang tiếng Việt, và chánh điện sau đợt trùng tu 2003 tới 2005 cao 43,5 mét.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi pháp viện mang tên Tổ sư Minh Đăng Quang của Hệ phái Khất Sĩ, do Hòa thượng Thích Giác Nhiên cùng chư tăng Giáo đoàn IV lập năm 1968 bên Xa lộ Hà Nội. Công trình xây lại từ năm 2009 có chánh điện bát giác và bốn bảo tháp ở bốn góc, là quần thể lớn nhất của hệ phái.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Thiền viện của Phật Giáo Nam Tông Kinh trên ngọn đồi bên sông Đồng Nai, khởi từ tịnh thất cư sĩ Võ Hà Thuật dựng năm 1942 và thành thiền viện khi được dâng cho Hòa thượng Hộ Tông năm 1958. Bảo tháp Gotama Cetiya khởi công năm 2007 mang dáng kiến trúc Phật Giáo vùng Suvannabhumi, trong thờ xá lợi Phật.
Ảnh: minhphuc_99kdd, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons
Ngôi tịnh xá tổ đình của Ni giới Hệ phái Khất Sĩ ở Gò Vấp, do Ni trưởng Huỳnh Liên lập năm 1957. Tịnh xá là nơi đào tạo ni chúng Khất Sĩ và tổ chức an cư kiết hạ, được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1994.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi tổ đình của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam, hệ phái Phật Giáo cư sĩ tu Tịnh Độ do Tông sư Minh Trí lập năm 1934. Chùa là nơi thờ chư tổ của hệ phái và giữ phòng thuốc Nam châm cứu miễn phí, mỗi ngày khám cho hơn trăm người bệnh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đạo quán nhỏ ở phố Cát Linh, cách Văn Miếu chừng ba trăm mét, thờ Tú Uyên và tiên nữ Giáng Kiều, đôi vợ chồng tu tiên trong truyện Bích Câu kỳ ngộ. Tương truyền quán có từ đời Lê Thánh Tông và xưa là chỗ nho sinh Quốc Tử Giám, tao nhân mặc khách lui tới.
Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Một trong Thăng Long tứ quán, thờ Huyền Thiên Thượng Đế, vị thần Đạo Giáo trấn giữ phương Bắc, nằm trên phố Hàng Khoai cạnh chợ Đồng Xuân. Tấm bia niên hiệu Vĩnh Tộ đầu thế kỷ 17 đã gọi nơi này là Huyền Thiên cổ quán, về sau quán thờ thêm Phật và dân quen gọi là chùa Huyền Thiên.
Ảnh: eric molina, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Đạo quán cổ ở làng Cao Xá Thượng phía tây Hà Nội, thờ Ngọc Hoàng, Tam Thanh và Lão Tử cùng lớp tượng Phật và Nho, là một nơi tiêu biểu của lối Tam giáo đồng nguyên. Truyền thuyết gắn quán với Lữ Gia thời Nam Việt và với việc luyện đan, còn kiến trúc gỗ, bia và chuông cho thấy quán được dựng lại từ thời Mạc.
Ảnh: Nguyễn Quang Tình, CC0, Wikimedia Commons
Một trong Thăng Long tứ quán, thờ Đế Thích, vị trời đứng đầu cõi trời Đao Lợi mà dân gian Thăng Long tôn làm vua cờ, nên quen gọi là Chùa Vua. Quần thể gồm chùa Hưng Khánh thờ Phật và điện Thiên Đế thờ Đế Thích, hằng năm mở hội cờ từ mùng 6 tới mùng 9 tháng Giêng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Dấu tích của Đồng Thiên quán, một trong Thăng Long tứ quán, tương truyền gắn với Nguyên phi Ỷ Lan đời Lý ở phường Kim Cổ xưa. Khi quán dời đi đầu thời Tây Sơn, dân thôn lập đền thờ Linh Nhân Hoàng Thái hậu Ỷ Lan ở chỗ cũ, đến đời Tự Đức thêm tượng Phật nên nay gọi là chùa Kim Cổ.
Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Đền làng Ngọc Trì bên tả ngạn sông Hồng thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần Đạo Giáo trấn phương Bắc và trị thủy, trong hậu cung có pho tượng đồng cao gần bốn mét là Bảo vật quốc gia. Hội đền mùng 3 tháng 3 âm lịch giữ nghi lễ kéo co ngồi, nằm trong hồ sơ Nghi lễ và trò chơi kéo co mà UNESCO ghi danh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Văn miếu hàng tỉnh của xứ Đoài thời Nguyễn, thờ Khổng Tử cùng Tứ phối, bảy mươi hai vị hiền và vinh danh các nhà khoa bảng Sơn Tây, dựng bằng đá ong trên gò đất hướng nam gần làng cổ Đường Lâm. Sau khi trùng tu lớn và khánh thành năm 1892, miếu bị dỡ bỏ, nay còn chín tấm bia đá và đang được phục dựng dần.
Ảnh: Ngokhong (thảo luận), CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đền bên đê sông Hồng ở thôn Xâm Dương thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, vị Mẫu cai quản miền sông nước trong Tứ Phủ, được giới hầu đồng coi là một cửa đền chính của Mẫu Thoải. Theo thần tích, Mẫu hiển linh phù trợ nhà Trần nên được lập đền, về sau đền được ban sắc qua nhiều triều.
Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons
Văn miếu cấp tỉnh dựng mới trên gò Cháo ở Vĩnh Yên, thờ Khổng Tử, Chu Văn An và vinh danh 86 vị đại khoa ngạch văn của đất Vĩnh Phúc từ thời Lý tới thời Nguyễn. Công trình nối mạch văn miếu phủ Tam Đái có từ thời Lê, ngôi miếu cũ đã dời chỗ nhiều lần rồi mất dấu.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Quần thể ba đền Hạ, Trung, Thượng nối nhau dọc con suối giữa rừng núi Huyền Đinh, thờ công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương, người được giới hầu đồng tôn là Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Truyền thuyết kể nàng khơi dòng suối cho dân có nước cày cấy, nên dân gọi là Suối Mỡ hay Suối Mẫu.
Ảnh: Thang Nguyen from Nottingham, United Kingdom, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Đền ở xã Hiền Lương vùng Hạ Hòa thờ Tổ Mẫu Âu Cơ, người mẹ trong truyền thuyết trăm trứng, nơi dân gian tin Mẫu đưa các con lên núi dạy dân trồng cấy rồi hóa. Trong hậu cung có pho tượng Mẫu bằng gỗ mít thế kỷ 19 được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2020.
Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Ngôi đền bên bờ phải sông Hồng thờ Cô Bé Tân An, được người trong đạo coi là một hóa thân của Cô Bé Thượng Ngàn, và theo lời kể phổ biến là con gái của vị thần thờ ở đền Bảo Hà bên kia sông. Lễ hội chính rơi vào ngày 17 tháng Giêng âm lịch, có lệ rước kiệu từ đền Cô sang đền Bảo Hà mà dân gọi là con gái mời cha về dự hội.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng điện Tứ Phủ Công Đồng ở thị trấn nghỉ mát Sa Pa, xưa gọi là Đền Máy Cưa vì nằm gần một xưởng cưa thời Pháp. Đền được trùng tu lớn năm 2002, xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2005 và mở hội hằng năm vào mồng 3 tháng Ba âm lịch.
Ảnh: Bùi Thế Tâm, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đền bên sông Hồng ở Văn Yên được các nguồn Đạo Mẫu coi là đền chính thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, vị Mẫu cai quản miền rừng núi trong hệ Tứ Phủ. Lễ hội đầu xuân mở vào ngày Mão đầu tiên của tháng Giêng, được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023.
Ảnh: Facinate, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Quần thể đền thờ Bà Chúa Thác Bờ ở khúc sông Đà nay là lòng hồ thủy điện Hòa Bình, gồm hai đền đối bờ ở Thung Nai và Vầy Nưa cùng động Thác Bờ. Đền cũ đã chìm dưới hồ, mùa hội mở từ mồng 7 tháng Giêng tới hết tháng Ba âm lịch.
Ảnh: Northern Vietnam, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi đền dựng trên đất thái ấp cũ của An Sinh Vương Trần Liễu, thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến, dân gian coi là quê hương của Đức Thánh Trần. Đền được dựng kiên cố từ năm 1928 theo lối chữ Đinh, xếp hạng di tích quốc gia năm 1988.
Ảnh: Yensaolocoi, CC0, Wikimedia Commons
Ngôi đền bên sông Hồng ở chỗ sông Lảnh gặp sông Hồng, thờ ba vị thủy thần thời Hùng mà người trong đạo tôn là Quan Lớn Đệ Tam, cùng Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung. Đền gồm ba tòa mười bốn gian, xếp hạng di tích quốc gia năm 1996, lễ hội tháng Sáu âm lịch được ghi danh di sản phi vật thể quốc gia năm 2017.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh bên dốc Tam Điệp, tên chữ Chúc Sơn Tiên Từ, tức đền tiên ở núi Cháo, cùng Đền Dâu gần đó làm thành một cặp đền thờ Mẫu. Đền được trùng tu năm 1854 đời Tự Đức, mùa hội kéo từ rằm tháng Giêng tới mồng 3 tháng Ba âm lịch.
Ảnh: Vudoanh2101 (thảo luận), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons
Quần thể đền mười ba tòa sáu mươi sáu gian ở Quỳnh Phụ cũ, thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, vị thủy thần đứng đầu miền nước trong hệ Tứ Phủ. Hội đền mở từ 20 tới 26 tháng Tám âm lịch, được ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền bên ngã ba Bông trên sông Mã thờ Cô Bơ Thoải, vị thánh cô miền sông nước trong hệ Tứ Phủ, được Báo Thanh Hóa gọi là nơi phát tích của Cô. Đền thuộc quần thể di tích Hàn Sơn, xếp hạng di tích quốc gia năm 1996, chính hội ngày 12 tháng Sáu âm lịch cùng đền Hàn Sơn.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền bên sông Mã ở Hà Trung cũ thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, vị Mẫu cai quản miền sông nước trong Tam Tòa Thánh Mẫu, cùng với đền Cô Bơ làm thành quần thể di tích Hàn Sơn. Tương truyền đền dựng từ thời Hồng Đức, xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 1992, chính hội ngày 12 tháng Sáu âm lịch.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đền cách đền Sòng chừng một cây số về phía đông, mang tên theo chín miệng giếng nước tự nhiên trước cửa đền mà nguồn địa phương tả là quanh năm không cạn. Tài liệu của thị xã Bỉm Sơn ghi đền thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, người đi lễ quen gọi là Cô Chín, và coi đây là một phần của quần thể thờ Mẫu Sòng Sơn.
Ảnh: Nguyen Tam, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân đèo Ba Dội bên suối Sòng, một trong ba nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh được người trong đạo coi trọng nhất cùng Phủ Dầy và Phủ Tây Hồ. Chính tẩm treo hoành phi Mẫu nghi thiên hạ, mở hội Sòng Sơn Ba Dội tháng Hai âm lịch.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Khu đền trên núi Phượng Hoàng thờ Chu Văn An (1292 tới 1370), Tư nghiệp Quốc Tử Giám đời Trần, người về đây dạy học, viết sách những năm cuối đời. Khu di tích gồm đền chính, mộ ông trên núi và điện Lưu Quang, đền chính dựng theo lối hai tầng tám mái với hơn một trăm bậc đá dẫn lên.
Ảnh: Hoangkid (talk), CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đền dựng từ năm 2000 tới năm 2002 dưới chân núi Ngũ Nhạc trong khu Côn Sơn, thờ Nguyễn Trãi (1380 tới 1442), danh nho, nhà văn, người từng sống và viết ở Côn Sơn. Khuôn viên chừng một héc ta gồm cầu đá, nghi môn, điện thờ, nhà tả vu hữu vu, nhà bia, với pho tượng đồng Nguyễn Trãi cao 1,4 mét.
Ảnh: Kien1980v (thảo luận), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Văn miếu của trấn Sơn Nam Thượng xưa, dựng thời Lê trên nền chùa Nguyệt Đường cũ ở làng Xích Đằng và trùng tu năm 1839, thờ Khổng Tử, các bậc tiên hiền và Chu Văn An. Chín tấm bia đá trong miếu ghi danh 161 vị đỗ đại khoa của vùng, 138 người Hưng Yên và 23 người Thái Bình cũ.
Ảnh: Nguyễn Thanh Quang, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Văn miếu của tỉnh Hà Tĩnh dựng năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) trên khu đất chừng 5.000 mét vuông ở làng Hoàn, xã Đông Lỗ, là nơi tế xuân thu và dựng bia ghi danh người đỗ đạt của tỉnh. Công trình cũ hư hại gần hết, khu văn miếu nay là bản phục dựng hoàn thành năm 2023 trên chừng 1,7 héc ta.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Văn miếu của đất Khánh Hòa ở làng Phú Lộc gần thành Diên Khánh, thờ Khổng Tử cùng Tứ phối và Thập triết, lập đầu thế kỷ 19 và dựng lại bằng gỗ giữa thế kỷ ấy. Miếu từng bị cháy, dựng lại năm 1959 và trùng tu lớn năm 2008.
Ảnh: Không rõ (Unknown), Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Văn Thánh của huyện Hà Đông xưa, dựng từ năm 1840 tới năm 1842 ở làng Chiên Đàn, tới năm 1963 vật liệu được đưa về làng Mỹ Thạch dựng lại trên nền một ngôi Khổng Miếu nhỏ có sẵn, xong năm 1970. Khu thờ Khổng Tử và các bậc tiên triết, tiên hiền, tiên Nho, rộng chừng 6.000 mét vuông.
Ảnh: Taxigiadinh, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Văn miếu dựng từ năm 1864 tới năm 1866 ở thôn Long Hồ theo đề xướng của Đốc học Nguyễn Thông, thờ Khổng Tử ở điện Đại Thành, là văn miếu cuối cùng trong ba văn miếu Nam Kỳ và là ngôi duy nhất còn đứng. Trong khuôn viên hơn một héc ta có Văn Xương Các, lầu hai tầng từng làm nơi chứa sách và bình văn.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Văn miếu do Tri phủ Hồ Trọng Đính đề xướng, dựng từ ngày 4 tháng 6 tới ngày 28 tháng 10 âm lịch năm Đinh Tỵ (1857) ở thôn Mỹ Trà, huyện Kiến Phong, năm 1878 dời về chỗ hiện nay. Miếu thờ Khổng Tử và Tứ phối, nay nằm trong công viên Văn Miếu giữa thành phố.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Cụm bốn công trình gạch Chăm trên một ngọn đồi ở Tuy Phước, dựng khoảng cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12 trên đất Vijaya, gồm tháp chính, tháp cổng, tháp lửa và tháp bia. Tháp chính cao chừng 29,6 mét, từng đặt tượng thần Shiva ngồi mà bản gốc nay ở Bảo tàng Guimet, Paris.
Ảnh: Ms Sarah Welch, CC0, Wikimedia Commons

Tháp Chăm cổ nhất trên đất Bình Định cũ tại xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai (trước 2025 là huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định), dựng cuối thế kỷ 10 đầu thế kỷ 11 giữa làng Bình Lâm, thờ Shiva dưới dạng linga với di vật jatalinga tại chùa Thiên Trúc và rãnh nước thiêng somasutra phát lộ năm 2008.
Ảnh: Ms Sarah Welch, CC0, Wikimedia Commons

Ngọn tháp gạch Chăm thế kỷ 12 đứng trên gò cao giữa thành Đồ Bàn, kinh đô Vijaya xưa, cao chừng 20 mét, bốn tầng. Các góc mái vút cong như cánh bay nên dân gian gọi là tháp Cánh Tiên, người Pháp gọi là tháp Đồng vì màu gạch.
Ảnh: Ms Sarah Welch, CC0, Wikimedia Commons

Ngọn tháp gạch Chăm đầu thế kỷ 12 trên đỉnh đồi cao 76 mét ở An Nhơn, nhìn thấy từ khắp cánh đồng quanh thành Đồ Bàn. Bình đồ tháp hình vuông mỗi cạnh 9,7 mét, cao chừng 15 mét, phần nền và bệ phía đông đã sập nhưng thân tháp vẫn còn dáng phong cách Bình Định và các bộ phận trang trí bằng đá.
Ảnh: Dongson*vmvn at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngọn tháp gạch Chăm nửa đầu thế kỷ 12 ở vùng Tây Sơn, cùng phong cách Bình Định với Cánh Tiên và Phú Lốc nhưng nhỏ hơn. Trong lòng tháp, tường phía tây có một khám thờ vòm cung chưa thấy ở tháp Chăm nào khác.
Ảnh: Hanoian2402, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Cặp tháp gạch Chăm ở làng Liễu Cốc Thượng phía bắc Huế, theo kết quả khai quật năm 2024 có niên đại khoảng cuối thế kỷ 9. Các nhà khảo cổ cho rằng đây có thể là di tích duy nhất trong hệ thống đền tháp Champa có hai tháp thờ chính đứng cạnh nhau.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngọn tháp gạch Chăm khoảng thế kỷ 8 bị cát vùi sâu 5 tới 7 mét trong cồn cát ven biển Phú Vang, được công nhân khai thác titan tình cờ phát hiện tháng 4 năm 2001. Tháp chỉ còn phần chân cao hơn 3 mét, nay được che trong một nhà kính để bảo tồn.
Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Đền tháp Chăm thế kỷ 17 trên đồi Bôn A Cho ở Phước Hữu, thờ vua Pô Rômê của Panduranga được thần hóa, tháp chính cao chừng 16,5 mét, bốn tầng. Trong tháp còn phù điêu đá vua Pô Rômê tám tay trên bệ linga yoni, được công nhận Bảo vật quốc gia năm 2020.
Ảnh: Irdyb, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Cụm đền tháp Chăm dựng khoảng cuối thế kỷ 8 đầu thế kỷ 9 theo phong cách Hòa Lai, nằm dưới chân núi Ông Xiêm ở Tuy Phong. Người Chăm địa phương gắn cụm tháp với vua Pô Đam của Panduranga, người được nhớ vì đắp đập dẫn nước làm ruộng.
Ảnh: Titô, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Di chỉ nền móng của ít nhất ba tháp Chăm ở làng Phong Lệ, phát hiện tình cờ năm 2011 khi một hộ dân đào móng nhà, được Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng khai quật ba đợt. Đây là di tích Chăm được khảo sát kỹ nhất ở Đà Nẵng, nổi bật với một hố thiêng xây gạch dưới lòng tháp chính mà các nhà khảo cổ chưa gặp ở đền tháp nào khác.
Ảnh: Daderot, CC0, Wikimedia Commons

Tháp Chăm gạch thờ Shiva dựng khoảng thế kỷ 11, là tháp Chăm duy nhất còn lại có thân hình bát giác, cao chừng 21,5 mét, mỗi cạnh dài 4 mét. Tháp gồm một tiền sảnh và một điện thờ, cả khối thân tháp được tạo dáng như một linga khổng lồ.
Ảnh: Dongson*vmvn at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Cụm ba tháp Chăm đứng song song theo trục bắc nam, cửa quay về hướng đông, thờ bộ ba thần Shiva, Vishnu và Brahma, tháp giữa còn gần nguyên vẹn, hai tháp bên chỉ còn phần chân. Các đợt khai quật năm 1989, 1997 và 2000 tìm được chừng một trăm hiện vật điêu khắc, nhiều hơn mọi cụm ba tháp khác, nay bày ở nhà trưng bày ngay cạnh tháp.
Ảnh: Nguyễn Đông Sơn at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Cụm ba tháp Chăm dựng khoảng cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10, xếp theo trục bắc nam, tháp nam cao nhất. Tháp là mẫu gốc đặt tên cho phong cách Khương Mỹ trong nghệ thuật Champa, thân tháp còn giữ nhiều hoa văn cuộn và phù điêu hơn phần lớn tháp cùng thời.
Ảnh: Original uploader was Nguyễn Đông Sơn at vi.wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Tháp gạch Chăm duy nhất ở Tây Nguyên, dựng khoảng cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14 dưới triều vua Jaya Simhavarman III, thờ Shiva dưới dạng linga có mặt thần. Tháp nhỏ, cao chừng 9 mét không kể chóp, đứng giữa rừng khộp ven sông Ea H'leo, được một sĩ quan người Lào phát hiện khoảng năm 1900.
Ảnh: Nguyễn Đông Sơn at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Đền Ấn Độ Giáo do giới thương nhân Tamil gốc Nattukottai Chettiar ở Sài Gòn dựng khoảng năm 1880, thờ thần Murugan dưới danh hiệu Thendayuthapani. Đền có tháp tầng nhiều tượng xây năm 1936 và còn giữ cỗ xe rước bằng bạc từng chở tượng thần trong lễ Thaipusam.
Ảnh: Shesmax, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Đền Ấn Độ Giáo nhỏ của người Tamil trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thờ thần Murugan dưới danh hiệu Subramaniam, được một số nguồn coi là đền Ấn Độ cổ nhất Sài Gòn. Đền mang dáng Dravida giản lược, mặt tiền có phù điêu các thần tô màu, trong điện còn bàn thờ Ganesha với linga yoni và bàn thờ chín vị thần hành tinh.
Ảnh: Manojk, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Thánh đường Hồi Giáo Islam chính thống mang số hiệu 104, tên riêng Niakmah, ở thôn Nho Lâm ven quốc lộ 1, là ngôi thứ tư trong bốn thánh đường Islam của người Chăm vùng Ninh Thuận cũ. Khảo cứu ghi thánh đường có khoảng 286 tín đồ trên khu đất 1.237 mét vuông, tu sửa năm 2003.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi quốc tự triều Nguyễn bên bờ sông Đông Ba, dựng năm 1844 khi vua Thiệu Trị cho cải phủ đệ cũ, nơi ông sinh năm 1807, thành chùa và ban tên Diệu Đế. Cùng Thiên Mụ và Thánh Duyên, đây là một trong ba ngôi quốc tự thời Nguyễn ở Huế, trụ trì xưa do triều đình bổ nhiệm.
Ảnh: Lưu Ly, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa khởi từ một am mái lá dựng năm 1948 mang tên Ứng Quang, đổi tên Ấn Quang từ khi Hòa thượng Thích Thiện Hòa về làm viện chủ năm 1950. Những năm đầu thập niên 1950 chùa là nơi đặt Phật học đường Nam Việt, trường đào tạo tăng sĩ gộp từ bốn Phật học đường ở Sài Gòn.
Ảnh: Gary Todd from Xinzheng, China, CC0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa ở Phú Nhuận lập năm 1920 để thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, về sau thành tổ đình của một môn phái Lâm Tế. Chùa được dựng lại gần như toàn bộ từ cuối thập niên 1960, nổi với pho tượng Quán Thế Âm mười một mặt bằng đá hoa cương đỏ đặt trong lòng núi giả.
Ảnh: Diane Selwyn, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi chùa trên sườn núi Thành Đẳng phía tây Uông Bí, tên chữ là Bảo Quang tự, bia đá trước cửa ghi dựng năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Lê Dụ Tông và ghi vị khai sáng thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Nền chùa cũ được tìm lại năm 1987 và chùa được dựng lại trên quy mô lớn trong những năm 2011 tới 2014.
Ảnh: Nghien87, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông Kinh ở Vĩnh Long, khởi từ một tịnh thất lợp lá khoảng năm 1958, thành chùa khi thí chủ Tô Thị Sa dâng đất cho Hòa thượng Tịnh Sự. Tổ khai sơn là người dịch trọn Vi Diệu Pháp ra tiếng Việt, nên chùa lâu nay là nơi dạy Abhidhamma và chữ Pali cho tăng ni và cư sĩ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền của làng Thanh Sơn phía bắc Bắc Ninh, thờ Tam phủ gồm Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ, cùng Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Đức Thánh Trần, tương truyền có từ thế kỷ 17 và được trùng tu lớn đầu thế kỷ 19. Đền giữ bảy đạo sắc phong cho công chúa Liễu Hạnh từ năm 1792 tới năm 1924 và được xếp hạng di tích quốc gia năm 1994.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Nhà thờ giáo xứ thuộc giáo phận Đà Lạt, kính Đức Mẹ Mân Côi, đứng trên đỉnh đồi cao nhất của làng Tân Hà. Cả ngôi làng lập cuối năm 1954 được vạch quanh nhà thờ với tám con đường tỏa ra, người lập làng gọi đó là tám mối phúc thật.
Ảnh: Thầy Ưng Khiêm chụp tại chỗ

Nhà thờ đồng đội liệt sĩ do cựu chiến binh Vũ Thị Minh Nghĩa, Má Năm Nghĩa, dựng bên Quốc lộ 56. Bản vẽ phong thủy Bát Trạch do Thầy Thuận Thiên lập, và theo lời Má kể, trùng khớp từng vị trí với lời các liệt sĩ dặn Má. Khách viếng được vào thắp hương.
Ảnh: Thầy Ưng Khiêm chụp tại chỗ

Ngôi đền nằm ở trung tâm Thành Bản Phủ bên bờ tả ngạn sông Nậm Rốm giữa cánh đồng Mường Thanh, thờ thủ lĩnh áo vải Hoàng Công Chất cùng sáu vị tướng lĩnh nghĩa quân Kinh và Thái đã đánh đuổi giặc Phẻ giữ yên biên cương Tây Bắc vào giữa thế kỷ 18.
Ảnh: vi:User:Lê Thy, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Bảo tháp Phật giáo cổ cao khoảng 15 mét của đồng bào dân tộc Lào dựng từ thế kỷ 16 bên bờ sông Mã dưới chân núi Hủa Ta, gồm bệ tháp và bốn tầng thân tháp thu nhỏ dần bằng gạch vồ gắn vữa mật mía, trang trí phù điêu rồng, cánh sen, lá đề và mặt nguyệt.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đại tự trung tâm và là trụ sở Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Điện Biên tọa lạc trên đồi cao Tông Khao, khởi dựng giai đoạn 2012 - 2013 với Đại hùng bảo điện, Điện thờ Phật Thích Ca cùng tôn tượng Phật A Di Đà và Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn ra thung lũng Mường Thanh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Quần thể di tích dưới chân núi Cằm bên bờ suối Nậm La lưu giữ văn bia ma nhai Quế Lâm Ngự Chế gồm 140 chữ Hán khắc trên vách đá hang Thẳm Báo Ké năm Canh Thân (1440) cùng ngôi đền Quế Lâm Linh Từ dựng năm 2001 - 2003 để tưởng niệm công đức giữ yên biên cương Tây Bắc của nhà vua và các tướng sĩ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Bảo tháp Phật giáo cổ cao khoảng 13 mét xây dựng từ thế kỷ 17 trên ngọn đồi nhân tạo giữa bản Mường Và, gồm năm tầng hình bút tháp bằng gạch vồ đỏ gắn vữa mật mía, trang trí phù điêu hoa cúc, lá đề, rồng cách điệu và voi leo núi của đồng bào Lào.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền trên mỏm núi Đầu Rồng bên bờ hữu ngạn sông Đà thuộc vùng lòng hồ Hòa Bình, thờ bà Đinh Thị Vân tức Chúa Hang Miếng, người phụ nữ dân tộc Mường đã chèo thuyền vượt thác tiếp lương cho đoàn quân của vua Lê Thái Tổ năm Tân Hợi (1431) rồi trầm mình hóa thần. Đền còn giữ được quả chuông đồng đúc tháng Hai năm Thành Thái thứ sáu và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2016.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Quần thể đền thờ bên bờ bắc sông Đà lưu giữ Bảo vật quốc gia Bia Vua Lê Thái Tổ, bức văn bia ma nhai gồm 132 chữ Hán do vua Lê Lợi cho khắc vào vách đá Pú Huổi Chỏ tháng Chạp năm Tân Hợi (1431) để khẳng định chủ quyền biên cương Tây Bắc. Khối đá nặng hơn 15 tấn đã được cưa tách và di dời nguyên khối lên khuôn viên đền năm 2012 để tránh ngập lòng hồ thủy điện Sơn La.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền cổ bên mó nước thiêng tại thung lũng Mường So, thờ nữ tướng Nàng Han của đồng bào Thái Trắng, người đã cải trang thành nam giới cầm quân bảo vệ bản mường rồi tắm gội hóa về trời vào ngày Rằm tháng Hai âm lịch. Đền được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2007 và Lễ hội Nàng Han được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đại tự trung tâm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Lai Châu, được quy hoạch năm 2017 và chính thức khởi công ngày 31 tháng 1 năm 2018 trên đỉnh núi Lao Tỷ Phùng ở độ cao hơn 1.100 mét với diện tích khoảng 5 hécta. Chùa mang kiến trúc cổ truyền Bắc Bộ, tựa vào mạch núi Pu Sam Cáp và phóng tầm mắt bao quát biển mây cùng hồ Thủy Sơn giữa lòng đô thị Lai Châu.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền thờ Vua Lê Thái Tổ dựng trên gò Long giữa lòng thành cổ Na Lữ bên sông Dẻ Rào, nơi từng là cung điện của vương triều nhà Mạc suốt hơn tám thập kỷ ở Cao Bằng (1594-1677) và được cải tạo thành đền thờ năm 1682.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền cổ dưới chân đồi Khau Sầm nhìn ra cánh đồng Vĩnh Quang và lưu vực sông Bằng Giang, thờ Thái bảo Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao (1025-1055) cùng thân mẫu A Nùng và ba vị phu nhân.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Cổ tự trên gò đất hình đầu rồng tại cố đô Cao Bình xưa, đối diện đền Quan Triều thờ Dương Tự Minh và gắn với Đà Quận công Mạc Ngọc Liễn, nơi lưu giữ Bảo vật quốc gia Đôi chuông chùa Đà Quận đúc năm Tân Hợi (1611).
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi chùa thời Trần do Chư quân dịch thủ Nguyễn Thêm (Sư cụ Hoàng Y) khởi dựng năm Bính Thân (1356) trên đồi bên bờ sông Lô, lưu giữ Bảo vật quốc gia Bia chùa Sùng Khánh khắc năm Đại Trị thứ 10 (1367) do Tạ Thúc Ngao soạn văn bia.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Cổ tự thời Trần ở tả ngạn sông Lô thuộc vùng Vị Xuyên cổ, nơi lưu giữ Bảo vật quốc gia Chuông chùa Bình Lâm đúc năm Ất Mùi (1295) đời vua Trần Anh Tông với bài minh 309 chữ Hán, quả chuông đồng thời Trần có niên đại xác thực sớm nhất Việt Nam.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đền cổ bên bờ hữu ngạn sông Lô dưới chân núi Là, khởi dựng đầu thế kỷ 18 thờ Thánh Mẫu Phương Dung Công Chúa và là nơi hợp tế của Lễ hội rước Mẫu Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La vào tháng hai âm lịch. Đền bảo lưu nghệ thuật chạm gỗ tứ linh thời Nguyễn, quả chuông đồng đúc năm Mậu Ngọ 1878 cùng các đạo sắc phong triều Nguyễn.
Ảnh: Nguoixutuyen22, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ngôi cổ tự có nguồn gốc từ thời Lý trên đồi Phù Liễn giữa trung tâm Thái Nguyên, mang hiệu Phù Chân Thiền Tự và lưu giữ bức đại tự cổ Linh sơn phúc địa. Sau đợt đại trùng tu giai đoạn 2006 tới 2016 với Tam quan, Đại hùng bảo điện, nhà Tổ, lầu Chuông, lầu Trống và vườn tháp cổ, chùa là Trụ sở Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thái Nguyên.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Cụm di tích tâm linh tiêu biểu dọc dòng sông Cầu và trục Quốc lộ 3 vùng Chợ Mới, kết nối ngôi đền bên ngã ba sông Tràng Cổ thờ Tam Tòa Thánh Mẫu cùng nữ tướng Cô Thắm với ngôi chùa cổ thế kỷ 18 ẩn trong hang đá vôi tự nhiên hình hàm rồng gồm Chùa Thiên và Chùa Âm. Khuôn viên Đền Thắm còn phát lộ di chỉ mộ táng tiền sử có niên đại gần 3.000 năm.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi đền cổ tọa lạc trên hòn đảo đá vôi hình ngựa đứng yên giữa lòng hồ Ba Bể, khởi dựng từ thế kỷ 17 để tưởng niệm các vị trung thần nhà Mạc tuẫn tiết tại động Puông và phối thờ Phật, Tam Tòa Thánh Mẫu, Chúa Sơn Trang, Đức Thánh Trần. Đền là tâm điểm nghi lễ rước thần mở màn hội xuân Lồng Tồng Ba Bể mùng 9 tới mùng 10 tháng Giêng âm lịch.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đền cổ thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới chân Đèo Ngang, khởi dựng năm 1557 đời Hậu Lê gắn với huyền tích Công chúa Liễu Hạnh hóa thân mở quán nước bên đường thiên lý dưới dãy Hoành Sơn. Đền tọa lạc ở thế đất lưng tựa Hoành Sơn, mặt hướng hồ nước ngọt và biển Đông gần Vũng Chùa, Đảo Yến và cửa ải Hoành Sơn Quan.
Ảnh: Linhcandng, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi tổ đình cổ nhất và là chốn tổ Phật giáo của tỉnh Quảng Trị, do Thiền sư Chí Khả thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 35 khai sơn năm Kỷ Hợi 1739 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát bên vùng đất dinh cổ Ái Tử. Chùa được chúa Nguyễn Phúc Khoát ban biển vàng Sắc tứ Tịnh Quang Tự và các vua Minh Mạng, Tự Đức ban sắc trùng tu, với thế đất lưng tựa đồi Hóc Trước hướng về lưu vực sông Thạch Hãn.
Ảnh: Phương Huy, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ngôi miếu cổ của cộng đồng người Hoa Minh Hương tại thương cảng cổ Thu Xà, khởi dựng năm Tân Tỵ 1821 dưới triều vua Minh Mạng theo bố cục chữ Tam ba tòa gồm Tiền đường, Chính điện và Hậu cung. Công trình thờ Quan Thánh Đế Quân ở chính điện cùng Quan Âm Nam Hải, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ ở hậu cung, bảo lưu nguyên vẹn sáu tấm bia đá chữ Hán và chuông đồng cổ thời Nguyễn.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi cổ tự mở nền Phật giáo trên vùng cao nguyên Bắc Tây Nguyên và là ngôi chùa duy nhất tại Kon Tum được ban biển Sắc tứ của triều Nguyễn. Khởi dựng năm Nhâm Thân 1932 do Hòa thượng Thích Hoằng Thông cùng hai cụ Võ Chuẩn và Phan Thanh Kỷ vận động lập nên bên sông Đăk Bla, chùa được vua Bảo Đại ban biển Sắc tứ Bác Ái Tự năm Quý Dậu 1933 và giữ vẹn nguyên kiến trúc nhà rường Huế cùng đại hồng chung đúc từ thời Minh Mạng.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Đại danh lam triều Lý do Hoàng thái hậu Ỷ Lan khởi dựng từ năm 1086 đến năm 1094 trên sườn núi Đại Lãm với bốn cấp nền bó đá hùng vĩ, nơi lưu giữ Bảo vật quốc gia Cột đá chạm rồng chùa Dạm nguyên khối cao gần 5 mét mang biểu tượng đôi rồng thời Lý hiến châu độc bản.
Ảnh: Hoangvantoanajc, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Cổ tự ngàn năm trên sườn núi Tiêu Sơn thuộc châu Cổ Pháp xưa, trung tâm Phật giáo Thiền tông thời Tiền Lê và thời Lý gắn liền với Quốc sư Vạn Hạnh, Trưởng lão Lý Khánh Văn và thời niên thiếu của vua Lý Thái Tổ, đồng thời là nơi lưu giữ pho tượng nhục thân Thiền sư Như Trí viên tịch năm 1723.
Ảnh: Viethavvh at Vietnamese Wikipedia, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Đệ nhất tùng lâm phía tây kinh thành Thăng Long khởi dựng từ thế kỷ 12 trên nền nhà cũ của cha mẹ Thiền sư Từ Đạo Hạnh tại làng Yên Lãng, nơi phối thờ Phật cùng Thiền sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông trong quần thể kiến trúc nội công ngoại quốc với cổng tam quan sập rồng, nhà bát giác và Lễ hội Chùa Láng ngày mùng 7 tháng 3 âm lịch.
Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Tổ đình của dòng Thiền Liên Tông ở Đàng Ngoài do vương tôn Trịnh Thập (Lân Giác Thượng Sĩ) cải phủ đệ thành chùa năm Bảo Thái thứ 7 (1726) khi đào gò đất thấy ngó sen lạ, đến năm 1840 đổi tên thành Liên Phái Tự, nổi tiếng với bảo tháp Diệu Quang 10 tầng trước sân và tháp đá Cứu Sinh (1733) cổ nhất nội đô Hà Nội.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Kiệt tác kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam tọa lạc trên bán đảo Nghi Tàm bên Hồ Tây, khởi nguồn từ cung Từ Hoa của Công chúa Từ Hoa thời Lý và dựng bia Đại Bi Tự thời Lê Sơ (1443/1445), nổi tiếng với cổng Tam quan gỗ một hàng cột chồng diêm tám mái và ba nếp chùa chữ Tam trùng tu năm 1771 và 1792.
Ảnh: Newone (thảo luận), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đại cổ tự đá ong xứ Đoài trong quần thể Làng cổ ở Đường Lâm, được Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Dong (Ngô Thị Ngọc Diệu, tục gọi Bà Chúa Mía) đại trùng tu năm Đức Long thứ 4 (1632), lưu giữ kỷ lục 287 pho tượng nghệ thuật cổ cùng gác chuông hai tầng tám mái và bảo tháp Cửu Phẩm Liên Hoa.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons

Một trong Tứ đại danh thắng xứ Đoài khởi dựng năm Trinh Phù thứ 10 (1185) đời vua Lý Cao Tông trên núi Tiên Lữ, gắn liền với Thiền sư Nguyễn Bình An (Đức Thánh Bối), nổi bật với quy thức 104 gian (cứ 4 cột tính 1 gian), bệ đất nung hoa sen thời Trần và gác chuông đúc chuông năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1794).
Ảnh: Viethavvh at vi.wikipedia, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons
Đại danh lam thờ Đức Pháp Vũ (Bà Đậu trong hệ thống Tứ Pháp) bên bờ sông Nhuệ, từng được tôn làm Quốc Tự thời Lê - Trịnh (1635), lưu giữ Bảo vật quốc gia hai pho tượng nhục thân toàn thân xá lợi của hai vị Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường thế kỷ 17 cùng đôi rồng đá thời Trần.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi cổ tự giữa rừng thông của quần thể Làng cổ Nôm bên sông Nguyệt Đức, đại trùng tu năm Chính Hòa thứ nhất (1680) đời vua Lê Hy Tông, nổi tiếng với 122 pho tượng Phật và Thánh bằng đất nung cổ bền vững qua nhiều trận lụt lớn cùng cây cầu đá 9 nhịp chạm đầu rồng thời Lê - Nguyễn.
Ảnh: Codobai, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Thắng tích tâm linh biệt lập trong thung lũng núi đá vôi ngập nước Ao Giải thuộc Cố đô Hoa Lư, từng là pháp trường thời vua Đinh Tiên Hoàng, nơi Thái hậu Dương Vân Nga xuất gia cuối đời và Thiền sư Nguyễn Minh Không mở mang chùa đá trong động vào thời Lý, lưu giữ văn bia khắc vách núi năm Chính Long Bảo Ứng thứ 4 (1166).
Ảnh: Kien1980v at Vietnamese Wikipedia, Public domain, Wikimedia Commons

Đông Cung trong hệ thống Tứ cung xứ Đoài phụng thờ Tam vị Đức Thánh Tản Viên trên gò đồi hình rùa giữa rừng 245 cây lim cổ thụ hàng trăm năm tuổi, nổi tiếng với kiến trúc đá ong kết hợp gỗ lim và đại lễ rước kiệu vượt sông Hồng sang đền Ngự Dội ba năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Ảnh: Tieu ngao giang ho1970 at Vietnamese Wikipedia, Public domain, Wikimedia Commons
Ngôi đền cổ tên chữ Thiên Quang Linh Từ nhìn thẳng ra ghềnh nước sông Hồng trên đất cổ Ái Mộ - Bồ Đề, nơi giao thoa giữa tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Thoải Phủ, Đức Hoàng thái hậu Ỷ Lan cùng hệ thống Tứ Phủ công đồng và di tích ẩn giấu phụng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân suốt gần hai thế kỷ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Kiệt tác kiến trúc đình làng gỗ lim thế kỷ 17 thời vua Lê Hy Tông bên bờ hữu ngạn sông Hồng phụng thờ Thành hoàng Nhã Lang Vương, nổi tiếng với tòa Đại đình một nếp chữ Nhất bề thế có cột cái đường kính 81 cm, sàn gỗ nhà sàn cổ Việt, nghệ thuật chạm khắc dân gian bong kênh sống động và giải thưởng bảo tồn di sản quốc tế năm 2010.
Ảnh: Duyphuong (thảo luận), CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đình cổ được mệnh danh là Đệ nhất Kinh Bắc dựng năm Bính Tý niên hiệu Sùng Khang thứ 11 (1576) dưới triều vua Mạc Mậu Hợp, phụng thờ Cao Sơn Đại Vương và Phương Dung Tiên Chúa, lưu giữ bức cốn chạm Tiên nữ gảy đàn và bộ tranh sơn mài Bát Tiên cổ xưa bậc nhất Việt Nam.
Ảnh: Tuanhiephh, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Quần thể đền thờ nằm dưới chân núi Róc thuộc dải Pù Rinh bên ngã ba hợp lưu sông Chu và sông Đặt, nhìn ra lòng hồ thủy điện Cửa Đạt. Khởi dựng từ đầu thế kỷ 20 và tôn tạo lên sườn đồi cao giai đoạn 2006 tới 2009, nơi đây phụng thờ Danh nhân văn hóa, Danh tướng Cần Vương Cầm Bá Thước (1858 tới 1895) của đồng bào Thái cùng Bà Chúa Thượng Ngàn trong truyền thống tín ngưỡng miền thượng du xứ Thanh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đền cổ kính bậc nhất của hành cung Vũ Lâm thời Trần giữa thung lũng Tam Cốc, Bích Động thuộc Quần thể danh thắng Tràng An. Dựng trên nền am Thái Vi nơi các vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông tu hành thế kỷ 13, đền nổi tiếng với kết cấu ngoại đá nội gỗ gồm 28 cột đá xanh nguyên khối chạm tứ linh tinh xảo cùng gác chuông gỗ lim treo quả chuông đồng đúc thời Lê Trung Hưng.
Ảnh: Shyamal, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Ngôi quốc từ ngự trên gò Kim Quy bên sông Tiên Hưng, phụng thờ Bát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục (17 tới 43 SCN), vị nữ danh tướng kiệt xuất dưới cờ Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết ngày 17 tháng 3 năm Quý Mão. Quần thể rộng hơn 4.000 mét vuông nổi bật với bố cục Tiền Thần hậu Phật và hệ thống tòa Đại bái, Trung tế, Thượng điện chạm khắc đá xanh nguyên khối bề thế bậc nhất đồng bằng Bắc Bộ.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Cụm di tích tâm linh song đôi bên sườn núi Ngũ Nhạc và núi Phi Bồng thuộc dải Côn Sơn, phụng thờ Đức Thánh Phi Bồng Hiệu Thiên cùng Thánh Mẫu Thạch Bàn. Đền Sinh dựng trùm lên khối đá Thạch Bàn tự nhiên nơi ngài giáng sinh gắn với tục cầu tự lâu đời, còn Đền Hóa cách đó khoảng 800 mét ghi dấu nơi ngài bay hóa về trời và hiển linh hộ quốc qua các triều Tiền Lý, Lý, Trần.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi chùa trong hang đá tự nhiên dưới chân núi Vạn Tác nhìn ra Biển Đông, nơi tương truyền nhà sư Phật Quang (Sư Bần) từ Thiên Trúc theo thuyền buôn ghé vào đất Nê Lê mở đạo tràng truyền bá Phật giáo đầu tiên vào Giao Châu từ thế kỷ 2 trước Công nguyên, lưu giữ pho tượng đá xanh tạc Tổ sư Bần và giếng nước ngọt cổ trong lòng núi.
Ảnh: Kohoihan, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons
Nam Cung trong hệ thống Tứ cung vùng núi Tản sông Đà và là ngôi đền duy nhất ở Việt Nam phụng thờ trọn vẹn cả gia đình Đức Thánh Tản Viên tại chính động Lăng Sương nơi Thánh mẫu Đinh Thị Đen sinh hạ Ngài, lưu giữ phiến đá quỳ in dấu tay chân lúc vượt cạn cùng Giếng Thiên Thanh bốn mùa trong vắt.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Biểu tượng kiến trúc tâm linh thượng gia hạ kiều độc nhất vô nhị của Đô thị cổ Hội An do các thương nhân Nhật Bản khởi dựng đầu thế kỷ 17 bắc qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn, gắn liền với ngôi miếu gỗ thờ Bắc Đế Trấn Võ trấn yểm thủy quái, bức hoành phi Lai Viễn Kiều do chúa Nguyễn Phúc Chu ban năm 1719 và cặp tượng Linh Hầu cùng Linh Khuyển canh giữ hai đầu cầu.
Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Ngôi miếu Quan Đế cổ kính và bề thế bậc nhất thương cảng Hội An do người Việt và thương nhân Minh Hương cùng sáng lập năm Quý Tỵ (1653) dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, nổi tiếng với kiến trúc chữ Khẩu lợp ngói ống thanh lưu ly, bộ tượng Quan Thánh Đế Quân cùng Quan Bình, Châu Xương uy nghiêm và di sản văn bia thơ văn thế kỷ 18 của dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Hội quán cổ kính của cộng đồng người Hoa gốc Triều Châu và Hẹ tại vùng Đề Ngạn - Chợ Lớn, khởi dựng từ cuối thế kỷ 18 và lưu giữ bia đá trùng tu năm Gia Khánh thứ 7 (1802), phụng thờ Quan Thánh Đế Quân, Thiên Hậu Thánh Mẫu cùng Phúc Đức Chính Thần, nổi tiếng với tượng ngựa Xích Thố cao hơn 2 mét, nghệ thuật chạm gỗ lộng thếp vàng Triều Châu và lễ hội Nguyên tiêu.
Ảnh: Gary Todd from Xinzheng, China, CC0, Wikimedia Commons

Hội quán cổ kính của cộng đồng người Hoa gốc tỉnh Phúc Kiến (phủ Chương Châu) tại Chợ Lớn, ghi nhận niên đại trùng tu sớm nhất năm Gia Khánh thứ 14 (1809), phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu cùng Long Mẫu, Kim Hoa Nương Nương, Chú Sinh Nương Nương và Quan Thánh Đế Quân, nổi tiếng với bộ 4 cột đá xanh nguyên khối chạm rồng cuốn mây và Bát tiên quá hải được chở bằng thuyền buôn từ Phúc Kiến sang Gia Định.
Ảnh: Dan Lundberg, CC BY-SA 2.0, Wikimedia Commons

Hội quán cổ kính của thương nhân người Hoa phủ Tuyền Châu (cổ danh Ôn Lăng, tỉnh Phúc Kiến) tại Chợ Lớn, khởi dựng năm Càn Long thứ 5 (1740), phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thế Âm Bồ Tát cùng hàng chục vị thần Đạo giáo và dân gian như Phúc Đức Chính Thần, Bảo Sanh Đại Đế, Thái Tuế Tinh Quân, Hổ Gia và Ông Tơ Bà Nguyệt, nổi tiếng với quần thể gốm Cây Mai trên bờ nóc mái ngói ống.
Ảnh: ndoduc, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Hội quán có quy mô lớn và lộng lẫy bậc nhất phố cổ Hội An, khởi nguồn từ ngôi thảo am Kim Sơn Tự dựng cuối thế kỷ 17 (1697), được thương nhân người Hoa bang Phúc Kiến mua lại năm Càn Long thứ 22 (1757) và đại trùng tu năm 1792 để phụng thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Lục Tánh Vương Gia cùng Thập nhị Bà Mụ, nổi tiếng với cổng Tam quan khảm sành sứ và mô hình thuyền buôn cổ.
Ảnh: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons

Hội quán cổ kính của thương nhân người Hoa hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh (tỉnh Quảng Đông) tại phố cổ Hội An, khởi dựng năm Ất Dậu niên hiệu Quang Tự thứ 11 (1885) từ các cấu kiện đá hoa cương và gỗ chạm chế tác tại Quảng Đông chở thuyền sang lắp dựng, phụng thờ Quan Thánh Đế Quân và Tiền hiền, nổi tiếng với bích họa Tam cố thảo lư và đài phun nước Rồng quấn cột (Cá chép hóa rồng) bằng gốm sứ.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Ngôi miếu cổ nhất thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu của thương nhân người Hoa và ngư dân vùng biển Phan Thiết, khởi dựng năm Ất Tỵ 1725 (niên hiệu Ung Chính thứ 3) bên cửa biển Phố Hài và chợ Dinh xưa, đại trùng tu năm 1774 và phục dựng năm 2003, gắn liền với pho tượng Bà cổ thỉnh từ Phúc Kiến gần 300 năm trước cùng đại lễ Vía Bà ngày 23 tháng 3 âm lịch.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Một trong bốn ngôi Tứ đại cổ tự danh tiếng bậc nhất đất Gia Định và Long An xưa bên dòng sông Cầu Voi (nhánh sông Vàm Cỏ Tây), gắn với dòng Thiền Lâm Tế từ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, nơi mở trường Phật học đầu tiên của miền Nam và lưu giữ nguyên vẹn 299 mộc bản kinh Phật chữ Hán khắc gỗ quý thế kỷ 19.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Quần thể di tích khảo cổ học, sinh thái và tâm linh đặc sắc giữa vùng rốn lũ Đồng Tháp Mười bên dòng sông Vàm Cỏ Tây và sông Long Khốt, nơi Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự, lập năm 1823) tọa lạc trên gò đất cổ có niên đại 3.500 năm cùng tầng văn hóa Óc Eo không bao giờ ngập nước vào mùa lũ, kết nối với Đền thờ Long Khốt tưởng niệm các bậc tiền nhân và anh linh giữ bờ cõi.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi cổ tự khởi lập từ năm Bính Tý (1936) bên đồi chè Biển Hồ dưới chân núi Tiên Sơn, kết hợp dáng mái nhà rông Tây Nguyên cao 47,25 mét với kiến trúc gỗ cổ truyền và lưu giữ pho tượng Chăm Pa bằng đá sa thạch cùng hoành phi câu đối niên hiệu Bảo Đại.
Ảnh: Vinnie Cartabiano, CC BY 2.0, Wikimedia Commons

Quần thể tự viện Phật giáo Bắc tông do Hòa thượng Thích Giác Đạo khai sơn năm Giáp Thìn (1964) trên đồi phố núi Pleiku, nổi bật với chánh điện bố cục đồ hình Mạn-đà-la trần gỗ pơ-mu, tôn tượng Phật Tỳ Lô Giá Na bằng đồng nặng 16 tấn và bảo tháp Xá Lợi 9 tầng cao 70 mét.
Ảnh: Liftold (thảo luận), CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Ngôi đình thần cổ kính bậc nhất miền Tây Nam Bộ bên ngã ba sông Bình Thủy và sông Hậu, khởi dựng năm Giáp Thìn (1844), nhận sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng của vua Tự Đức năm Nhâm Tý (1852) do Khâm sai đại thần Huỳnh Mẫn Đạt tâu xin và đại trùng tu năm 1909 đến 1910 với tên chữ Long Tuyền Cổ Miếu.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Ngôi đình cổ bên bờ sông Đồng Nai phụng thờ Thượng trụ quốc Đô đốc Tướng quân Trần Thượng Xuyên (1626 đến 1720), vị danh tướng có công khai mở thương cảng Cù Lao Phố (Nông Nại Đại Phố) cuối thế kỷ 17, nổi bật với bố cục chữ Tam bằng gỗ quý đá xanh và quần thể tượng gốm Cây Mai tinh xảo trên bờ nóc.
Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Ngôi đình cổ lớn nhất vùng đất Trảng Bàng (Tây Ninh), phụng thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh Tiền hiền Đặng Văn Trước (Ông Cả Trước, người có công chiêu dân lập thôn Phước Lộc - Gia Lộc đầu thế kỷ 19), nhận sắc phong vua Tự Đức năm Nhâm Tý (1852) và đại trùng tu năm 1925 với 60 cột gỗ căm xe chạm trổ tứ linh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Biểu tượng truyền thống khoa bảng lừng lẫy của xứ Kinh Bắc (nơi chiếm gần một phần ba tổng số Tiến sĩ Nho học cả nước), khởi dựng từ thời Lê sơ tại Thị Cầu rồi dời về núi Phúc Sơn năm Thành Thái thứ 5 (1893), lưu giữ Bảo vật quốc gia 12 tấm bia đá Kim bảng lưu phương ghi danh 677 vị Đại khoa quê hương Kinh Bắc từ năm 1075 đến năm 1919.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này

Ngôi đền gỗ lim uy nghiêm tọa lạc ở độ cao 97 mét trên đỉnh núi Dũng Quyết (núi Quyết) bên dòng sông Lam, nơi ngày 01 tháng 10 năm Mậu Thân (1788) Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ gửi chiếu truyền cho La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất hội tụ tứ linh để xây dựng kinh đô Phượng Hoàng Trung Đô.
Ảnh: Sama at vi.wikipedia, Public domain, Wikimedia Commons

Trung tâm hành hương Công giáo lớn bậc nhất vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ của Giáo phận Phan Thiết, tọa lạc trên sườn núi Tà Pao bên dòng sông La Ngà với pho tượng Đức Mẹ bằng xi măng trắng cao 3 m đặt trên bệ vuông cao 2 m khánh thành ngày 8 tháng 12 năm 1959 và phục chế năm 1991.
Ảnh: Baojcn01, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Trung tâm hành hương Công giáo nổi tiếng của Giáo phận Kon Tum nằm giữa rừng thông nguyên sinh cao nguyên Măng Đen ở độ cao 1.200 m, nơi tôn trí pho tượng Đức Mẹ bằng xi măng cao khoảng 1 m dựng từ năm 1971 với hình ảnh đặc trưng đôi bàn tay cụt và gương mặt hiền từ mang nét phụ nữ Tây Nguyên.
Ảnh: Baojcn01, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons

Thánh đường kiến trúc Tân Gô-tích cổ kính của Tổng giáo phận Sài Gòn khởi công năm 1902 và khánh thành năm 1905 theo thiết kế của Linh mục Charles Bouttier từ nguồn hiến tặng một phần bảy gia tài của ông Huyện Sỹ Lê Phát Đạt, nổi bật với mặt tiền ốp đá hoa cương Biên Hòa, tháp chuông cao 57 m treo bốn quả chuông Pháp và khu mộ đá cẩm thạch chạm nổi tượng toàn thân vợ chồng ông bà Huyện Sỹ.
Ảnh: trungydang, CC BY 3.0, Wikimedia Commons

Dấu tích lịch sử của một trong những xứ đạo cổ nhất miền Trung khởi nguồn từ thế kỷ 17 bên cửa sông Nhật Lệ và là nơi nhà thơ Hàn Mặc Tử lãnh nhận bí tích Rửa tội ngày 25 tháng 9 năm 1912, bao gồm tháp chuông cổ xây dựng năm 1886 tái thiết năm 1940 bên bờ sông Nhật Lệ và ngôi thánh đường đá nguyên khối bề thế trên đường Phạm Văn Đồng khánh thành tháng 8 năm 2023.
Ảnh: Linhcandng (thảo luận), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons
Giáo xứ Chính Thống Giáo Đông Phương đầu tiên và lâu đời nhất tại Việt Nam thuộc Giáo hội Chính Thống Nga (Tòa Thượng phụ Moskva), được thành lập ngày 17 tháng 7 năm 2002 tại khu tập thể chuyên gia dầu khí Vietsovpetro ở Vũng Tàu và cung hiến nhà thờ gia cư kính Linh ảnh Đức Mẹ Kazan ngày 27 tháng 2 năm 2024.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Trụ sở hành chính và tâm linh trung ương (Hazíratu'l-Quds) của Cộng đồng Tôn giáo Bahá'í Việt Nam tại Sài Gòn, gắn liền với hành trình truyền đạo của nữ tín đồ tiên phong Shirin Fozdar năm 1954, sự ra đời của Hội đồng Tinh thần Địa phương Sài Gòn năm 1955, Hội đồng Tinh thần Quốc gia năm 1964 và quyết định công nhận tổ chức tôn giáo năm 2008.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Ngôi cổ tự Bắc tông do Tổ sư Trí Hiền (Thầy Năm Phận) khai sơn năm 1905 tại vùng đất An Phú Đông, được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Thành phố năm 2007 và đại trùng tu từ năm 2006 đến năm 2016 dưới sự chủ trì của Thượng tọa Thích Trí Chơn với quần thể Phật đường Tỉnh Thức bằng gỗ và mái ngói Á Đông thanh tịnh.
Cần đóng góp ảnh: Gửi ảnh có giấy phép mở cho nơi này
Chưa có nơi nào khớp với bộ lọc này.
Thư viện này mở và không thu phí, làm tới đâu ghi công khai tới đó. Ba việc quý vị giúp được ngay:
Thư về thayungkhiem@gmail.com
Vì những thứ ấy đổi luôn. Một thư viện sai một lần về chuyện thực tế thì người đọc mất tin cả những phần còn lại. Trước khi đi, xin quý vị hỏi lại chính nơi ấy.
Từ Wikimedia Commons với giấy phép mở, mỗi tấm ghi rõ tên người chụp, hoặc do UK MASTER ACADEMY tự chụp. Không tấm nào được đăng nếu thiếu tên tác giả và tên giấy phép.
Bốn phép thử: đã được xếp hạng di tích, thuộc một đạo mà thư viện có viết, thế đất và hướng đọc được bằng con mắt phong thủy, và có ảnh giấy phép mở để dùng.
Thư viện mở từng nước một, nước nào nhiều người đọc thì đi trước, trong mỗi nước thì nơi nổi bật nhất đi trước. Nước còn mờ chỉ là chưa tới lượt. Quý vị muốn góp một nơi cho nước mình, xin nhắn qua trang Thầy Ưng Khiêm.