IĐọc Nhanh Trong Năm Câu
Có một chỗ trượt xảy ra ngay ở câu hỏi đầu tiên, và nếu không gỡ trước thì cả trang này sẽ bị đọc sai. Người Việt quen hỏi Tin Lành do ai đứng đầu, quen hỏi trụ sở Tin Lành ở đâu, vì đã quen với hình dung về một giáo hội có phẩm trật rõ ràng. Nhưng Tin Lành không được dựng theo lối ấy. Đây không phải một tổ chức, mà là tên gọi chung cho một phổ rất rộng các hội thánh cùng đi ra từ cuộc Cải Cách ở châu Âu thế kỷ mười sáu, mỗi khối tự quản lấy mình, tự đặt luật lệ, tự bầu người lãnh đạo, và không khối nào có quyền trên khối nào.
Nói cho dễ hình dung: Công Giáo là một cây có một gốc một thân, còn Tin Lành là một rừng cây cùng mọc lên từ một vạt đất, chia nhau một bộ điều tin cốt lõi và một quyển Kinh Thánh, nhưng khác nhau về nghi thức và cách tổ chức.
Điều thứ nhất. Tin Lành là một trong ba khối lớn của Kitô Giáo, cùng với Công Giáo và Chính Thống Giáo, tuyên xưng một Thiên Chúa Ba Ngôi và tin Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người. Điều thứ hai. Khối này đi ra từ cuộc Cải Cách khởi phát ngày 31 tháng 10 năm 1517 tại Wittenberg, khi tu sĩ kiêm giáo sư thần học Martin Luther công bố chín mươi lăm luận đề. Điều thứ ba. Cái riêng của Tin Lành gói trong năm chữ sola, nghĩa là năm chữ chỉ duy, cùng với chức tư tế phổ quát của mọi tín hữu, tức không có một hàng người trung gian cần thiết giữa con người và Thiên Chúa. Điều thứ tư. Phần lớn các nhánh giữ hai bí tích là báp têm và tiệc thánh, khác con số bảy của Công Giáo, và nhà thờ của họ lấy bục giảng làm trọng tâm chứ không lấy bàn thờ. Điều thứ năm. Tại Việt Nam, đạo này có mặt từ năm 1911 ở Đà Nẵng, nay có hơn một triệu hai trăm nghìn tín đồ thuộc mười một tổ chức được công nhận.
Trang này đi theo mười lăm mục. Lối viết của thư viện là thuật lại chứ không phân xử. Điều các hội thánh Tin Lành dạy ghi bằng một giọng, điều sử học khảo được ghi bằng một giọng khác, để cạnh nhau cho quý vị tự đối chiếu. Riêng chuyện ly khai thế kỷ mười sáu, thư viện ghi sự kiện và lập luận của từng bên, không gán động cơ cho ai. Chỗ nào hai nguồn ghi khác nhau thì cả hai được viết thẳng vào bài kèm tên nguồn.
IIChâu Âu Trước Năm 1517
Một biến cố lớn hiếm khi nổ ra từ chỗ trống. Trước khi Luther viết luận đề thứ nhất, châu Âu đã có sẵn mấy điều kiện mà thiếu bất cứ điều nào trong đó thì câu chuyện có lẽ đã kết thúc trong một phòng họp nhà trường.
Johannes Gutenberg đưa máy in chữ rời vào dùng ở Mainz quãng giữa thế kỷ mười lăm. Trước đó một bản văn muốn lan đi phải có người chép tay. Sau đó, một tờ in nhân ra hàng nghìn bản trong vài ngày.
Giới học giả Phục Hưng đặt nguyên tắc quay về bản gốc thay vì đọc qua các lớp chú giải đời sau. Năm 1516, Erasmus xứ Rotterdam cho in bản Tân Ước tiếng Hy Lạp có đối chiếu, một công cụ mà thế hệ trước không có.
John Wycliffe ở Anh, mất năm 1384, chủ trương đưa Kinh Thánh ra tiếng Anh. Jan Hus ở Bohemia bị thiêu năm 1415 sau Công đồng Constance. Hai người thường được kể là đi trước Luther cả trăm năm.
Ân xá trong giáo lý Công Giáo là việc tha hình phạt tạm cho tội đã được tha. Đầu thế kỷ mười sáu, việc rao ân xá gắn với các đợt quyên góp, trong đó có đợt cho công trình đền thờ thánh Phêrô ở Rôma, và cách rao ở một số vùng nước Đức là thứ Luther nhắm vào.
Đế quốc La Mã Thần thánh là hàng trăm lãnh địa với các tuyển hầu có quyền lực thật. Một tu sĩ bị đế quốc kết án vẫn có thể được một vị tuyển hầu che chở, và đó là điều đã xảy ra.
Việc kê ra các điều kiện trên không phải để nói rằng Giáo hội thời ấy hư hỏng nên tất phải vỡ. Chính Công Giáo cũng có phong trào chấn chỉnh từ bên trong trước và sau năm 1517, và cuộc canh tân lớn của khối ấy là Công đồng Trentô họp ba đợt từ năm 1545 tới 1563. Thư viện chỉ ghi rằng cùng thời đoạn ấy, châu Âu Tây phương đi theo hai đường.
IIIMartin Luther Và Ngày 31 Tháng 10 Năm 1517
Martin Luther sinh ngày 10 tháng 11 năm 1483 tại Eisleben, mất ngày 18 tháng 2 năm 1546 cũng tại Eisleben. Ông vào dòng Augustinô, thụ phong linh mục, lấy bằng tiến sĩ thần học và dạy Kinh Thánh tại đại học Wittenberg. Nghĩa là người khởi ra cuộc Cải Cách không phải người ngoài đạo, mà là một tu sĩ và một giáo sư của chính Giáo hội ấy.
Điều Luther nói ông đã tìm thấy khi đọc thư gửi tín hữu Rôma chương 1 câu 17 là điểm khởi của mọi thứ về sau. Theo cách ông trình bày, con người không thể tự làm cho mình ra công chính trước mặt Thiên Chúa bằng công trạng hay bằng nghi thức. Sự công chính ấy là điều Thiên Chúa ban cho và con người nhận lấy bằng đức tin. Từ chỗ ấy mà ra cả năm chữ sola và cả chủ trương chức tư tế phổ quát.
Chín mươi lăm luận đề mang tên Disputatio pro declaratione virtutis indulgentiarum, tức đề cương tranh luận về hiệu lực của ân xá, viết bằng tiếng Latinh theo đúng thể thức một đề cương tranh luận nhà trường. Phần lớn các luận đề bàn chuyện ân xá có hiệu lực tới đâu, người rao ân xá nói quá điều gì, và tiền quyên được dùng ra sao. Luận đề mở đầu nói rằng cả đời người tín hữu phải là một cuộc ăn năn.
Phía cho rằng chuyện đóng đinh không xảy ra. Năm 1961, nhà sử học Giáo hội người Công Giáo Erwin Iserloh lập luận rằng việc đóng luận đề lên cửa chưa bao giờ diễn ra, rằng Luther chỉ gửi bản luận đề như một thư ngỏ tới các bề trên để xin tranh luận, và chỉ công bố rộng về sau khi không thấy hồi đáp. Nhà nghiên cứu Andrew Pettegree cho rằng hình ảnh quen thuộc ấy rất khó xảy ra đúng như tranh vẽ, và nếu có thì theo thông lệ nhà trường bấy giờ là dán chứ không phải đóng đinh. Peter Marshall cho rằng có cơ sở để nói bản luận đề chưa từng được niêm yết, và câu chuyện thành hình quanh dịp kỷ niệm một trăm năm năm 1617. Cả ba nêu một điểm chung: chính Luther không bao giờ kể lại chuyện ấy.
Phía cho rằng có niêm yết. Năm 1546, Philipp Melanchthon viết trong lời tựa bộ trước tác của Luther rằng Luther đã công khai niêm yết các luận đề tại nhà thờ bên cạnh lâu đài vào áp lễ Các Thánh năm 1517, nhưng Melanchthon chỉ tới Wittenberg năm 1518 nên không có mặt. Năm 2006, ông Martin Treu tìm thấy tại Thư viện Đại học Jena một ghi chú viết năm 1540 của Georg Rörer, người phụ tá của Luther, nói rằng Luther đã niêm yết luận đề trên các cửa nhà thờ ở Wittenberg. Đây được coi là chứng cứ sớm nhất, nhưng Rörer cũng không phải người chứng kiến.
Điều không bên nào bác: ngày 31 tháng 10 năm 1517 Luther đã gửi bản luận đề kèm thư tới hàng giáo phẩm của mình, và chỉ trong vài tuần bản văn ấy đã được in lại và lan khắp nước Đức.
Tháng 4 năm 1521, Luther bị triệu tới nghị hội đế quốc ở Worms và được yêu cầu rút lại các trước tác. Ông từ chối, với câu mà các bản ghi đều có: lương tâm ông bị ràng buộc bởi Lời Thiên Chúa, nên ông không thể và sẽ không rút lại. Câu nổi tiếng hơn, Hier stehe ich, ich kann nicht anders, tức tôi đứng đây, tôi không thể làm khác, lại là một chỗ tranh luận nữa, vì có bản ghi chép đương thời có câu ấy, có bản không. Sau Worms, Luther bị đặt ngoài vòng luật pháp đế quốc, được tuyển hầu xứ Sachsen đưa về giấu tại lâu đài Wartburg, và ở đó ông dịch Tân Ước sang tiếng Đức trong khoảng mười một tuần.
Một, ông không đặt tên cho đạo mình. Chữ Lutheran lúc đầu là chữ người khác dùng để gọi phe ông, và chính ông từng nói tín hữu nên gọi mình là Kitô hữu chứ đừng mang tên một con người. Hai, năm 1517 ông không có ý lập một giáo hội mới, cuộc ly khai thành hình dần qua hơn một thập niên sau đó. Ba, các hội thánh Tin Lành không thờ Luther, không có bàn thờ Luther, không có tượng Luther để cầu khấn, không có lời kinh nào dâng lên ông.
IVDòng Thời Gian Năm Trăm Năm
Ba loại biến cố trở đi trở lại trong năm trăm năm ấy. Một là các bản tuyên tín, tức văn bản một khối hội thánh viết ra để nói rõ mình tin gì. Hai là các bản dịch Kinh Thánh ra tiếng dân tộc. Ba là các lần sinh nhánh. Vài mốc dưới đây là mốc quy ước, tức người sau chọn lấy một ngày để làm dấu cho cả một quá trình dài.
- giữa thế kỷ 15Máy in chữ rời tại MainzGutenberg đưa kỹ thuật in chữ rời vào dùng. Điều kiện vật chất khiến một đề cương tranh luận nhà trường thành biến cố toàn châu Âu trong vài tuần.
- 31 tháng 10 năm 1517Chín mươi lăm luận đềMartin Luther công bố đề cương tranh luận về ân xá tại Wittenberg. Ngày này về sau thành Ngày Cải Chánh, ngày lễ của phần lớn các hội thánh Tin Lành.
- 1519Zwingli giảng tại ZurichHuldrych Zwingli nhận chức giảng tại nhà thờ Grossmünster và giảng tuần tự từng sách Kinh Thánh. Khởi của nhánh Cải Cách Thụy Sĩ, độc lập với Luther.
- 1521Nghị hội WormsLuther từ chối rút lại trước tác, bị dứt phép thông công và bị đặt ngoài vòng luật pháp đế quốc, rồi được đưa về ẩn tại lâu đài Wartburg.
- 1522Tân Ước tiếng ĐứcBản dịch Tân Ước của Luther ra mắt tháng 9 và bán hết rất nhanh. Trọn bộ Kinh Thánh tiếng Đức của ông in năm 1534.
- 21 tháng 1 năm 1525Báp têm đầu tiên cho người trưởng thànhTại Zurich, một nhóm nhỏ làm báp têm cho nhau theo lời tuyên xưng đức tin cá nhân, Conrad Grebel làm báp têm cho George Blaurock. Mốc khai sinh phong trào Anabaptist.
- 1530Bản Tuyên tín AugsburgVăn bản do Melanchthon soạn, trình lên nghị hội đế quốc tại Augsburg, tới nay vẫn là bản tuyên tín nền của các hội thánh Luther.
- 1536Bộ Định chế của CalvinJean Calvin cho in Institutio Christianae Religionis, bộ sách hệ thống hóa thần học Cải Cách, rồi gắn đời mình với thành Genève.
- 1534Đạo luật Tối thượng quyền tại AnhNghị viện Anh đặt nhà vua làm người đứng đầu tối cao của Giáo hội tại Anh. Khởi điểm pháp lý của Anh giáo, một con đường khác hẳn con đường của Luther hay Calvin.
- 1609Hội thánh Baptist đầu tiênJohn Smyth lập một hội chúng tại Amsterdam theo chủ trương chỉ làm báp têm cho người tự tuyên xưng đức tin. Ba năm sau Thomas Helwys đưa nhánh này về London.
- 1738Khởi của phong trào Giám LýJohn Wesley thuật lại một kinh nghiệm thay đổi lòng tin ngày 24 tháng 5 tại phố Aldersgate, London. Phong trào thành hội thánh riêng sau khi ông mất năm 1791.
- 1906Cuộc phục hưng phố AzusaTừ một nhà nguyện ở Los Angeles, phong trào Ngũ Tuần lan ra thế giới, nhánh tăng nhanh nhất thế kỷ hai mươi.
- 1911Tin Lành tới Đà NẵngCác giáo sĩ của Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp lập cơ sở đầu tiên tại Tourane, nay là Đà Nẵng.
VGiáo Nghĩa Cốt Lõi
Vì Tin Lành là số nhiều nên không có một cuốn giáo lý chung cho cả khối. Mỗi truyền thống có bản tuyên tín riêng: các hội thánh Luther có Bản Tuyên tín Augsburg năm 1530, các hội thánh Cải Cách có Giáo lý vấn đáp Heidelberg năm 1563 và Bản Tuyên tín Westminster năm 1646, Giáo hội Anh có Ba mươi chín Tín điều. Tuy vậy có một lõi chung mà gần như mọi nhánh đều nhận.
Trước hết là phần chung với cả Kitô Giáo
Phần lớn những gì người Tin Lành tin thì người Công Giáo và người Chính Thống cũng tin, và điều này hay bị bỏ qua. Các hội thánh Tin Lành chính dòng nhận Kinh Tin Kính Nicea hình thành từ hai công đồng năm 325 và 381, tuyên xưng một Thiên Chúa trong Ba Ngôi là Cha, Con và Thánh Linh, tin Chúa Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, tin Ngài chịu đóng đinh, sống lại ngày thứ ba và sẽ trở lại. Chỗ Tin Lành khác Công Giáo nằm ở thẩm quyền, ở cách con người được cứu và ở cách hội thánh được tổ chức.
Năm chữ sola
Sola trong tiếng Latinh nghĩa là chỉ một mình, duy. Cần một ghi chú về xuất xứ: các nhà Cải Cách thế kỷ mười sáu dùng từng chữ riêng lẻ, còn việc gom đúng năm chữ ấy thành một bộ có tên là cách tóm tắt của người đời sau. Nội dung thì cổ, còn cái khuôn năm chữ thì mới.
Kinh Thánh là chuẩn tối hậu cho điều phải tin và điều phải sống. Truyền thống, công đồng và lời giảng của hội thánh đều đặt dưới chuẩn ấy. Đây là chỗ khác căn bản với Công Giáo, vốn nhận hai nguồn là Kinh Thánh và Thánh Truyền.
Con người được kể là công chính trước mặt Thiên Chúa nhờ đức tin, không nhờ công trạng. Việc lành là hoa trái của đức tin chứ không phải giá phải trả để mua ơn cứu độ. Phía Công Giáo trình bày khác: ơn cứu độ đến do ân sủng, và ân sủng ấy đòi con người đáp lại bằng cả đức tin lẫn đời sống. Thư viện ghi lập trường hai bên như chính họ phát biểu.
Việc được cứu hoàn toàn là quà tặng đi ra từ lòng nhân của Thiên Chúa. Chữ ân điển bên Tin Lành tương ứng với chữ ân sủng bên Công Giáo.
Chúa Giêsu Kitô là Đấng trung bảo duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Từ đây mà các hội thánh Tin Lành không cầu khấn với các thánh và không nhận vai trò cầu bầu của Đức Maria, tuy vẫn kính trọng bà.
Mọi sự quy về vinh quang Thiên Chúa, không quy về công của người nào. Đây là chữ Johann Sebastian Bach quen viết tắt ở cuối bản nhạc.
Chức tư tế phổ quát của mọi tín hữu
Đây là khái niệm làm đổi cả hình dáng của hội thánh, và là chỗ người Việt quen với lối phẩm trật thấy lạ nhất. Dựa trên thư thứ nhất của Phêrô chương 2 câu 9 nói về một dân tư tế, các nhà Cải Cách chủ trương rằng mọi tín hữu đã chịu báp têm đều có thể đến thẳng với Thiên Chúa, không cần một người trung gian có chức thánh. Hệ quả kéo theo rất dài. Một, mục sư không phải một bậc thiêng liêng riêng mà là một chức vụ trong hội thánh, do hội thánh gọi và có thể thôi chức. Hai, mục sư lập gia đình bình thường, chính Luther cưới bà Katharina von Bora năm 1525. Ba, không có việc xưng tội riêng với người có chức thánh như một bí tích buộc. Bốn, giáo dân có mặt trong cơ quan quyết định của hội thánh.
Nói mọi tín hữu đều là tư tế không có nghĩa là hội thánh không cần người được đào tạo, hay ai muốn giảng thì giảng. Các hội thánh Tin Lành đều có trường Kinh Thánh, viện thần học, thủ tục phong chức và quy định về ai được cử hành báp têm và tiệc thánh. Điều được bỏ là quan niệm rằng người có chức thuộc một bậc khác về bản chất.
Danh xưng và từ vựng
Nhiều hiểu lầm giữa người Việt hai bên đạo thật ra chỉ là hiểu lầm về chữ. Bên Tin Lành gọi Thiên Chúa là Đức Chúa Trời, Chúa Thánh Thần là Đức Thánh Linh, người chăn bầy là mục sư, buổi nhóm là giờ thờ phượng. Bên Công Giáo gọi lần lượt là Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, linh mục, Thánh Lễ. Tên riêng cũng khác đường phiên âm: bên Tin Lành viết Giê-xu, Phao-lô, Phi-e-rơ, bên Công Giáo viết Giêsu, Phaolô, Phêrô. Chữ Tin Lành chính là bản dịch tiếng Việt của chữ Phúc Âm, nghĩa đen là tin tốt lành.
VIKinh Thánh Sáu Mươi Sáu Quyển Và Vai Trò Của Máy In
Nếu phải chọn một vật để làm dấu cho cả khối Tin Lành thì đó là quyển Kinh Thánh trong tay từng người. Không phải một quyển đặt trên bàn thờ cho người có chức đọc, mà một quyển in rẻ, bằng tiếng mẹ đẻ, mang về nhà được. Vào thế kỷ mười sáu đó là một thay đổi rất lớn, và chỉ làm được nhờ bản dịch và máy in đi cùng nhau.
Sáu mươi sáu quyển, và chỗ chênh với Công Giáo
| Phần | Bản Tin Lành | Bản Công Giáo | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Cựu Ước | 39 quyển | 46 quyển | Bản Tin Lành theo danh mục tiếng Hípri của truyền thống Do Thái. Bản Công Giáo theo bản dịch Hy Lạp quen gọi là bản Bảy Mươi. |
| Tân Ước | 27 quyển | 27 quyển | Hai bên giống nhau hoàn toàn, không có một quyển nào chênh. |
| Tổng | 66 quyển | 73 quyển | Chênh nhau bảy quyển, đều nằm ở Cựu Ước. |
| Bảy quyển chênh | Gọi là ngụy kinh hoặc sách ngoài quy điển | Gọi là đệ nhị quy điển | Tôbia, Giuđitha, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Barúc và hai quyển Macabê, theo lối phiên âm của bên Công Giáo. |
Đưa Kinh Thánh về tiếng của dân
Trước Cải Cách, bản văn chuẩn ở Tây phương là bản Latinh Vulgata, và người không học thì không đọc được. Chủ trương duy Kinh Thánh chỉ có nghĩa nếu người thường đọc được Kinh Thánh, nên việc dịch thành việc bắt buộc.
Luther dịch Tân Ước tại Wartburg và cho in tháng 9 năm 1522, trọn bộ Kinh Thánh tiếng Đức ra năm 1534. Ông dịch theo cách người Đức thật sự nói chứ không bám từng chữ, và nhiều nhà nghiên cứu coi bản ấy là một trong các nền của tiếng Đức viết hiện đại. Tại Anh, William Tyndale dịch Tân Ước từ nguyên ngữ Hy Lạp và cho in năm 1526, ông bị xử tử năm 1536, và phần lớn câu chữ của ông về sau đi thẳng vào bản King James năm 1611.
Cuộc Cải Cách là biến cố lớn đầu tiên trong lịch sử châu Âu diễn ra trong một thị trường sách in. Bản chín mươi lăm luận đề viết cho giới học thuật, nhưng chỉ trong vài tuần đã được các nhà in ở nhiều thành phố in lại và bán. Sau đó Luther chuyển sang viết các tập mỏng bằng tiếng Đức, giá rẻ, ngắn, in nhanh, và thể loại ấy thành phương tiện chính của cả cuộc tranh luận, phía phản đối cũng dùng chính phương tiện ấy để đáp lại.
Kinh Thánh tiếng Việt
Bản Kinh Thánh trọn bộ đầu tiên bằng tiếng Việt gắn liền với các hội thánh Tin Lành và là công trình của nhiều người. Theo tư liệu của Thư viện Tin Lành, nhóm dịch gồm ông bà William Cadman và Grace Hazenberg Cadman, giáo sĩ John Olsen, nhà văn Phan Khôi và ông Trần Văn Dõng, dưới sự bảo trợ của Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại. Phần của Phan Khôi được tính khoảng 342 trang trên tổng số 1.397 trang.
Về niên đại, hai cách ghi cùng lưu hành và thư viện ghi cả hai. Tư liệu ấy cho biết bản dịch hoàn tất năm 1924, in lần đầu năm 1925 tại Thượng Hải, và in tại Hà Nội năm 1926. Trong khi đó tên quen dùng trong hội thánh tới nay vẫn là Bản Truyền Thống 1926.
Sola scriptura nói rằng Kinh Thánh là chuẩn cuối cùng, tức khi có tranh chấp thì phải quy về đó để phân định. Nó không nói rằng mọi cách đọc đều ngang nhau, cũng không nói hội thánh không cần người dạy. Bằng chứng nằm ngay trong thực tế: các nhánh Tin Lành đều có bản tuyên tín, có giáo lý vấn đáp, có trường thần học.
VIIThờ Phượng, Báp Têm Và Tiệc Thánh
Người quen đi lễ nhà thờ Công Giáo bước vào một buổi nhóm Tin Lành sẽ nhận ra ngay một chỗ khác. Ở đây không có khuôn phụng vụ chung cho toàn khối, mỗi hội thánh tự định lấy chương trình, và cái đứng ở giữa buổi nhóm là bài giảng, thường dài, thường đi theo một đoạn Kinh Thánh cụ thể. Quanh bài giảng là phần hát chung cả hội chúng chứ không chỉ ca đoàn, phần cầu nguyện có khi soạn sẵn có khi ứng khẩu, phần đọc Kinh Thánh lớn tiếng, phần dâng hiến, và lời chúc phước khép lại. Luther viết thánh ca bằng tiếng Đức cho dân hát, quen thuộc nhất là bài Ein feste Burg ist unser Gott, còn truyền thống Cải Cách nổi tiếng với việc hát các thánh vịnh.
Hai bí tích thay vì bảy
Đây là một trong những chỗ khác dễ thấy nhất với Công Giáo. Phần lớn các nhánh Tin Lành giữ hai, là báp têm và tiệc thánh, với lập luận rằng chỉ hai việc ấy có lệnh truyền minh nhiên của chính Chúa Giêsu trong các sách Tin Lành. Năm việc còn lại trong bảy bí tích của Công Giáo vẫn được làm, nhưng xếp là nghi thức của hội thánh: lễ cưới, lễ tang, lễ phong chức, lễ dâng con trẻ, cầu nguyện cho người bệnh, xưng tội riêng. Nhiều hội thánh Tin Lành tiếng Việt gọi hai việc ấy là thánh lễ, một số nhánh gọi là lễ nghi để tránh ngụ ý rằng nghi thức tự nó ban ơn.
Báp têm cho ai
Đây là điểm chia nhánh cổ nhất trong nội bộ Tin Lành. Các hội thánh Luther, Cải Cách, Anh giáo và Giám Lý làm báp têm cho trẻ sơ sinh, thường bằng cách rưới nước trên đầu, với lập luận rằng báp têm là dấu của giao ước mà Thiên Chúa lập trước khi con người đáp lại. Các hội thánh Anabaptist, Baptist, Ngũ Tuần và nhiều hội thánh độc lập chỉ làm báp têm cho người đã đủ lớn để tự tuyên xưng đức tin, thường bằng cách dìm cả người xuống nước. Chính chữ Anabaptist nghĩa là người làm báp têm lại, tên do phía phản đối đặt cho.
Tiệc thánh, và bốn cách hiểu
| Truyền thống | Cách trình bày về sự hiện diện của Chúa Kitô |
|---|---|
| Luther | Chúa Kitô hiện diện thật, cùng với và dưới hình bánh và rượu, nhưng bánh vẫn là bánh. Phía Luther phân biệt điều này với giáo lý biến thể của Công Giáo. |
| Cải Cách theo Calvin | Chúa Kitô hiện diện thật nhưng theo cách thiêng liêng, và người tin nhận lấy bằng đức tin nhờ tác động của Đức Thánh Linh, chứ không phải bằng miệng. |
| Zwingli và các nhánh theo lối tưởng niệm | Bánh và chén là dấu hiệu tưởng niệm điều Chúa Kitô đã làm. Giá trị của nghi thức nằm ở việc hội chúng cùng nhớ và cùng tuyên xưng. |
| Anh giáo | Ba mươi chín Tín điều bác giáo lý biến thể, còn trong thực hành thì có cả lối hiểu gần với Calvin lẫn lối hiểu nhấn mạnh sự hiện diện, tùy trường phái. |
Về tần suất, khác nhau rất xa. Có hội thánh Luther và Anh giáo cử hành hằng tuần, có hội thánh Cải Cách và Baptist cử hành mỗi tháng hoặc mỗi quý một lần. Về lịch, gần như mọi nhánh giữ Giáng Sinh, Thương Khó và Phục Sinh, còn Ngày Cải Chánh 31 tháng 10 là ngày riêng của khối này. Mùa Vọng và Mùa Chay thì các hội thánh Luther và Anh giáo giữ, còn nhiều hội thánh khác không theo lịch phụng vụ.
VIIICác Nhánh Lớn
Bảng dưới liệt các nhánh lớn theo thứ tự thời gian xuất hiện, và cần đọc với một lưu ý: đây là các họ hội thánh chứ không phải các tổ chức. Trong họ Baptist có hàng chục liên hội không thuộc nhau, trong họ Ngũ Tuần còn nhiều hơn. Và có những hội thánh không xếp gọn vào ô nào, đặc biệt là lớp hội thánh độc lập lập ra trong thế kỷ hai mươi.
| Nhánh | Khởi từ | Chỗ khác dễ nhận |
|---|---|---|
| Luther | Nước Đức và Bắc Âu, từ năm 1517, bản tuyên tín nền là Augsburg 1530 | Giữ nhiều nghi thức phụng vụ cũ và giữ áo lễ, có nơi giữ cả chức giám mục. Nhấn mạnh sự xưng công chính nhờ đức tin và sự hiện diện thật trong tiệc thánh. |
| Cải Cách, gồm dòng Zwingli ở Zurich và dòng Calvin ở Genève | Thụy Sĩ từ 1519 và 1536, lan sang Hà Lan, Scotland, Hungary, Pháp | Bỏ nhiều nghi thức và hình ảnh hơn nhánh Luther. Tổ chức theo hội đồng trưởng lão, nên ở nhiều nước mang tên Trưởng Lão. Nhấn mạnh quyền tể trị của Thiên Chúa. |
| Anh giáo | Nước Anh, mốc pháp lý 1534, ổn định với cuộc dàn xếp năm 1559 | Giữ chức giám mục, giữ phụng vụ theo Sách Kinh nguyện chung, giữ nhiều nét hình thức của Giáo hội cũ. Tự nhận ở vị trí trung dung, xem mục riêng phía dưới. |
| Anabaptist | Zurich từ ngày 21 tháng 1 năm 1525, sau lan ra Hà Lan, Moravia, rồi sang Bắc Mỹ | Chỉ làm báp têm cho người tự tuyên xưng. Chủ trương tách hội thánh khỏi chính quyền và phần lớn theo đường bất bạo động. Hậu duệ là Mennonite, Amish, Hutterite. |
| Baptist | Amsterdam năm 1609 với John Smyth, về London năm 1612 với Thomas Helwys | Báp têm bằng cách dìm mình cho người tin. Mỗi hội thánh địa phương tự trị hoàn toàn, liên hội chỉ là hiệp hội tự nguyện. Họ hội thánh đông nhất ở Hoa Kỳ. |
| Giám Lý | Nước Anh từ năm 1738 với John Wesley, thành hội thánh riêng sau năm 1791 | Sinh ra từ một phong trào trong lòng Anh giáo, nhấn mạnh sự nên thánh trong đời sống và việc tổ chức thành các nhóm nhỏ. |
| Ngũ Tuần | Hoa Kỳ đầu thế kỷ 20, mốc quen dùng là cuộc phục hưng phố Azusa năm 1906 | Nhấn mạnh các ơn của Đức Thánh Linh còn hoạt động hôm nay, gồm nói tiếng lạ, chữa bệnh, nói tiên tri. Mạnh nhất ở Mỹ Latinh và châu Phi. |
| Tin Lành Phúc Âm | Không phải một hệ phái, là một phong trào xuyên nhánh, văn kiện nền là Giao ước Lausanne năm 1974 | Nhấn bốn điều: thẩm quyền Kinh Thánh, việc tin nhận cá nhân, trung tâm là thập giá, và bổn phận truyền giảng. Người theo phong trào này có mặt trong hầu hết các nhánh trên. |
Hai dòng Cải Cách cần tách bạch thêm, vì bảng ghép chung cho gọn. Huldrych Zwingli ở Zurich khởi việc từ năm 1519, đi trước Calvin cả một thế hệ, và tử trận năm 1531 trong cuộc xung đột ở Kappel. Jean Calvin là người Pháp, cho in bộ Institutio Christianae Religionis năm 1536 lúc mới hai mươi bảy tuổi, rồi gắn phần lớn đời mình với thành Genève. Hai người khác nhau rõ nhất ở cách hiểu về tiệc thánh.
IXAnh Giáo, Chỗ Khó Xếp Loại Nhất
Thư viện này xếp nhà thờ chính tòa Canterbury và tu viện Westminster vào mục Tin Lành. Cách xếp ấy cần được nói rõ ngay, vì nó là một lựa chọn cho gọn chứ không phải một phán quyết, và bản thân người Anh giáo phần nhiều sẽ không mô tả mình đúng như vậy.
Về mặt lịch sử, Anh giáo đúng là một sản phẩm của thế kỷ mười sáu, tách khỏi quyền Rôma bằng Đạo luật Tối thượng quyền năm 1534 và định hình qua cuộc dàn xếp thời Elizabeth năm 1559, với Ba mươi chín Tín điều và Sách Kinh nguyện chung. Các bảng phân loại tôn giáo thế giới thường xếp Anh giáo trong khối Tin Lành, và Pew Research Center nói rõ rằng con số Tin Lành của họ bao gồm cả Anh giáo.
Nhưng về mặt tự nhận, Anh giáo đứng ở một chỗ khác. Lối nói quen thuộc trong giới Anh giáo là vừa Công Giáo vừa Cải Cách, và họ trình bày đây không phải một thỏa hiệp nửa vời mà là một chủ trương có ý thức, quen gọi bằng chữ Latinh via media, con đường ở giữa. Họ giữ hàng giám mục theo dòng kế truyền và giữ phụng vụ, đồng thời nhận Kinh Thánh là thẩm quyền tối hậu và nhận chức tư tế phổ quát.
Theo tài liệu của Hội nghị Lambeth, Hiệp thông Anh giáo gồm 42 giáo hội thành viên có mặt ở hơn 165 nước, với số tín hữu ước chừng 85 triệu.
Được mô tả là tiêu điểm của sự hiệp nhất Anh giáo và chủ tọa các cơ cấu chung, chứ không phải người có quyền tài phán trên các giáo hội thành viên. Đây là chỗ khác căn bản với vai trò của Đức Giáo hoàng.
Trong lòng Anh giáo có trường phái thiên về nghi thức, quen gọi là Anh giáo Cao, và trường phái thiên về giảng luận và Kinh Thánh, quen gọi là Anh giáo Thấp hay Phúc Âm. Hai trường phái ấy sinh hoạt trong cùng một giáo hội.
Vì thư viện chia các đạo theo khối lớn, và trong bảng phân loại phổ biến của giới nghiên cứu tôn giáo thì Anh giáo nằm trong khối các giáo hội đi ra từ cuộc Cải Cách. Đây là cách xếp cho gọn, không phải một lời phán về căn tính.
Có người Anh giáo nói mình là Tin Lành. Có người Anh giáo nói mình không phải Tin Lành mà là Công Giáo cải cách. Cả hai cách nói đều có cơ sở trong chính lịch sử và văn bản của Anh giáo, và thư viện không phân xử ai đúng. Khi thấy Canterbury và Westminster nằm trong mục Tin Lành của trang này, xin hiểu đó là quy ước sắp xếp của thư viện.
XCơ Cấu, Hay Là Vì Sao Không Có Người Đứng Đầu
Câu hỏi quen nhất mà một người Việt đặt ra khi nghe về Tin Lành là ai đứng đầu. Câu trả lời thành thật: không ai cả, và đó không phải một thiếu sót mà là hệ quả trực tiếp của giáo nghĩa. Nếu Kinh Thánh là chuẩn tối hậu và nếu mọi tín hữu đều có thể đến thẳng với Thiên Chúa thì không có chỗ cho một thẩm quyền sống duy nhất đứng trên toàn khối. Thay vào đó, các hội thánh Tin Lành tổ chức theo ba lối.
Có hàng giám mục coi sóc một địa hạt. Anh giáo theo lối này, các hội thánh Luther ở Bắc Âu và một phần hội thánh Giám Lý cũng vậy. Giám mục có quyền cai quản trong giáo hội của mình, nhưng không có ai làm giám mục của các giám mục trên toàn thế giới.
Quyền nằm ở các hội đồng gồm mục sư và trưởng lão do tín hữu bầu, từ hội thánh địa phương lên tới hội đồng toàn quốc. Các hội thánh Cải Cách và Trưởng Lão theo lối này, quyết định bằng biểu quyết.
Mỗi hội thánh địa phương là một đơn vị tự trị đầy đủ, tự gọi mục sư, tự quyết mọi việc. Baptist, nhiều hội thánh Ngũ Tuần và hầu hết các hội thánh độc lập theo lối này.
Về người phục vụ, mọi nhánh đều có mục sư, tức người được đào tạo và được phong chức để giảng và coi sóc hội thánh. Mục sư lập gia đình bình thường, và ở nhiều nhánh ngày nay có cả mục sư nữ, tuy điểm này thì các nhánh không thống nhất. Một điểm chung đáng chú ý là giáo dân tham gia quyết định, qua ban trị sự, ban chấp sự hay đại hội đồng.
Vậy có tổ chức nào nối các hội thánh lại không. Có, nhưng chúng là diễn đàn chứ không phải cấp trên. Hội đồng Đại kết Thế giới lập năm 1948 tại Amsterdam quy tụ hàng trăm hội thánh Tin Lành và Chính Thống. Liên hiệp Luther Thế giới, Hiệp thông Anh giáo, Hiệp thông Cải Cách Thế giới và Liên minh Báp Tít Thế giới mỗi tổ chức quy tụ một họ hội thánh. Không tổ chức nào có quyền ra lệnh cho hội thánh thành viên, và một hội thánh có thể rút khỏi bất cứ lúc nào.
Câu trả lời của chính các hội thánh Tin Lành là: bằng bản văn chứ không bằng bộ máy. Cái giữ các nhánh lại với nhau là cùng một quyển Kinh Thánh, cùng các bản tuyên tín cổ, cùng một kho thánh ca và một truyền thống giảng luận. Cái giá phải trả là số nhánh rất nhiều và việc chia tách xảy ra dễ hơn.
XINhà Thờ Tin Lành Và Thánh Giá Trơn
Đứng giữa lòng một nhà thờ Tin Lành, điều đập vào mắt trước tiên là sự trống. Không tượng thánh dọc hai bên, không tranh ảnh dày đặc, không nhà tạm, không hàng nến trước các ban thờ nhỏ. Nhiều nhà thờ tường quét vôi trắng, cửa kính trong suốt cho ánh sáng lọt thẳng vào. Người chưa quen dễ nghĩ là thiếu tiền hoặc chưa làm xong. Thật ra đây là chủ ý thần học có từ thế kỷ mười sáu.
Vị trí cao và chính giữa, nơi mà trong nhà thờ Công Giáo là bàn thờ, thì ở đây thường là bục giảng. Việc bố trí ấy nói thẳng rằng trung tâm của buổi nhóm là Lời được rao giảng.
Thường là một chiếc bàn thấp đặt trước bục giảng, có khi khắc dòng chữ về việc hãy làm điều này mà nhớ tới Chúa. Chữ dùng cũng khác, vì theo giáo nghĩa Tin Lành thì hy lễ đã hoàn tất một lần đủ cả.
Thánh giá trong nhà thờ Tin Lành thường không có tượng Chúa chịu nạn. Cách giải thích quen dùng là thánh giá trống nhấn vào sự phục sinh và ngôi mộ trống, chứ không phải vì coi nhẹ cuộc khổ nạn. Đây cũng là biểu tượng thư viện chọn cho trang này.
Không có tượng thánh đặt để tín hữu tới khấn vái, không có hài cốt thánh. Một số nhà thờ vẫn có tranh kính hoặc phù điêu mang tính trang trí, mức độ tùy nhánh và tùy nước.
Cần một lưu ý khi đi thăm các nơi trong thư viện này. Nhà thờ chính tòa Canterbury lập năm 597 và tu viện Westminster có gốc từ khoảng năm 960 đều được dựng lên khi nước Anh còn thuộc Giáo hội Rôma, nên kiến trúc Gothic, các ngôi mộ và phù điêu ở đó là di sản thời trước Cải Cách mà Anh giáo giữ lại, không phải kiểu mẫu của một nhà thờ Tin Lành mới xây. Ngược lại, Westerkerk ở Amsterdam dựng trong quãng 1620 tới 1631 theo đồ án Hendrick de Keyser được thiết kế ngay từ đầu cho một hội thánh Cải Cách.
XIISố Tín Đồ, Và Vì Sao Các Con Số Chênh Nhau Rất Xa
Với Tin Lành, khó khăn của phép đếm không nằm ở chỗ thiếu số liệu mà nằm ở chỗ không thống nhất được đếm ai. Cùng một năm, hai tổ chức nghiên cứu uy tín có thể đưa ra hai con số chênh nhau hơn hai trăm triệu người, chỉ vì họ vạch ranh giới khác nhau.
Bốn chỗ làm lệch phép đếm
Khoảng 85 triệu người theo tài liệu của Hội nghị Lambeth. Có bảng xếp Anh giáo vào khối Tin Lành, có bảng tách riêng, và chỉ riêng lựa chọn này đã làm con số nhảy một bậc.
Đây là chỗ lệch lớn nhất. Các hội thánh không thuộc hệ phái nào, gồm nhiều giáo hội bản địa châu Phi, các hội thánh tại gia ở châu Á và các hội thánh phi hệ phái ở Bắc Mỹ, được một số bảng gộp vào Tin Lành và một số bảng tách riêng. Nhóm ấy có quy mô hơn bốn trăm triệu người.
Không tổ chức nào nắm sổ cho toàn khối. Mỗi hội thánh tự đếm theo tiêu chuẩn của mình, có nơi đếm người đã chịu báp têm, có nơi đếm người đi nhóm đều.
Trong nhiều cuộc điều tra ở châu Âu, số người ghi mình thuộc một giáo hội Tin Lành lớn hơn hẳn số người thật sự đi nhóm, vì tư cách thành viên ở nhiều nước gắn với thủ tục hành chính.
| Phạm vi và nguồn | Con số | Năm dữ liệu | Cách xếp loại |
|---|---|---|---|
| Toàn cầu, Pew Research Center | 801 triệu, chiếm 37 phần trăm tổng số Kitô hữu | mốc 2010, công bố 2011 | Định nghĩa rộng, gộp cả Anh giáo và các hội thánh độc lập vào khối Tin Lành. |
| Toàn cầu, Gordon Conwell | 628.862.000 người | giữa năm 2025 | Bản này gộp Anh giáo vào Tin Lành nhưng tách riêng nhóm hội thánh độc lập. |
| Toàn cầu, nhóm hội thánh độc lập, Gordon Conwell | 409.425.000 người | giữa năm 2025 | Nhóm đứng riêng. Cộng hai dòng trên lại thì được hơn một tỷ. |
| Toàn cầu, tổng số Kitô hữu, Pew | 2,3 tỷ người, chiếm 28,8 phần trăm dân số thế giới | mốc 2020, công bố 2025 | Báo cáo này không tách theo hệ phái, đếm chung mọi Kitô hữu thành một nhóm. |
| Việt Nam, Ban Tôn giáo Chính phủ | Hơn 1,2 triệu tín đồ, hơn 2.300 chức sắc, gần 900 cơ sở thờ tự | tài liệu bản năm 2023 | Đếm theo mười một tổ chức Tin Lành đã được công nhận. |
Mấy điều rút ra. Thứ nhất, con số đúng nhất mà thư viện có thể đưa là một khoảng: từ khoảng sáu trăm triệu tới hơn một tỷ, tùy việc có gộp các hội thánh độc lập hay không. Thứ hai, xét theo họ hội thánh thì Tin Lành là khối lớn thứ hai của Kitô Giáo sau Công Giáo, nhưng khối này không có một tổ chức đơn lẻ nào để đem ra so. Thứ ba, phần tăng mạnh nhất trong thế kỷ vừa qua nằm ở châu Phi hạ Sahara, Mỹ Latinh và Đông Á chứ không còn ở châu Âu.
XIIITin Lành Tại Việt Nam
So với Công Giáo vốn đã có mặt trên đất Việt từ thế kỷ mười sáu, Tin Lành tới muộn hơn khoảng bốn trăm năm. Mốc khởi được cả giới nghiên cứu lẫn chính các hội thánh dùng là năm 1911, và cái nôi là Đà Nẵng.
Năm 1911 tại Tourane
Theo tư liệu của Hội thánh Tin Lành Việt Nam, ngày 22 tháng 5 năm 1911, giáo sĩ R.A. Jaffray cùng hai giáo sĩ Paul M. Hosler và G. Lloyd Hughes rời Hồng Kông bằng tàu biển, và ngày 25 tháng 5 năm 1911 ba người tới Tourane, nay là Đà Nẵng. Họ mua hai lô đất mang số 66 và 67 để làm cơ sở truyền giáo đầu tiên của Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp, tên tiếng Anh là Christian and Missionary Alliance, quen viết tắt là CMA. Trước đó đã có những chuyến dò đường, cùng nguồn ấy ghi rằng Jaffray tới miền Bắc theo ngả Lạng Sơn từ năm 1898, nhưng cơ sở thường trực thì phải tới năm 1911 mới có.
Từ các hội thánh rời rạc tới một tổ chức
Năm 1927, đại hội đồng đầu tiên họp tại Đà Nẵng và lập ra tổ chức chung cho các hội thánh đã có, tên gọi đương thời thường được ghi là Hội Tin Lành Đông Pháp, về sau là Hội thánh Tin Lành Việt Nam.
Về việc tổ chức tách làm hai, các nguồn ghi không giống nhau và thư viện ghi cả hai cách. Một số tài liệu nghiên cứu trong nước đặt mốc chia ở giữa thập niên 1950, sau Hiệp định Genève năm 1954. Cách ghi khác, phổ biến trong sinh hoạt hội thánh, gắn việc định hình hai tổ chức mang tên miền Bắc và miền Nam với giai đoạn sau năm 1975. Điều hai cách ghi đều nhận: đến nay đây là hai tổ chức riêng biệt, mỗi bên có hiến chương riêng, ban trị sự riêng và đại hội đồng riêng.
Hai tổ chức lớn nhất
| Tổ chức | Năm công nhận | Số tín hữu và cơ sở | Trụ sở |
|---|---|---|---|
| Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) | 1958 theo tài liệu Ban Tôn giáo Chính phủ. Một số tài liệu tiếng Anh ghi năm 1963. | 1.415 hội thánh và điểm nhóm, 220.000 tín hữu, gần 1.000 chức sắc, theo số công bố tại đại hội tháng 4 năm 2026 | Nhà thờ Tin Lành Hà Nội, phố Ngõ Trạm, phường Hàng Bông, Hà Nội |
| Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) | Ngày 3 tháng 4 năm 2001 | Hơn 700.000 tín hữu, gần 600 chi hội, 1.500 điểm nhóm, trên địa bàn 34 tỉnh thành, theo số công bố tại đại hội tháng 7 năm 2022 | 155 Trần Hưng Đạo, phường Cầu Ông Lãnh, Thành phố Hồ Chí Minh |
Mười một tổ chức được công nhận
| Tổ chức | Năm |
|---|---|
| Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) | 1958 |
| Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) | 2001 |
| Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam | 2007 |
| Tổng hội Báp-tít Việt Nam | 2008 |
| Giáo hội Báp-tít Việt Nam | 2008 |
| Hội thánh Tin Lành Trưởng lão Việt Nam | 2008 |
| Hội thánh Men-nô-nai Việt Nam | 2009 |
| Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam | 2010 |
| Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam | 2018 |
| Hội thánh Tin Lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam | 2018 |
| Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam | 2019 |
Nhìn danh sách trên là thấy cái phổ rộng đã nói ở đầu bài được lặp lại y nguyên trên đất Việt: có nhánh gốc CMA, có nhánh Báp Tít với hai tổ chức song song, có nhánh Trưởng Lão, có nhánh Mennonite tức hậu duệ Anabaptist, có nhánh Ngũ Tuần. Tài liệu năm 2023 của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi cả nước có hơn 1,2 triệu người theo đạo Tin Lành, hơn 2.300 chức sắc và gần 900 cơ sở thờ tự.
Về cơ sở thờ tự chính, ba nơi hay được nhắc tới. Nhà thờ Tin Lành Đà Nẵng gắn với hội thánh đầu tiên lập năm 1911. Nhà thờ Tin Lành Hà Nội trên phố Ngõ Trạm, gốc từ một nhà nguyện nhỏ dựng quãng năm 1920 rồi mở rộng nhiều lần, là trụ sở của tổ chức miền Bắc. Trụ sở Tổng Liên hội của tổ chức miền Nam đặt tại số 155 Trần Hưng Đạo, phường Cầu Ông Lãnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có mạng lưới chi hội và điểm nhóm của nhiều tổ chức khác nhau.
XIVTrong Con Mắt Phong Thủy
Mục này cần một câu rào trước. Tin Lành không dạy phong thủy. Không có một dòng nào trong Kinh Thánh, trong các bản tuyên tín Cải Cách hay trong hiến chương của bất cứ hội thánh Tin Lành nào bàn tới việc chọn hướng theo tuổi, xem khí đất hay bày vật khí. Thư viện đặt mục này ở đây vì đây là thư viện của một người làm nghề mệnh lý, và bạn đọc quen lối cổ truyền Việt Nam cần một chỗ đối chiếu. Đây là cách đọc của thư viện, không phải giáo huấn của đạo, và không ai được lấy mục này mà nói rằng Tin Lành có xem phong thủy.
Còn một chỗ nữa phải nói cho rõ, vì nó phân biệt Tin Lành với Công Giáo ngay trong chuyện xây cất. Truyền thống Kitô Giáo cổ có tập tục hướng nhà thờ về phía đông, mang nghĩa hướng về Chúa Kitô phục sinh, và Công Giáo giữ tập tục ấy lâu dài. Nhiều nhánh Tin Lành, đặc biệt là các nhánh Cải Cách, đã bỏ tập tục này cùng với việc bỏ nhiều nghi thức khác trong thế kỷ mười sáu, với lập luận rằng hướng của một tòa nhà không thuộc về điều Kinh Thánh truyền dạy. Hệ quả là hướng của một nhà thờ Tin Lành phần lớn do khu đất và con phố quyết định.
Thứ thay chỗ cho việc chọn hướng
Vậy khi không chọn hướng thì người ta tính gì. Câu trả lời khá thực dụng. Một, đường nhìn: mọi chỗ ngồi phải thấy được bục giảng, nên nhiều nhà thờ làm mặt bằng gần vuông thay vì hình chữ nhật dài, và làm thêm gác lửng. Hai, âm học: trước thời có loa, việc một người nói mà cả nghìn người nghe rõ là bài toán về trần, về vật liệu và về khoảng cách. Ba, ánh sáng: cửa kính trong thay cho kính màu để tín hữu đọc được Kinh Thánh trên tay mình. Ba tính toán ấy đều đi ra từ cùng một điểm giáo nghĩa là Lời được rao giảng đứng ở trung tâm.
Đọc theo con mắt cổ truyền Việt Nam
Nếu đặt một ngôi nhà thờ Tin Lành vào khung nhìn của phong thủy cổ truyền thì mấy điểm sau sẽ được người trong nghề để ý, và xin nhắc lại đây là kiến giải của thư viện. Minh đường. Nhiều nhà thờ Tin Lành có khoảng sân trước rộng và thoáng, thứ mà lối cổ truyền gọi là minh đường, nhưng cái sân ấy có là do nhu cầu tụ họp của một hội chúng đông. Thủy. Westerkerk đứng ngay bên kênh Prinsengracht, một thế mà người xem đất sẽ gọi là tọa thực hướng thủy, lý do thật thì đơn giản hơn vì Amsterdam thế kỷ mười bảy là thành phố xây trên kênh. Sáng và thoáng. Cửa kính trong, tường trắng, trần cao tạo cảm giác mà lối cổ truyền gọi là khí trường sáng sủa. Đây là chỗ hai lối nhìn gặp nhau, vì cả hai đều quý sự sáng và sự thoáng, chỉ khác lý do.
Nếu quý vị là người Tin Lành, trang này không khuyên quý vị xem phong thủy, và thẩm quyền đúng để hỏi về việc ấy là mục sư của hội thánh mình chứ không phải một trang thư viện. Nếu quý vị không có đạo và đang đứng trước một nhà thờ Tin Lành thấy nó trống trải quá so với nhà thờ Công Giáo, xin đừng nghĩ là thiếu tiền hay làm dở dang. Cái trống ấy là chủ ý, bắt đầu từ một quyết định thần học thế kỷ mười sáu chứ không từ ngân sách xây dựng.
XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Phần cuối gom lại các câu mà thư viện nghe nhiều nhất. Ba chỗ trượt lớn nhất đều đi ra từ cùng một gốc: người hỏi đang mang sẵn hình dung về một giáo hội có phẩm trật rồi áp lên một khối vốn không được dựng theo lối ấy.
Không. Mốc khởi là ngày 31 tháng 10 năm 1517, tính tới nay đã hơn năm trăm năm. Cảm giác mới có lẽ đến từ việc Tin Lành vào Việt Nam năm 1911, muộn hơn Công Giáo khoảng bốn trăm năm, nên trên đất Việt thì đây đúng là đạo trẻ, còn trên thế giới thì không.
Không có. Đây không phải chuyện chưa bầu được mà là chuyện giáo nghĩa không có chỗ cho một vị trí như vậy. Mỗi hội thánh hoặc mỗi liên hội có người lãnh đạo riêng với các tên gọi như mục sư hội trưởng, giám mục, chủ tịch hội đồng, và thẩm quyền của họ dừng lại trong tổ chức của mình. Tổng giám mục Canterbury bên Anh giáo cũng vậy, là tiêu điểm hiệp nhất chứ không cầm quyền tài phán.
Không. Trong nhà thờ Tin Lành không có bàn thờ Luther, không có tượng để khấn vái, không có lời kinh nào dâng lên ông. Ông được nhắc tới như một nhân vật lịch sử và một người dịch Kinh Thánh, và chính ông từng phản đối việc lấy tên mình đặt cho một nhóm tín hữu.
Không phải vì coi nhẹ cuộc khổ nạn. Cách giải thích quen dùng trong các hội thánh là thánh giá trống nhấn vào việc Chúa đã sống lại và ngôi mộ đã trống, tức nhấn vào phục sinh chứ không dừng ở cái chết. Bên cạnh đó còn có lý do về hình tượng, vì nhiều nhánh Cải Cách chủ trương hạn chế tạo hình trong nơi thờ phượng. Tuần Thương Khó và ngày Thứ Sáu chịu nạn vẫn là ngày trọng.
Các hội thánh Tin Lành chính dòng không xếp hai nhóm này vào khối của mình, và đây là mô tả về cách xếp loại chứ không phải một lời phán xét. Lý do được nêu ra là hai nhóm ấy không cùng lập trường về tín điều Ba Ngôi theo kinh Nicea, và riêng nhóm Mormon còn nhận thêm các sách ngoài Kinh Thánh sáu mươi sáu quyển làm kinh điển. Hai nhóm cũng ra đời tại Hoa Kỳ thế kỷ mười chín chứ không đi ra từ cuộc Cải Cách.
Hai bên mô tả sự việc bằng hai cách. Phía Tin Lành nói mình theo danh mục ba mươi chín quyển của truyền thống Hípri. Phía Công Giáo nói quy điển bảy mươi ba quyển đã có từ các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi dùng bản dịch Hy Lạp và được Công đồng Trentô xác định lại năm 1546. Phần Tân Ước hai bên giống hệt nhau.
Trang giải đáp của Hội thánh Tin Lành Việt Nam chi hội Sài Gòn trả lời rằng người theo Tin Lành không thờ cúng ông bà cha mẹ, và giải thích rằng lòng hiếu được thể hiện bằng việc yêu thương, phụng dưỡng, vâng lời và chăm sóc khi cha mẹ còn sống, cùng việc lo tang lễ chu đáo và tưởng nhớ khi đã khuất, dựa trên điều răn thứ năm. Đây là chỗ khác với Công Giáo Việt Nam sau năm 1965 và khác với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
XNơi Của Đạo Này Trên Đất Việt
Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.

Nhà thờ chính tòa cổ nhất nước Anh, lập năm 597 bởi Thánh Augustinô, tòa của Tổng giám mục Canterbury và nhà thờ mẹ của Cộng đồng Anh giáo, nơi Thomas Becket tử đạo năm 1170 và nơi hành hương lớn nhất nước Anh thời Trung cổ.

Nhà thờ Các Thánh trong lâu đài Wittenberg, cung hiến năm 1503, nơi Martin Luther gắn 95 luận đề ngày 31 tháng 10 năm 1517 mở đầu Cải Chánh Tin Lành, giữ mộ Luther và Melanchthon, tháp cao 88 mét.

Nhà thờ Anh giáo bên sông Thames, gốc tu viện Biển Đức khoảng năm 960, nhà thờ Gothic của Henry III từ 1245, nơi mọi vua Anh đăng quang từ năm 1066 và nơi an táng khoảng ba nghìn ba trăm người.

Nhà thờ Tin Lành Cải Cách dựng 1620 tới 1631 theo đồ án Hendrick de Keyser bên kênh Prinsengracht, tháp Westertoren cao nhất Amsterdam mang vương miện hoàng đế, chuông Hemony 1658 và nơi an táng Rembrandt năm 1669.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tin Lành và Công Giáo khác nhau thế nào?
Cả hai đều thuộc Kitô Giáo, cùng tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi và tin Chúa Giêsu Kitô, tách nhau từ cuộc Cải Cách năm 1517. Bốn chỗ khác chính: Công Giáo nhận cả Kinh Thánh lẫn Thánh Truyền còn Tin Lành lấy Kinh Thánh làm chuẩn tối hậu, Công Giáo hiệp thông dưới quyền Đức Giáo hoàng còn Tin Lành gồm nhiều hội thánh tự quản, Công Giáo có bảy bí tích còn phần lớn nhánh Tin Lành giữ hai là báp têm và tiệc thánh, Công Giáo tôn kính Đức Mẹ và các thánh còn Tin Lành cầu nguyện thẳng với Thiên Chúa. Kinh Thánh cũng khác số quyển, 73 so với 66.
Ai là người đứng đầu đạo Tin Lành?
Không có ai. Tin Lành không phải một giáo hội mà là tên gọi chung cho nhiều hội thánh cùng gốc Cải Cách, mỗi hội thánh hoặc mỗi liên hội tự quản và tự bầu người lãnh đạo của mình. Các tổ chức quốc tế như Hội đồng Đại kết Thế giới hay Liên hiệp Luther Thế giới chỉ là diễn đàn để bàn bạc và làm việc chung, không có quyền ra lệnh cho hội thánh thành viên. Tại Việt Nam, mỗi tổ chức trong số mười một tổ chức được công nhận có ban trị sự và đại hội đồng riêng.
Năm chữ sola của Tin Lành là gì?
Sola trong tiếng Latinh nghĩa là chỉ một mình. Năm chữ gồm sola scriptura là duy Kinh Thánh, tức Kinh Thánh là chuẩn tối hậu, sola fide là duy đức tin, sola gratia là duy ân điển, solus Christus là duy Chúa Kitô làm Đấng trung bảo, và soli Deo gloria là mọi sự quy về vinh quang Thiên Chúa. Cần lưu ý các nhà Cải Cách thế kỷ mười sáu dùng từng chữ riêng lẻ, còn việc gom đúng năm chữ thành một bộ có tên là cách tóm tắt của người đời sau.
Martin Luther có thật sự đóng đinh 95 luận đề lên cửa nhà thờ không?
Sử học còn tranh luận và thư viện ghi cả hai phía. Năm 1961 nhà sử học Erwin Iserloh lập luận rằng việc đóng đinh chưa từng xảy ra, rằng Luther chỉ gửi bản luận đề tới các bề trên để xin tranh luận, và các nhà nghiên cứu Andrew Pettegree cùng Peter Marshall cũng nghiêng về phía nghi ngờ, nêu rằng chính Luther không bao giờ kể chuyện ấy. Phía ngược lại dựa vào lời Melanchthon viết năm 1546 và một ghi chú năm 1540 của Georg Rörer được tìm thấy tại Jena năm 2006. Điều không bên nào bác là ngày 31 tháng 10 năm 1517 Luther đã gửi bản luận đề kèm thư tới hàng giáo phẩm.
Việt Nam có bao nhiêu người theo đạo Tin Lành?
Theo tài liệu Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam bản năm 2023 của Ban Tôn giáo Chính phủ, cả nước có hơn 1,2 triệu người theo đạo Tin Lành, với hơn 2.300 chức sắc và gần 900 cơ sở thờ tự, thuộc mười một tổ chức đã được công nhận. Hai tổ chức lớn nhất là Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Bắc, công bố 220.000 tín hữu và 1.415 hội thánh cùng điểm nhóm tại đại hội tháng 4 năm 2026, và Hội thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam, công bố hơn 700.000 tín hữu tại đại hội tháng 7 năm 2022.
Anh giáo có phải là Tin Lành không?
Tùy cách xếp loại, và bản thân người Anh giáo phần nhiều tự nhận mình ở vị trí trung dung. Về lịch sử, Anh giáo tách khỏi quyền Rôma năm 1534 và định hình trong thế kỷ mười sáu nên các bảng phân loại tôn giáo thường xếp vào khối Tin Lành, Pew Research Center nói rõ con số Tin Lành của họ bao gồm cả Anh giáo. Nhưng lối tự mô tả quen thuộc trong giới Anh giáo là vừa Công Giáo vừa Cải Cách, quen gọi là con đường ở giữa. Thư viện xếp Canterbury và Westminster vào mục Tin Lành cho gọn và không phán xét ai đúng.
Người Tin Lành có thờ cúng ông bà tổ tiên không?
Trang giải đáp của Hội thánh Tin Lành Việt Nam chi hội Sài Gòn trả lời rằng người theo Tin Lành không thờ cúng ông bà cha mẹ. Cách trình bày của hội thánh là lòng hiếu thể hiện khi cha mẹ còn sống, qua việc yêu thương, vâng lời, phụng dưỡng và chăm sóc, rồi khi cha mẹ qua đời thì lo tang lễ chu đáo và tưởng nhớ, dựa trên điều răn thứ năm về việc hiếu kính cha mẹ. Đây là chỗ khác với Công Giáo Việt Nam vốn đã cho phép đặt bàn thờ gia tiên từ năm 1965, và khác với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
Vì sao nhà thờ Tin Lành không có tượng và trông rất giản dị?
Vì trung tâm của buổi nhóm là bài giảng chứ không phải bàn thờ, nên vị trí cao và chính giữa thường dành cho bục giảng, còn bàn tiệc thánh là một chiếc bàn thấp đặt phía trước. Nhiều nhánh Cải Cách chủ trương hạn chế tạo hình trong nơi thờ phượng, nên không có tượng thánh để khấn vái, không có hài cốt thánh, và thánh giá thường để trơn không có tượng Chúa chịu nạn nhằm nhấn vào sự phục sinh. Cửa kính trong và tường sáng là để tín hữu đọc được Kinh Thánh trên tay mình.