Bước lên cầu Ujibashi (宇治橋), quý vị sẽ thấy sông Isuzu (五十鈴川) chảy dưới chân, nước trong tới mức nhìn rõ sỏi đáy, và bên kia cầu là một rừng tuyết tùng cùng bách già che kín trời. Con đường rải sỏi trắng dẫn qua bờ sông, nơi người đi lễ khom xuống rửa tay, rồi lên một bậc đá dài. Trên bậc ấy, sau bốn lớp hàng rào gỗ, là chính điện thờ Amaterasu (天照大御神), vị thần mặt trời và là tổ thần của dòng thiên hoàng. Quý vị chỉ được đứng trước tấm màn trắng ở lớp rào thứ ba, không nhìn thấy điện, và người Nhật cho rằng như thế mới đúng lễ.
Thần cung Ise (伊勢神宮, Ise Jingū) không phải một ngôi đền mà là một hệ 125 thần xã rải quanh thành phố Ise, tỉnh Mie (三重県). Trong Thần Đạo, đây là nơi đứng đầu, đến mức người Nhật gọi gọn là Jingū, nghĩa là Thần cung. Điều khiến nơi này khác mọi nơi thờ tự khác nằm ở một lệ cổ: cứ hai mươi năm, toàn bộ điện thờ được dựng lại bằng gỗ mới trên nền đất kế bên, còn điện cũ được dỡ đi.

IHai Vị Thần Được Thờ
Thần cung chia làm hai khu cách nhau chừng sáu cây số. Nội cung (内宮, Naikū), tên chính thức là Hoàng Đại Thần Cung (皇大神宮), thờ Amaterasu Ōmikami, nữ thần mặt trời. Ngoại cung (外宮, Gekū), tên chính thức là Phong Thụ Đại Thần Cung (豊受大神宮), thờ Toyouke Ōmikami (豊受大御神), vị thần lo lương thực, áo mặc và nhà ở, được coi là người dâng cơm hằng ngày cho Amaterasu. Chữ Hán trong bài là tên chính thức mà thần cung dùng, không phải do thư viện suy ra.
Theo giáo nghĩa Thần Đạo, Amaterasu sinh ra từ mắt trái của thần Izanagi khi ông tẩy uế sau chuyến xuống cõi âm. Bà cai quản Cao Thiên Nguyên, cõi của các thần, và là tổ tiên của dòng thiên hoàng. Nội cung được tin là nơi giữ Yata no Kagami (八咫鏡), tấm gương trong ba thần khí của hoàng thất, được coi là hình thể của chính vị thần. Người đi lễ không thấy gương, không thấy điện, chỉ thấy màn và rào. Trong Thần Đạo, cái không nhìn thấy ấy chính là cách để giữ sự thiêng.
Về thần tích, trang chính thức của thần cung chép rằng đời Thiên hoàng Suinin, vị thứ mười một, công chúa Yamatohime no Mikoto mang gương thần đi tìm nơi thờ Amaterasu qua nhiều vùng, cuối cùng nhận được lời mách bảo rằng thần muốn ở lại Ise mãi mãi. Thần cung ghi việc ấy là khoảng 2000 năm trước. Sách vở phương Tây đổi ra năm 4 trước Công nguyên theo niên biểu truyền thống, nhưng giới nghiên cứu xếp việc lập Nội cung vào khoảng thế kỷ thứ ba và Ngoại cung vào thế kỷ thứ năm. Còn Ngoại cung, theo thần cung, được lập đời Thiên hoàng Yūryaku, vị thứ hai mươi mốt, khoảng 1500 năm trước, khi thần Toyouke được rước từ vùng Tamba về để lo cơm nước cho Amaterasu. World History Encyclopedia ghi cụ thể năm 478. Quý vị nên coi cả hai niên đại ấy là niên đại của thần tích, không phải của khảo cổ.
Chỗ hay hiểu lầm: nhiều người cho rằng Ise là một ngôi đền lớn như chùa lớn hay nhà thờ lớn. Không phải. Điện thờ chính ở Ise là một ngôi nhà gỗ mộc, mái tranh, không sơn, không chạm, kích thước nhỏ, và người thường không được tới gần. Sự lớn của Ise nằm ở rừng, ở số thần xã, ở lễ tiết và ở lệ dựng lại hai mươi năm một lần, không nằm ở khối kiến trúc.
IIMột Nghìn Ba Trăm Năm Dựng Lại
Lịch sử Ise được đo không bằng các lần trùng tu mà bằng các lần Shikinen Sengu (式年遷宮), tức lễ dời thần sang điện mới theo kỳ hạn. Lệ này do Thiên hoàng Tenmu định ra và được thực hiện lần đầu đời Nữ hoàng Jitō, sau đó lặp lại hai mươi năm một lần cho tới nay, chỉ gián đoạn trong thời loạn Chiến Quốc.
Về năm của lần Sengu đầu tiên, nguồn vênh nhau. Trang Green Shinto và Japanese Wiki Corpus ghi Nội cung năm 690, Ngoại cung năm 692. Bài của Witcombe và bản Wikipedia tiếng Anh mà chúng tôi tra được ghi gọn là năm 692 đời Nữ hoàng Jitō. Cách hiểu hợp lý nhất là lần dời của hai cung cách nhau hai năm, nên nguồn nào lấy cung nào làm mốc thì ghi năm ấy. Lần thứ 61 làm năm 1993, lần thứ 62 làm năm 2013, lần thứ 63 đã được ấn định vào năm 2033 theo Hiệp hội du lịch thành phố Ise, công việc chuẩn bị kéo dài chừng tám tới chín năm.
- Thế kỷ 3Lập Nội cungTheo thần tích, công chúa Yamatohime chọn Ise làm nơi thờ Amaterasu đời Thiên hoàng Suinin. Thần cung ghi khoảng 2000 năm trước, giới nghiên cứu xếp vào khoảng thế kỷ thứ ba.
- Thế kỷ 5Lập Ngoại cungThần Toyouke được rước từ Tamba về đời Thiên hoàng Yūryaku, thần cung ghi khoảng 1500 năm trước, một số nguồn ghi năm 478.
- 690Shikinen Sengu lần đầuLệ dựng lại điện hai mươi năm một lần do Thiên hoàng Tenmu định, thực hiện lần đầu đời Nữ hoàng Jitō. Nguồn ghi 690 cho Nội cung và 692 cho Ngoại cung, có nguồn ghi gọn 692.
- Thế kỷ 15 và 16Gián đoạn thời Chiến QuốcChiến loạn làm lệ Sengu bị ngắt quãng hơn một trăm năm, sau đó được nối lại nhờ các nhà quyên góp và chính quyền võ gia.
- Thời EdoHành hương Okage mairiCác đợt đi lễ Ise lan khắp nước, riêng đợt năm 1771 hơn hai triệu người theo National Geographic. Có ước tính cứ mười người Nhật thời ấy có một người từng đi Ise.
- 1923Trồng rừng bách cho tương laiThần cung lập kế hoạch trồng bách hinoki trong rừng thiêng để hai trăm năm sau có gỗ dựng điện, thay cho gỗ phải lấy từ vùng Kiso.
- 2013Sengu lần thứ 62Lễ dời thần Nội cung tối ngày 2 tháng 10, Ngoại cung tối ngày 5 tháng 10. Lần đầu sau chừng bảy trăm năm, rừng thiêng của chính thần cung cung cấp được một phần tư gỗ dựng điện.
- 2033Sengu lần thứ 63Đã được ấn định. Các lễ mở đầu như Yamaguchi-sai, Misoma-hajime-sai và các cuộc kéo gỗ Okihiki diễn ra dần trong những năm trước đó.
IIIKiến Trúc Shinmei-zukuri Và Rừng Thiêng
Chính điện Ise dựng theo lối shinmei-zukuri (神明造), lối cổ nhất của kiến trúc thần xã Nhật Bản, có gốc từ kho thóc thời tiền sử. Riêng cách dựng ở Ise gọi là yuiitsu shinmei-zukuri, nghĩa là lối shinmei duy nhất, các thần xã khác không được sao chép nguyên vẹn. Gỗ là bách hinoki để mộc, không sơn. Mái tranh lợp bằng cỏ lau, hai đầu nóc chĩa lên hai cặp gỗ chéo gọi là chigi, dọc nóc đặt các khúc gỗ tròn nằm ngang gọi là katsuogi. Sàn nâng cao trên cột chôn thẳng xuống đất, không kê đá tảng, và hai cột lớn ở hai đầu hồi đỡ thẳng lấy nóc.
Nằm trong bốn lớp rào gỗ, người đi lễ dừng trước cổng của lớp rào thứ ba. World History Encyclopedia ghi điện cao khoảng 10 mét, sàn nâng chừng 2,4 mét, trên lan can có 33 quả cầu trang trí và trên nóc có 10 katsuogi. Ngoại cung có 31 quả cầu và 9 katsuogi.
Cột tâm, một cây cột ngắn chôn dưới sàn chính điện, không đỡ gì cả và không ai được thấy. Đây là phần thiêng nhất của cả công trình, được che kín trong suốt hai mươi năm nằm trên nền cũ.
Nền đất trống rải sỏi trắng ngay bên cạnh chính điện, là chỗ điện kỳ trước từng đứng và điện kỳ sau sẽ dựng. Trên nền ấy chỉ có một ngôi nhà nhỏ che cột tâm.
Cầu gỗ bắc qua sông Isuzu ở cửa Nội cung, thần cung ghi dài hơn 100 mét, World History Encyclopedia ghi 102 mét, rộng 8,2 mét. Cầu cũng được làm lại theo kỳ Sengu, đánh dấu chỗ bước từ cõi thường sang cõi thiêng.
Hai xã phụ quan trọng trong Nội cung. Xã trước thờ mặt dữ của Amaterasu, kiến trúc giống chính điện nhưng nhỏ hơn. Xã sau thờ hai vị thần gió, những vị lo mưa gió cho mùa lúa.
Khu rừng thượng nguồn sông Isuzu rộng khoảng 5500 hecta theo bài của Pen Online. Thần cung trồng bách từ năm 1923 để tự cấp gỗ cho các kỳ Sengu về sau.
Về vật liệu cho một kỳ Sengu, các nguồn ghi không đồng nhất. Green Shinto ghi 14.000 khúc gỗ và 25.000 bó cỏ lau, hơn 60 công trình được dựng lại, cùng 1576 món đồ thờ và áo thần thuộc 714 loại. Japanese Wiki Corpus ghi hơn 10.000 cây bách và 65 công trình. World History Encyclopedia ghi 12.000 khúc bách, và nói trong 125 công trình có 16 dựng lại mỗi 20 năm, 43 dựng lại mỗi 40 năm. Ba con số về gỗ chênh nhau, chúng tôi ghi cả ba thay vì chọn bừa.
Chỗ hay hiểu lầm: người ta thường nói điện Ise được dựng bằng kỹ thuật không dùng đinh như một điều lạ. Thực ra mộng gỗ không đinh là lối chung của kiến trúc gỗ Đông Á, chùa Việt cũng vậy. Điều thật sự riêng của Ise là cột chôn thẳng xuống đất chứ không kê đá, một lối cổ mà nơi khác đã bỏ từ lâu vì cột mau mục. Ở Ise giữ được lối ấy vì điện chỉ cần đứng hai mươi năm.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, không phải điều được chép trong thần tích hay tài liệu của thần cung. Cần nói thẳng: Thần Đạo không dạy phong thủy theo nghĩa người Việt quen dùng. Nơi đặt thần xã được chọn theo thần tích, theo lời mách bảo của thần và theo cảm nhận về sự thiêng của rừng, núi, sông, nước. Người Nhật có thuật xem nhà đất riêng gọi là kasō (家相), và kinh đô Heian, tức Kyoto, thời xưa được đặt theo tứ tượng với núi ở bắc, sông ở đông, đường lớn ở tây và hồ đầm ở nam. Thư viện không đọc Ise theo kasō, chỉ đọc theo lối cổ truyền của người Việt để quý vị quen lối ấy có chỗ đối chiếu.
Nội cung nằm dưới chân hai ngọn núi Kamiji (神路山) và Shimaji (島路山), có sông Isuzu chảy qua trước mặt. Đọc theo lối Việt thì đây là thế tựa sơn hướng thủy gần như sách vở: núi làm hậu chẩm ở phía sau, sông làm minh đường ở phía trước, rừng già hai bên làm tay long tay hổ ôm lấy điện. Nước sông trong và chảy đều, không xiết không đọng, trong phép xem đất là thứ nước tụ khí mà không phá khí.
Về hướng, chính điện Nội cung quay mặt về phía nam, người đi lễ đứng ở phía nam nhìn lên phía bắc. Hướng nam đón ánh sáng, mà vị thần được thờ chính là thần mặt trời, nên hướng và thần trùng nhau. Trong lối cũ sự trùng ấy gọi là đắc vị. Sông Isuzu chảy về phía bắc, tức nước đi từ trước mặt vòng ra sau, và rừng thiêng ở thượng nguồn phía nam là chỗ nước sinh. Nước sinh từ chỗ thiêng rồi chảy qua chỗ thiêng, đó là điều người Việt xưa cũng chuộng khi chọn đất.
Ngoại cung nằm cách Nội cung chừng sáu cây số về phía tây bắc, dưới chân núi Takakura, giữa phố thị Ise. Hai cung làm thành một cặp: cung thờ thần lương thực đặt ở chỗ gần dân, cung thờ thần mặt trời đặt sâu trong rừng núi. Người Nhật giữ lệ lễ Ngoại cung trước rồi mới vào Nội cung, đi từ chỗ nuôi thân tới chỗ nuôi tâm. Đọc theo bố cục vùng thì đây là một hệ có hai tâm, ngoài giữ trong, không phải hai điểm rời.
Cuối cùng là nền trống kodenchi. Mỗi điện có hai nền kề nhau, cứ hai mươi năm điện đổi sang nền kia. Trong lối xem đất của người Việt không có lệ nào tương tự, nhưng ý của nó thì đọc được: đất được nghỉ, gỗ được thay, khí không bị nhốt trong một công trình già đi. Người Nhật gọi ý ấy là tokowaka (常若), thường trẻ. Đó là chỗ Ise khác hẳn lối Việt Nam quý cái cổ, giữ cái cũ, và cũng là chỗ thư viện xin dừng phép đối chiếu.
VLễ Tiết Theo Mùa Lúa
Trang chính thức ghi thần cung cử hành hơn 1500 nghi lễ mỗi năm và toàn bộ lịch lễ xoay theo vòng trồng lúa. Lễ tính theo dương lịch, vì Nhật Bản đã bỏ âm lịch trong việc nhà nước và việc thần xã từ năm 1873. Quý vị lưu ý các ngày dưới đây là ngày của lễ chính, còn nghi thức tại các xã phụ kéo dài thêm vài ngày sau đó.
| Ngày | Theo lịch nào | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|---|
| Hằng ngày, sáng và chiều | Dương lịch | Higoto asayu omikesai | Dâng cơm hai bữa cho Amaterasu tại Ngoại cung, lệ được giữ từ khi lập Ngoại cung tới nay. |
| 1 tháng 1 | Dương lịch | Saitansai | Lễ đầu năm, cầu cho năm mới yên ổn. |
| 17 tới 23 tháng 2 | Dương lịch | Kinensai | Lễ cầu mùa, xin cho vụ lúa sắp gieo được tốt. |
| 14 tháng 5 và 4 tháng 8 | Dương lịch | Kazahinomisai | Lễ cầu mưa gió thuận cho lúa, cử hành tại Kazahinomi no miya. |
| 14 tháng 5 và 14 tháng 10 | Dương lịch | Kammisosai | Dâng áo mới cho thần, gồm lụa và vải gai do người trong vùng dệt. |
| 15 tới 25 tháng 6 và tháng 12 | Dương lịch | Tsukinamisai | Hai kỳ lễ lớn giữa năm và cuối năm, dâng thức ăn và cầu cho hoàng thất, quốc gia. |
| 15 tới 25 tháng 10 | Dương lịch | Kannamesai | Lễ lớn nhất trong năm, dâng lúa mới đầu mùa gặt lên Amaterasu. Trang chính thức ghi kỳ lễ tới 25, chính lễ tại Ngoại cung rồi Nội cung trong các ngày 15 tới 17. |
| 23 tới 29 tháng 11 | Dương lịch | Niinamesai | Lễ tạ mùa, thiên hoàng nếm lúa mới và dâng lên thần. |
Lễ lớn nhất của cả vòng đời thần cung là Sengyo, đêm dời thần sang điện mới, cử hành vào kỳ Shikinen Sengu. Năm 2013 lễ ấy diễn ra ở Nội cung tối ngày 2 tháng 10 và Ngoại cung tối ngày 5 tháng 10, trong bóng tối, đèn tắt hết, chỉ có ánh đuốc và tiếng nhạc cổ. Trước đó nhiều năm là các lễ chuẩn bị: Yamaguchi-sai xin phép thần núi, Misoma-hajime-sai hạ cây đầu tiên, các cuộc Okihiki kéo gỗ qua phố và qua sông do dân thành phố Ise đảm nhiệm, và lễ rải sỏi trắng lên nền điện mới.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- 1 Ujitachi-cho, Ise, Mie 516-0023 (伊勢市宇治館町1), Nội cung
- Đường tới
- Nội cung nằm ở phía nam thành phố Ise, tỉnh Mie, dưới chân núi Kamiji bên sông Isuzu. Ngoại cung nằm giữa phố, gần ga Iseshi. Từ Nagoya hoặc Osaka có tàu chạy thẳng tới Ise, từ ga đi xe buýt vào Nội cung.
- Toạ độ
- 34.455, 136.725
Lệ của chính thần cung, in trên bản đồ phát cho khách: rửa tay và súc miệng ở bờ sông hoặc bồn nước trước khi vào, đi men hai bên đường sỏi và chừa lối giữa cho thần, khi lễ thì cúi sâu hai lần, vỗ tay hai lần rồi cúi thêm một lần. Cấm chụp ảnh trong khu lễ trước chính điện, cấm ăn uống và hút thuốc ngoài chỗ quy định. Quý vị nên theo lệ đi Ngoại cung trước rồi mới tới Nội cung, người Nhật coi đi ngược thứ tự ấy là thiếu lễ.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thần cung Ise
Contribute photos, information or video for Ise Grand ShrineThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thần cung Ise thờ ai
Nội cung thờ Amaterasu Ōmikami, nữ thần mặt trời và tổ thần của dòng thiên hoàng. Ngoại cung thờ Toyouke Ōmikami, thần lương thực, áo mặc và nhà ở, được coi là người lo cơm nước cho Amaterasu. Ngoài hai cung chính còn 123 thần xã phụ, cả hệ gồm 125 nơi.
Vì sao Ise dựng lại điện hai mươi năm một lần
Lệ Shikinen Sengu do Thiên hoàng Tenmu định và thực hiện lần đầu đời Nữ hoàng Jitō cuối thế kỷ thứ bảy. Điện mới được dựng trên nền kề bên bằng gỗ bách mới, thần được dời sang, điện cũ dỡ đi. Ý là giữ cho nơi thờ luôn mới, gọi là tokowaka, và giữ cho nghề mộc, nghề dệt, nghề rèn truyền được qua đời.
Ise Jingu có phải di sản UNESCO không
Không. Thần cung Ise không nằm trong danh sách Di sản Thế giới và các điện chính cũng không được xếp hạng Quốc bảo, vì công trình được dỡ và dựng lại hai mươi năm một lần nên không đủ tiêu chí về niên đại vật thể. Địa vị của Ise nằm ở chỗ đứng đầu Thần Đạo, không nằm ở danh hiệu di sản.
Đi lễ Ise nên đi Nội cung hay Ngoại cung trước
Lệ xưa là đi Ngoại cung trước, Nội cung sau, theo thứ tự các lễ của chính thần cung luôn cử hành tại Ngoại cung rồi mới tới Nội cung. Hai cung cách nhau chừng sáu cây số, có xe buýt nối. Người Nhật coi việc chỉ đi một cung là đi lễ chưa trọn.
Lễ lớn nhất trong năm ở Ise là lễ nào
Kannamesai vào tháng 10 dương lịch, dâng lúa mới đầu mùa gặt lên Amaterasu, chính lễ trong các ngày 15 tới 17 và kéo dài tại các xã phụ tới ngày 25. Lễ lớn nhất theo chu kỳ dài là Sengyo, đêm dời thần sang điện mới, hai mươi năm mới có một lần, lần tới vào năm 2033.