VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Đông Đại (Tōdai-ji)

Tōdai-ji, Todaiji, Đông Đại tự, chùa Đại Phật Nara

Ngôi quốc tự do Thiên hoàng Shōmu dựng giữa thế kỷ thứ tám, đứng đầu hệ chùa quốc phận cả nước, nơi đặt pho tượng Phật đúc đồng lớn nhất Nhật Bản.

Khai nhãn tượng
752
Thiên hoàng Shōmu, sư Ấn Độ Bodhisena làm lễ
Đại Phật điện
57 m ngang
dựng lại năm 1709, nguyên bản rộng 86 m
Xếp hạng
Di sản Thế giới
UNESCO ghi danh năm 1998 trong quần thể cố đô Nara

Từ công viên Nara đi lên phía bắc, quý vị qua một cổng gỗ hai tầng cao chừng 25 mét, hai bên là hai pho Kim Cương lực sĩ cao hơn 8 mét trừng mắt xuống. Qua cổng, một sân rộng mở ra, và cuối sân là một khối nhà gỗ lợp ngói xám, mái cong vươn lên tới gần 49 mét, lớn tới mức các thứ chung quanh thành nhỏ lại. Đó là Đại Phật điện. Bên trong, giữa bóng tối, một pho tượng Phật ngồi bằng đồng cao gần 15 mét, mặt dài hơn 5 mét, bàn tay xòe ra lớn hơn người đứng.

Chùa Đông Đại (東大寺, Tōdai-ji), nghĩa là ngôi chùa lớn phía đông, nằm ở rìa đông kinh đô Heijō (平城京), tức Nara (奈良) hôm nay. Chùa do Thiên hoàng Shōmu (聖武天皇) dựng giữa thế kỷ thứ tám làm chùa đứng đầu hệ chùa quốc phận khắp nước, và là tổ đình của tông Hoa Nghiêm (華厳宗, Kegon-shū) Nhật Bản. Chữ Hán trong bài là tên chính thức của chùa, không phải do thư viện suy ra.

Chùa Đông Đại (Tōdai-ji)
Chùa Đông Đại (Tōdai-ji). Ảnh: Cun Cun, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐại Phật Tỳ Lô Giá Na Và Tông Hoa Nghiêm

Pho tượng chính của chùa, người Nhật gọi là Daibutsu (大仏), Đại Phật, tạc đức Tỳ Lô Giá Na (毘盧遮那, tiếng Nhật đọc Birushana), vị Phật pháp thân trong kinh Hoa Nghiêm. Tên Tỳ Lô Giá Na nghĩa là ánh sáng chiếu khắp. Khác với tượng Thích Ca ở phần lớn chùa Việt, đây không phải vị Phật lịch sử mà là vị Phật tượng trưng cho toàn thể pháp giới, trong đó mọi vật đều soi vào nhau.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Hoa Nghiêm, vũ trụ là một mạng lưới trong đó mỗi hạt bụi chứa cả pháp giới và cả pháp giới hiện trong mỗi hạt bụi. Tỳ Lô Giá Na ngồi trên đài sen, mỗi cánh sen khắc một thế giới có Phật Thích Ca thuyết pháp, gọi là Liên Hoa Tạng thế giới. Trang chính thức của chùa ghi các cánh sen đài tượng vẫn còn hình khắc ấy từ thế kỷ thứ tám. Thiên hoàng Shōmu dựng pho tượng này với ý rằng cả nước Nhật là một pháp giới, mỗi chùa quốc phận ở mỗi tỉnh là một cánh sen, còn Đông Đại tự ở kinh đô là tâm sen.

Theo sử liệu

Tông Hoa Nghiêm vào Nhật Bản năm 740 khi sư Shinshō người Tân La giảng kinh Hoa Nghiêm tại chùa Kinshōsen, tiền thân của Đông Đại tự, theo mời của sư Rōben (良弁), người được coi là khai sơn của chùa. Sư Gyōki (行基) là người đi khắp nước quyên góp cho việc đúc tượng. Lễ khai nhãn năm 752 do sư Bodhisena (菩提僊那) từ Ấn Độ sang cầm bút điểm mắt, việc ấy được nhiều nguồn coi là bằng chứng Nara thời ấy là một đầu mối của con đường Phật giáo nối Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm: nhiều người gọi tượng này là tượng Phật Thích Ca hoặc tượng Phật A Di Đà. Không phải. Đây là Tỳ Lô Giá Na theo kinh Hoa Nghiêm. Ở chùa Việt, Tỳ Lô Giá Na thường ngồi giữa bộ Tam Thân trên ban Tam Bảo, ít khi là tượng chính. Ở Đông Đại tự vị này là tượng duy nhất giữ trung tâm, hai bên chỉ có hai vị Bồ Tát hầu.

IIDựng, Cháy Và Dựng Lại

Lịch sử chùa là ba lần dựng. Lần đầu thế kỷ thứ tám, lần thứ hai cuối thế kỷ mười hai sau khi bị đốt, lần thứ ba đầu thế kỷ mười tám sau khi bị đốt lần nữa. Pho tượng đồng đứng qua cả ba lần, nhưng không còn nguyên vẹn phần nào ngoài đài sen và một phần thân dưới.

Theo sử liệu

Về năm khởi dựng, các nguồn ghi khác nhau tùy chọn mốc nào. Trang chính thức của chùa ghi năm 728 lập chùa Kinshōsen để cầu siêu cho hoàng tử Motoi mất sớm, năm 741 Thiên hoàng ra chiếu lập chùa quốc phận ở mỗi tỉnh, năm 743 ra chiếu đúc Đại Phật, tượng đúc xong năm 749 và khai nhãn năm 752. Nippon.com và JNTO ghi gọn là chùa lập khoảng năm 752. Chúng tôi ghi đủ chuỗi mốc ấy thay vì chọn một năm.

Về pho tượng, chiều cao cũng vênh nhau. Wikipedia tiếng Anh ghi 14,98 mét, Japan Atlas của Bộ Ngoại giao Nhật ghi 14,85 mét, Nippon.com ghi khoảng 15 mét. Bài chuyên về tượng Phật của Butuzou giải thích chênh lệch do đo tới đỉnh đầu hay tới đỉnh nhục kế, và có tính đài sen hay không. Về cân nặng, Wikipedia ghi khoảng 500 tấn, Butuzou ghi trong khoảng 200 tới 300 tấn riêng phần tượng. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn.

  • 728Lập chùa Kinshōsen
    Thiên hoàng Shōmu lập chùa nhỏ ở sườn đông kinh đô để cầu siêu cho hoàng tử Motoi. Đây là hạt nhân của Đông Đại tự về sau.
  • 741Chiếu lập chùa quốc phận
    Mỗi tỉnh dựng một chùa tăng và một chùa ni. Chùa ở kinh đô được nâng thành chùa đứng đầu cả hệ và mang tên Đông Đại tự.
  • 743Chiếu đúc Đại Phật
    Thiên hoàng ra chiếu đúc tượng Tỳ Lô Giá Na, kêu gọi cả nước góp sức dù chỉ một nắm đất hay một cọng cỏ.
  • 752Lễ khai nhãn
    Tượng đúc xong năm 749, lễ điểm mắt cử hành năm 752 do sư Bodhisena người Ấn Độ chủ trì, có mặt Thái thượng hoàng Shōmu và Nữ hoàng Kōken.
  • 1180Cháy lần thứ nhất
    Quân Taira no Shigehira đốt các chùa Nara, hơn nửa chùa gồm cả Đại Phật điện bị thiêu, đầu tượng rơi.
  • 1195Dựng lại lần thứ hai
    Sư Chōgen đi quyên góp khắp nước, sửa tượng xong năm 1185 và dựng lại điện theo lối kiến trúc học từ nhà Tống. Cổng Nam Đại Môn dựng năm 1199.
  • 1567Cháy lần thứ hai
    Chiến loạn giữa các thế lực võ gia lại thiêu Đại Phật điện. Còn lại Nhị Nguyệt đường, Pháp Hoa đường, Nam Đại Môn, cổng Tegai, Chính Thương viện và gác chuông.
  • 1709Dựng lại lần thứ ba
    Sư Kōkei quyên góp từ năm 1684. Tượng được sửa đầu và làm lễ năm 1692, Đại Phật điện hiện nay làm lễ khánh thành năm 1709, thu hẹp từ 11 gian còn 7 gian vì thiếu kinh phí.
  • 1998Di sản Thế giới
    UNESCO ghi danh trong quần thể Di tích lịch sử cố đô Nara. Đại Phật điện được tu bổ lớn các năm 1904 tới 1913 và 1974 tới 1980.

IIIĐại Phật Điện Và Các Công Trình

Trục chính của chùa chạy từ nam lên bắc: Nam Đại Môn (南大門), rồi Trung Môn (中門), rồi sân, rồi Đại Phật điện (大仏殿). Trang chính thức ghi kích thước điện hiện nay là ngang 57,012 mét, sâu 50,480 mét, cao 48,742 mét. Điện nguyên bản thế kỷ thứ tám rộng 11 gian, Smarthistory ghi khoảng 86 mét ngang và 50 mét sâu, dựng trên 84 cột bách lớn. Điện hiện nay chỉ còn 7 gian, tức hẹp hơn nguyên bản khoảng ba phần mười, nhưng vẫn giữ danh hiệu công trình gỗ lớn nhất thế giới tới năm 1998.

Đại Phật điện

Dựng lại năm 1709, Quốc bảo. Bên trong đặt tượng Tỳ Lô Giá Na, hai bên là Như Ý Luân Quan Âm và Hư Không Tạng Bồ Tát, phía sau có mô hình các lần điện cũ. Trước điện là cây đèn lồng đồng bát giác, Quốc bảo từ thế kỷ thứ tám.

Nam Đại Môn

Cổng hai tầng dựng năm 1199 theo lối Daibutsuyō, Quốc bảo. Nippon.com ghi cao khoảng 25 mét. Hai pho Kim Cương lực sĩ bằng gỗ do Unkei và Kaikei cùng thợ hoàn thành năm 1203 trong 69 ngày, cao hơn 8 mét.

Pháp Hoa đường

Còn gọi Tam Nguyệt đường (三月堂), công trình cổ nhất còn lại của chùa, có từ thời Nara, giữ nhiều tượng khô lậu và tượng đất thế kỷ thứ tám.

Nhị Nguyệt đường

Điện thờ Quan Âm Mười Một Mặt dựng trên sườn đồi phía đông, nơi cử hành lễ Shuni-e từ năm 752 tới nay. Điện hiện nay dựng lại sau vụ cháy năm 1667.

Chính Thương viện

Kho báu bằng gỗ kiểu azekura, cất giữ đồ dùng của Thiên hoàng Shōmu do Hoàng hậu Kōmyō hiến năm 756, gồm nhiều hiện vật từ Ba Tư và Trung Á theo con đường tơ lụa. Hiện do Cục Nội chính hoàng gia quản lý.

Giới Đàn viện

Nơi sư Giám Chân (鑑真, Ganjin) từ Trung Hoa sang lập giới đàn năm 754, truyền giới cho Thiên hoàng và tăng ni Nhật Bản.

Lối dựng lần thứ hai do sư Chōgen đem về từ Trung Hoa được gọi là Daibutsuyō (大仏様), lối Đại Phật, trước kia gọi nhầm là lối Thiên Trúc. Đặc điểm là các tay đòn sashihijiki cắm thẳng vào thân cột thay vì đặt trên đấu, và các xà nuki xuyên qua cột, làm khung chịu động đất tốt hơn. Nam Đại Môn là ví dụ còn nguyên vẹn nhất của lối này, mỗi cột có sáu tầng tay đòn chồng lên nhau.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm: người ta thường nghĩ pho tượng là nguyên bản thế kỷ thứ tám. Theo Japan Atlas và trang chính thức, phần nguyên bản chủ yếu là đài sen và một phần thân dưới, phần trên gồm đầu và thân được đúc lại cuối thế kỷ mười hai, hai bàn tay làm lại trong khoảng 1568 tới 1615, đầu hiện nay đúc lại thời Edo và làm lễ năm 1692. Cũng vì thế mà tỷ lệ đầu so với thân hơi khác tượng thời Nara.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, không phải điều được chép trong sử chùa hay hồ sơ di sản. Chúng tôi đọc chùa Đông Đại như đọc các chùa Việt trong thư viện, để quý vị có chỗ đối chiếu, và ghi rõ đây là kiến giải chứ không phải tư liệu.

Thế đất và hướng

Kinh đô Heijō được đặt năm 710 theo mẫu Trường An, giữa lòng chảo Nara có núi vây bốn phía. Chùa Đông Đại nằm ở góc đông bắc của kinh đô, dưới chân dãy đồi Kasuga (春日山) và núi Wakakusa (若草山) ở phía đông. Đọc theo lối Việt thì đây là thế tựa sơn rõ ràng: đồi núi làm hậu chẩm phía sau lưng và bên tay trái, đất thoải dần về phía tây nam ra đồng bằng. Nước có sông Saho chảy ở phía tây, không lớn, nhưng cả lòng chảo Nara là một minh đường rộng và bằng, kiểu đất mà người xưa gọi là tàng phong tụ khí, gió không lùa thẳng mà khí không thoát mất.

Về hướng, cả trục chùa từ Nam Đại Môn tới Đại Phật điện đều quay về phía nam, pho tượng ngồi nhìn về nam. Đây là hướng chuẩn của cung điện và chùa lớn Đông Á, cùng hướng với chùa Bắc Bộ Việt Nam, đón nắng và tránh gió bấc. Trước Đại Phật điện là sân rộng và Trung Môn, rồi tới Nam Đại Môn, ba lớp mở dần ra làm cho khí đi vào theo từng chặng chứ không xộc thẳng. Ở chùa Việt, vai trò ấy là của tam quan và sân trước, ở đây được nhân lên đúng theo kích thước của điện.

Xét theo ngũ hành, chùa ở phương Đông của kinh đô, mà Đông thuộc Mộc, sắc xanh, mùa xuân, ứng với sự sinh. Tên chùa mang chữ Đông. Pho tượng bằng đồng thuộc Kim, đặt trong một điện gỗ lớn thuộc Mộc, trên nền đất thuộc Thổ. Theo lối cũ, Kim nằm trong Mộc là thế bị khắc, nhưng có Thổ dày làm nền thì Thổ sinh Kim, Kim được nuôi. Điều ấy trùng với việc pho tượng đứng qua hai lần điện cháy: điện gỗ mất mà tượng đồng còn. Chúng tôi ghi sự trùng ấy như một cách đọc, không phải như một giải thích.

Cuối cùng là vai trò trong hệ. Thiên hoàng Shōmu đặt mỗi tỉnh một chùa quốc phận và đặt Đông Đại tự làm tổng bản sơn ở kinh đô. Đọc theo bố cục vùng thì cả nước Nhật thời ấy được xếp thành một hệ có tâm và có vệ tinh, giống cách chùa Dâu đứng giữa hệ Tứ Pháp ở vùng Luy Lâu, chỉ khác về quy mô. Sát bên chùa còn có thần xã Tamukeyama Hachiman, thờ vị thần được rước từ Kyushu về năm 749 để hộ trì việc đúc tượng, một dấu của lối thần Phật cùng thờ kéo dài tới năm 1868.

VLễ Shuni-e Và Các Lễ Trong Năm

Lễ lớn nhất của chùa là Shuni-e (修二会), lễ sám hối tháng hai theo lịch cũ, nay cử hành đầu tháng ba dương lịch tại Nhị Nguyệt đường. Trang chính thức ghi lễ do sư Jitchū, đệ tử lớn của Rōben, khởi xướng năm 752 và chưa từng gián đoạn, tới nay hơn 1250 năm, kể cả những năm chùa cháy. Mười một vị sư gọi là Rengyōshū thay mặt mọi người sám hối trước Quan Âm Mười Một Mặt, sáu thời mỗi ngày trong hai tuần.

Các lễ chính trong năm theo trang chính thức của chùa và Hiệp hội du lịch Nara. Ngày Shuni-e ở trang tiếng Anh của chùa ghi theo lịch tu là 28 tháng 2 tới 13 tháng 3, phần lễ công khai từ 1 tới 14 tháng 3. Nguồn: todaiji.or.jp, mục Annual events, và narashikanko.or.jp..
NgàyTheo lịch nàoLễNội dung
1 tới 14 tháng 3Dương lịchShuni-eHai tuần sám hối tại Nhị Nguyệt đường. Mỗi tối các bó đuốc thông lớn gọi là otaimatsu được rước lên hành lang điện, tàn lửa rơi xuống được coi là điềm lành.
Đêm 12 rạng 13 tháng 3Dương lịchOmizutoriLễ lấy nước từ giếng Wakasa dưới chân điện, theo truyền thuyết do thần vùng Wakasa hứa dâng vì tới lễ muộn. Nước được dâng lên Quan Âm.
8 tháng 4Dương lịchPhật sinh hộiLễ Phật đản, tắm tượng Phật sơ sinh trước Đại Phật điện.
2 tháng 5Dương lịchShōmu tếLễ giỗ Thiên hoàng Shōmu, người khai sáng chùa, có đám rước qua Đại Phật điện.
7 tháng 8Dương lịchLau tượng Đại PhậtTăng chúng và người giúp việc lau bụi pho tượng đồng một lần trong năm.
15 tháng 8Dương lịchVạn đăng cúng dườngThắp đèn lồng quanh Đại Phật điện trong đêm Vu Lan Obon, cửa sổ trên mái mở cho thấy mặt tượng.
31 tháng 12Dương lịchTrừ dạ chungGióng chuông lớn 108 tiếng đêm giao thừa, chuông đúc thế kỷ thứ tám.

Lễ tại Đông Đại tự tính theo dương lịch từ khi Nhật Bản đổi lịch năm 1873, nên lễ Phật đản rơi vào ngày 8 tháng 4 dương lịch, khác với chùa Việt làm vào rằm tháng tư âm lịch. Đêm Vu Lan cũng theo ngày 15 tháng 8 dương lịch. Quý vị người Việt tới Nara vào rằm tháng bảy âm lịch sẽ không gặp lễ Obon ở đây.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
406-1 Zoshi-cho, Nara, Nara 630-8587 (奈良市雑司町406-1)
Đường tới
Chùa nằm ở phía bắc công viên Nara, thành phố Nara, tỉnh Nara. Từ ga Kintetsu Nara đi bộ chừng hai mươi phút qua công viên, hoặc đi xe buýt vòng công viên tới bến Đại Phật điện.
Toạ độ
34.689, 135.8398
Khi tới nơi

Lệ của chính chùa: bỏ mũ khi vào Đại Phật điện, đi theo chiều đã kẻ quanh tượng, không chạm vào tượng và đèn lồng đồng, không hút thuốc trong toàn khuôn viên và không bay thiết bị chụp ảnh trên không. Hươu trong công viên là hươu thiêng của thần xã Kasuga, quý vị không trêu chọc và không cho ăn thứ khác ngoài bánh bán riêng cho hươu. Mùa Shuni-e, hành lang Nhị Nguyệt đường có rào chắn, xin đứng đúng chỗ người của chùa chỉ.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Đông Đại (Tōdai-ji)

Contribute photos, information or video for Todai-ji

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Đông Đại thờ vị Phật nào

Thờ đức Tỳ Lô Giá Na, vị Phật pháp thân trong kinh Hoa Nghiêm, người Nhật gọi là Birushana hay gọn là Daibutsu. Đây không phải Phật Thích Ca lịch sử mà là vị Phật tượng trưng cho toàn thể pháp giới. Chùa là tổ đình của tông Hoa Nghiêm Nhật Bản.

Tượng Đại Phật Nara cao bao nhiêu

Các nguồn ghi khác nhau: Wikipedia ghi 14,98 mét, Japan Atlas ghi 14,85 mét, Nippon.com ghi khoảng 15 mét, chênh lệch do đo tới đỉnh đầu hay đỉnh nhục kế. Cân nặng cũng vênh, từ khoảng 200 tới 300 tấn cho tới khoảng 500 tấn tùy có tính đài sen hay không. Đài sen là phần nguyên bản thế kỷ thứ tám.

Đại Phật điện có phải công trình gỗ lớn nhất thế giới không

Từng là như vậy cho tới năm 1998. Điện hiện nay dựng lại năm 1709, ngang 57 mét, sâu 50 mét, cao gần 49 mét, chỉ còn 7 gian so với 11 gian của điện nguyên bản rộng khoảng 86 mét thế kỷ thứ tám. Điện là Quốc bảo và nằm trong Di sản Thế giới cố đô Nara ghi danh năm 1998.

Chùa Todaiji đã cháy mấy lần

Hai lần lớn. Năm 1180 trong chiến loạn Genpei, hơn nửa chùa gồm Đại Phật điện bị thiêu, sư Chōgen dựng lại xong khoảng năm 1195. Năm 1567 điện lại cháy trong chiến loạn giữa các võ gia, sư Kōkei quyên góp và dựng lại, tượng làm lễ năm 1692, điện khánh thành năm 1709. Pho tượng đồng đứng qua cả hai lần.

Lễ Omizutori ở Todaiji là lễ gì và diễn ra khi nào

Là đêm lấy nước thiêng trong lễ Shuni-e, cử hành tại Nhị Nguyệt đường đêm 12 rạng 13 tháng 3 dương lịch. Cả lễ Shuni-e kéo dài từ 1 tới 14 tháng 3, mỗi tối có rước đuốc thông lớn lên hành lang điện. Lễ do sư Jitchū khởi xướng năm 752 và chưa từng gián đoạn hơn 1250 năm.

Đọc Tiếp