IĐọc Nhanh Trong Năm Câu
Hồi Giáo là đạo đông tín đồ thứ hai trên thế giới và đang là đạo tăng nhanh nhất. Tên gốc của đạo là إسلام, phiên âm islam, rút từ một gốc ba phụ âm mang nghĩa quy thuận và bình an, còn người theo đạo gọi là مسلم, phiên âm muslim. Chữ Hồi Giáo trong tiếng Việt mượn từ chữ Hán, gọi theo tên tộc người Hồi Hột ở Trung Á từng theo đạo này, nên đó là một cái tên ngoại lai chứ không phải tên đạo tự đặt.
Hình dáng của cả đạo dựng trên một mệnh đề duy nhất: Thượng Đế là một, một cách tuyệt đối và không chia được. Từ mệnh đề ấy suy ra gần như mọi thứ còn lại, từ chỗ đạo không có ảnh tượng và không có hàng giáo phẩm làm trung gian ban ơn, cho tới chỗ nghệ thuật của đạo dồn hết vào thư pháp và hoa văn hình học. Đây cũng là đạo có mặt trên đất Việt rất sớm, gắn với vương quốc Champa.
Một, Hồi Giáo khởi từ bán đảo Ả Rập đầu thế kỷ 7, quanh lời rao giảng của ông Muhammad, người mà đạo tuyên xưng là vị sứ giả cuối cùng trong một chuỗi dài. Hai, cốt lõi của giáo nghĩa là tawhid, tức sự duy nhất tuyệt đối của Thượng Đế. Ba, đời sống đạo dựng trên năm trụ cột: lời tuyên xưng, lễ nguyện năm lần mỗi ngày, bố thí bắt buộc, giữ chay tháng Ramadan và hành hương về Mecca. Bốn, đạo chia làm hai dòng lớn là Sunni và Shia, tách nhau từ một câu hỏi về người kế vị sau năm 632, còn Sufi không phải dòng thứ ba mà là chiều tu thân bên trong của cả hai dòng. Năm, tại Việt Nam đạo này có hai nhánh là Chăm Islam và Chăm Bàni, khác nhau đủ nhiều để phải viết thành hai mục riêng.
Trang này gồm mười bốn mục và viết theo lối mô tả. Thư viện thuật lại điều Hồi Giáo tuyên xưng, thuật lại điều sử học khảo được, và giữ hai thứ ấy tách bạch bằng hai loại hộp riêng. Chỗ nào hai nguồn ghi khác nhau, chẳng hạn số tín đồ tại Việt Nam hay niên đại Hồi Giáo vào Champa, thư viện ghi thẳng cả hai kèm nguồn. Thư viện không xét đạo nào đúng sai, và trong một đạo thì không xét nhánh nào thuần khiết hơn nhánh nào.
IIBán Đảo Ả Rập Thế Kỷ Thứ Bảy
Bán đảo Ả Rập đầu thế kỷ 7 nằm lọt giữa hai đế quốc đang kiệt sức vì đánh nhau lâu năm: Đông La Mã ở phía tây bắc và Ba Tư nhà Sassanid ở phía đông bắc. Phần lớn bán đảo là sa mạc, và đời sống tổ chức theo bộ tộc chứ không theo nhà nước: cái bảo vệ một con người là bộ tộc của người ấy, và bị bộ tộc từ bỏ đồng nghĩa với mất chỗ đứng trong đời. Danh dự dòng họ, lòng hào phóng với khách và tài làm thơ là ba thứ định giá một người. Chi tiết cuối quan trọng hơn vẻ ngoài của nó: một cộng đồng coi ngôn từ là đỉnh cao của tài năng thì sẽ đón một văn bản bằng cách đo lời văn của nó, và điều ấy về sau thành trung tâm của cách Hồi Giáo nói về Kinh Qur'an.
Mecca, thành phố của buôn bán và của đền thiêng
Mecca nằm trên trục đường lạc đà nối Yemen với vùng Syria, và bộ tộc Quraysh nắm việc thương mại ở đó. Giữa thành phố có một khối nhà hình hộp gọi là كعبة, phiên âm ka'ba, nghĩa đen là khối lập phương. Theo ghi chép truyền thống, trước khi có Hồi Giáo thì nơi này đặt tượng thần của nhiều bộ tộc, và mỗi mùa hành hương lại kéo người cùng hàng hóa về thành phố: đền thiêng và chợ búa dựa vào nhau.
Trong bối cảnh ấy đã có sẵn khái niệm về một vị thần tối cao mang tên الله, phiên âm Allah, vốn chỉ là chữ Ả Rập ghép từ mạo từ al và chữ ilah nghĩa là thần, tức là Thượng Đế viết hoa. Điểm mới mà lời rao giảng đưa vào không phải cái tên ấy, mà là mệnh đề rằng ngoài vị ấy ra thì không có vị nào khác. Mệnh đề ấy đụng thẳng vào trật tự đang có, cả về niềm tin lẫn về nguồn thu của thành phố.
IIIMuhammad, Vị Sứ Giả Theo Giáo Nghĩa
Trước khi vào mục này cần nói rõ một quy ước mà thư viện giữ nghiêm. Hồi Giáo cấm tạo hình người trong phạm vi tôn giáo, và cấm ngặt nhất là tạo hình vị sứ giả. Vì vậy trang này không mô tả diện mạo, không dựng chân dung, không gợi hình ảnh nào để người đọc hình dung khuôn mặt. Đây vừa là luật của thư viện vừa là điều chính đạo ấy dạy.
Hồi Giáo tuyên xưng Muhammad là người được Thượng Đế chọn làm sứ giả, và là vị cuối cùng trong chuỗi các sứ giả mà đạo tin đã được sai đến với loài người từ Adam trở đi, trong đó có Nuh, Ibrahim, Musa và Isa, tức Noah, Abraham, Moses và Jesus theo cách gọi quen ở Việt Nam. Đạo tuyên xưng rằng từ năm 610, khi ông đang ẩn mình trong một hang trên núi gần Mecca, lời của Thượng Đế bắt đầu được truyền xuống qua thiên sứ Jibril, và việc ấy kéo dài chừng hai mươi ba năm cho tới khi ông qua đời. Đạo tuyên xưng ông là con người, không phải thần, không phải con của Thượng Đế, không được thờ phượng. Vai trò của ông là truyền lại nguyên văn lời được giao, và nếp sống của ông là khuôn mẫu để tín đồ noi theo.
Theo trình thuật truyền thống, ông sinh tại Mecca quãng năm 570, mồ côi sớm, lớn lên làm nghề buôn và kết hôn với bà Khadija. Từ năm 610 ông bắt đầu rao giảng và gặp sự chống đối từ giới cầm đầu Mecca. Năm 622, ông cùng những người theo mình rời Mecca lên Yathrib, thành phố về sau mang tên Medina. Cuộc di cư ấy gọi là هجرة, phiên âm hijra, và chính nó, chứ không phải năm sinh của ông hay năm mặc khải đầu tiên, được lấy làm mốc năm thứ nhất của lịch Hồi Giáo. Tại Medina, cộng đồng mới lần đầu có hình dáng của một tập thể tự quản, và đây là chỗ nhiều quy định về thờ phượng, gia đình, thừa kế và quan hệ với các nhóm dân khác được định hình. Năm 630 Mecca quy thuận, và theo trình thuật truyền thống thì các tượng thần trong Kaaba được dọn đi. Ông qua đời tại Medina năm 632.
Giới nghiên cứu nhận rằng có một nhân vật lịch sử tên Muhammad hoạt động ở vùng Hejaz đầu thế kỷ 7, và các mốc lớn như cuộc di cư năm 622 cùng việc ông qua đời quãng năm 632 nằm trong phần ít bị tranh cãi. Chỗ khó nằm ở nguồn: bộ tiểu sử xưa nhất còn giữ được là bản của Ibn Ishaq, mất quãng năm 767, mà nay chỉ còn qua bản hiệu đính của Ibn Hisham, mất quãng năm 833, tức được viết xuống chừng một trăm rưỡi tới hai trăm năm sau các sự kiện, nên nhiều nhà nghiên cứu xử lý các chi tiết đời tư trong đó một cách dè dặt.
Có vài nguồn ngoài Hồi Giáo ra đời rất sớm, chẳng hạn một văn bản Hy Lạp thường gọi là Doctrina Jacobi, soạn quãng thập niên 630, nhắc tới một vị ngôn sứ xuất hiện trong người Ả Rập. Những mảnh ấy chứng thực được rằng phong trào có thật và được người ngoài biết tới ngay từ thời điểm ấy, chứ không thay thế được một bộ tiểu sử. Mức chắc chắn xếp ba bậc: gần như không ai cãi việc có nhân vật lịch sử ấy và có một cộng đồng hình thành quanh ông, còn tranh luận là niên biểu chi tiết, và nằm ngoài tầm sử học là bản chất của mặc khải.
Chỗ hay lầm là tưởng rằng một đạo đặt người sáng lập ở vị trí trung tâm thì tất phải thờ người ấy. Hồi Giáo không thờ Muhammad, và việc gọi đạo này là đạo của Muhammad theo lối đặt tên các đạo khác bị chính tín đồ xem là sai. Trong lời tuyên xưng đức tin, ông được nhắc tới đúng một lần và đúng với một tư cách: sứ giả. Cách cư xử đúng theo giáo nghĩa là noi theo nếp sống của ông, không phải dâng lễ cho ông.
IVDòng Thời Gian Một Nghìn Bốn Trăm Năm
Càng lùi xa thì biên độ niên đại càng rộng, và chỗ nào các nguồn ghi khác nhau thì chúng tôi ghi thẳng. Cần lưu ý lịch Hồi Giáo đếm năm theo trăng, nên một năm Hijri không trùng khít với một năm dương lịch.
- Khoảng 570Muhammad sinh tại MeccaNiên đại theo trình thuật truyền thống. Các nguồn hiện đại thường ghi là khoảng chứ không ghi một năm dứt khoát.
- 610Mặc khải đầu tiênTheo giáo nghĩa, lời đầu tiên được truyền xuống trong một hang trên núi gần Mecca, mở đầu quá trình kéo dài chừng hai mươi ba năm.
- 622Hijra, năm thứ nhất của lịch HồiCuộc di cư từ Mecca lên Medina. Lịch không lấy năm sinh của người sáng lập cũng không lấy năm mặc khải đầu tiên, mà lấy năm cộng đồng bắt đầu sống thành một tập thể.
- Khoảng 624Hướng cầu nguyện đổi về MeccaThời gian đầu ở Medina thì hướng cầu nguyện là về Jerusalem, sau đó đổi về Kaaba và cố định từ đó tới nay.
- 630 tới 632Mecca quy thuận, rồi Muhammad qua đờiNăm 630 cộng đồng trở về Mecca gần như không giao tranh. Năm 632 ông mất tại Medina, và việc ai kế tục vai trò lãnh đạo thành câu hỏi lớn nhất, về lâu dài dẫn tới hai dòng Sunni và Shia.
- 632 tới 661Bốn vị Khalifa đầu tiênLần lượt là Abu Bakr, Umar, Uthman và Ali ibn Abi Talib. Người Sunni gọi bốn vị này là những vị được dẫn dắt đúng đường. Người Shia xem Ali là người đáng lẽ kế vị ngay từ đầu.
- Khoảng 650Bản Kinh Qur'an chuẩn thời UthmanViệc thu thập khởi từ thời Abu Bakr, do ông Zayd ibn Thabit đảm nhiệm, rồi tới thời Uthman thì một bản chuẩn được sao gửi đi các trung tâm lớn. Các nguồn ghi số bản sao từ bốn tới tám, phần đông nghiêng về sáu.
- 680Biến cố KarbalaTại Karbala thuộc Iraq ngày nay, ông Husayn, cháu ngoại của Muhammad, cùng nhóm người đi theo bị giết trong một cuộc giao tranh. Với người Shia, đây là biến cố được tưởng niệm vào ngày Ashura.
- 661 tới 1258Thời Umayyad rồi AbbasidTrung tâm chuyển từ Damascus sang Baghdad từ năm 762. Các ngành học thuật Hồi Giáo định hình trong giai đoạn này, cùng với việc dịch các công trình Hy Lạp, Ba Tư và Ấn Độ.
- Thế kỷ 9Các bộ Hadith lớn và bốn trường phái luậtÔng al-Bukhari, mất năm 870, và ông Muslim ibn al-Hajjaj, mất quãng 875, soạn hai bộ sưu tập được giới Sunni xếp cao nhất. Cùng thời kỳ, bốn trường phái luật Sunni thành hình.
- Thế kỷ 11 tới 13Sufi thành các dòng tu có tổ chứcÔng al-Ghazali, sống 1058 tới 1111, hòa giải luật học với đời sống nội tâm. Các dòng tu Sufi gọi là tariqa lần lượt hình thành. Nhà thơ Rumi sống 1207 tới 1273.
- Thế kỷ 13 tới 17Islam vào Đông Nam Á bằng đường biểnĐạo theo thương nhân và thầy giảng đi theo tuyến biển qua bắc đảo Sumatra, eo Malacca rồi lan sang quần đảo, và đó là con đường mà phần lớn cộng đồng Hồi Giáo trong vùng gắn với. Sang thế kỷ 19, nhiều nhóm người Chăm từ Campuchia trở về định cư dọc sông Hậu vùng Châu Đốc, gốc của cộng đồng Chăm Islam ở Tây Nam Bộ.
- 1992 tới 2013Bảy tổ chức tại Việt Nam được công nhậnTừ Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh năm 1992 tới Ban Quản trị Thánh đường Al-Noor tại Hà Nội năm 2013. Danh sách đầy đủ nằm ở mục Tại Việt Nam.
VKinh Qur'an, Hadith Và Sunnah
Kho sách của Hồi Giáo có một đặc điểm khác hẳn các đạo lớn khác: phần trung tâm của nó rất mỏng. Chỉ có một quyển được xếp vào hàng lời của Thượng Đế, đó là القرآن, phiên âm al-Qur'an, nghĩa đen là sự đọc lên. Mọi thứ còn lại, dù đồ sộ đến đâu, đều thuộc hàng thứ hai.
Hồi Giáo tuyên xưng Kinh Qur'an là lời của Thượng Đế truyền xuống nguyên văn bằng tiếng Ả Rập, không phải lời của Muhammad. Vì lẽ ấy, bản tiếng Ả Rập mới là Kinh Qur'an, còn mọi bản chuyển sang ngôn ngữ khác đều gọi là bản dịch nghĩa. Đạo cũng tuyên xưng rằng văn bản này được gìn giữ nguyên vẹn, và mỗi thế hệ đều có những người thuộc lòng trọn bộ, gọi là hafiz. Việc học thuộc lòng vì thế là một cơ chế lưu giữ đã chạy liên tục suốt mười bốn thế kỷ.
Hình dáng của văn bản
Kinh Qur'an gồm 114 chương, gọi là sura, chia thành các câu gọi là aya. Bản thông dụng nhất, theo lối đọc Hafs, có 6.236 câu. Con số câu thay đổi đôi chút giữa các lối đếm, chủ yếu vì có đếm hay không đếm câu mở đầu của mỗi chương, nên gặp một con số hơi khác trong sách khác thì không phải mâu thuẫn mà là khác quy ước đếm.
Các chương xếp đại thể theo độ dài giảm dần chứ không theo thứ tự thời gian truyền xuống, và được chia làm hai loại theo nơi truyền xuống: chương Mecca thường ngắn, nhịp gấp, nói nhiều về sự duy nhất của Thượng Đế và ngày phán xét, còn chương Medina dài hơn, nói nhiều về nếp sống cộng đồng, gia đình và giao ước. Để tiện đọc trọn trong một tháng, toàn bộ chia làm 30 phần gọi là juz.
Trình tự thu thập được các nguồn truyền thống mô tả khá thống nhất: sau khi nhiều người thuộc lòng tử trận trong một trận đánh quãng năm 633, ông Abu Bakr giao việc chép lại cho ông Zayd ibn Thabit. Tới thời ông Uthman, khi cộng đồng đã trải rộng và có tin về khác biệt trong cách đọc, một bản chuẩn được lập rồi sao gửi đi các trung tâm lớn, quãng giữa thế kỷ 7.
Bằng chứng vật chất sớm nhất mà giới nghiên cứu hay dẫn là hai tờ da thuộc lưu tại Đại học Birmingham bên Anh, chép một phần các chương 18 tới 20 bằng lối chữ Hijazi. Kết quả đo phóng xạ carbon công bố năm 2015 cho khoảng niên đại của tấm da là từ năm 568 tới năm 645, với độ tin cậy 95,4 phần trăm. Cần nói rõ phép đo ấy xác định niên đại của vật liệu chứ không phải của nét mực. Dù vậy, cùng với các mảnh tìm được ở Sanaa bên Yemen, nó cho thấy văn bản đã ở dạng viết từ rất gần với thời điểm khởi đầu.
Hadith và Sunnah, hai chữ hay bị dùng lẫn
سنة, phiên âm sunna, là nếp sống của Muhammad, tức những gì ông đã làm, đã nói và đã chấp thuận, hiểu như một khuôn mẫu. حديث, phiên âm hadith, là bản tường thuật ghi lại một mẩu của nếp sống ấy. Sunnah là nội dung, còn Hadith là phương tiện chuyển tải nội dung ấy tới đời sau.
Vì mỗi bản tường thuật đi qua nhiều miệng người trước khi được chép, các học giả Hồi Giáo đã dựng cả một ngành riêng để thẩm định. Mỗi hadith gồm hai phần: chuỗi người truyền gọi là isnad, và phần nội dung gọi là matn. Ngành này xếp hạng từng bản tường thuật theo thang nhiều bậc, từ loại được coi là vững cho tới loại bị coi là bịa đặt, dựa trên việc từng người trong chuỗi truyền có thật hay không và có gặp được người liền trước hay không.
| Khối văn bản | Vị trí trong đạo | Quy mô và niên đại | Ai dùng làm chuẩn |
|---|---|---|---|
| Kinh Qur'an | Lời của Thượng Đế theo giáo nghĩa, hàng cao nhất | Tiếng Ả Rập, 114 chương, bản Hafs có 6.236 câu, chia 30 phần để tụng | Cả Sunni lẫn Shia |
| Sáu bộ Hadith của Sunni | Hàng thứ hai, dùng để hiểu và áp dụng Kinh Qur'an | Hai bộ đứng đầu là của al-Bukhari mất năm 870 và của Muslim ibn al-Hajjaj mất quãng 875, cùng bốn bộ Sunan | Các trường phái Sunni |
| Bốn bộ sách của Shia dòng Mười Hai | Hàng thứ hai, gồm cả lời truyền từ các vị Imam | Bộ al-Kafi của al-Kulayni mất quãng 941, cùng ba bộ của al-Saduq và al-Tusi thế kỷ 10 và 11 | Shia dòng Mười Hai |
VIGiáo Nghĩa Cốt Lõi
Giáo nghĩa Hồi Giáo có thể trình bày theo một trật tự rất gọn: một mệnh đề nền, sáu điều phải tin, năm việc phải làm. Mục này đi theo trật tự ấy, vì đó cũng là cách chính đạo ấy dạy trẻ con từ nhỏ.
Tawhid, chỗ cốt lõi nhất
توحيد, phiên âm tawhid, là danh từ rút từ động từ mang nghĩa làm cho thành một. Hồi Giáo tuyên xưng rằng Thượng Đế là một, không có vị thứ hai, không sinh ra ai và không do ai sinh ra, không chia thành ngôi vị, không có hình dạng, không giống bất cứ vật gì trong tạo vật. Không gì có thể đặt ngang hàng với Thượng Đế, và việc đặt một thứ gì ngang hàng ấy gọi là shirk, được xếp là lỗi nặng nhất. Mọi tạo vật đều tùy thuộc vào Thượng Đế, còn Thượng Đế thì không tùy thuộc vào gì cả.
Mệnh đề này không dừng ở một câu tín lý. Từ tawhid suy ra chuyện không có ảnh tượng trong nơi thờ phượng, chuyện không có hàng giáo phẩm làm trung gian ban ơn, chuyện nghệ thuật của đạo dồn vào thư pháp và hoa văn hình học. Và cũng từ tawhid mà lời cầu nguyện không hướng về Muhammad, không hướng về một vị thánh, mà chỉ hướng về một nơi.
Sáu tín điều
Điều phải tin thường được liệt kê thành sáu mục. Đây là bản liệt kê quen thuộc trong giới Sunni, còn giới Shia sắp xếp danh mục theo một khung hơi khác.
Tin vào sự hiện hữu và sự duy nhất tuyệt đối của Thượng Đế cùng các phẩm tính mà Kinh Qur'an gán cho Ngài. Truyền thống kể tới chín mươi chín danh xưng đẹp.
Tin rằng có những tạo vật được dựng nên từ ánh sáng, làm nhiệm vụ theo lệnh của Thượng Đế. Được nhắc nhiều nhất là Jibril, vị mang lời mặc khải. Thiên sứ không được thờ.
Tin rằng trước Kinh Qur'an, Thượng Đế đã truyền xuống các sách khác, trong đó có Tawrat gắn với Moses, Zabur gắn với David và Injil gắn với Jesus.
Tin rằng Thượng Đế đã sai nhiều sứ giả tới các cộng đồng khác nhau qua các thời, tất cả đều mang cùng một thông điệp nền là thờ một Thượng Đế, và Muhammad là vị sau cùng.
Tin rằng có một ngày mọi người sống lại và được xét về việc mình đã làm. Chủ đề này chiếm phần rất lớn trong các chương thuộc giai đoạn Mecca.
Phiên âm là qadar. Tin rằng mọi sự xảy ra đều nằm trong sự biết và sự cho phép của Thượng Đế, đồng thời tin rằng con người vẫn chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Việc dung hòa hai vế này là đề tài tranh luận lâu dài giữa chính các trường phái thần học Hồi Giáo.
Trụ thứ nhất, lời tuyên xưng
شهادة, phiên âm shahada, nghĩa là lời chứng. Đây là một câu ngắn gồm hai vế: không có thần nào ngoài Thượng Đế, và Muhammad là sứ giả của Thượng Đế. Ai đọc câu ấy với lòng tin, trước mặt người chứng, thì được kể là đã vào đạo. Không có nghi thức rửa, không có bí tích, không cần một chức sắc chủ sự. Đây cũng là lời được đọc trong mỗi lần lễ nguyện, và là lời mà người sắp mất được nhắc để đọc lần cuối.
Trụ thứ hai, lễ nguyện năm lần mỗi ngày
صلاة, phiên âm salat, là lễ nguyện bắt buộc, làm năm lần trong một ngày đêm, vào các khung giờ định theo vị trí mặt trời: rạng đông, sau trưa, xế chiều, ngay sau hoàng hôn và buổi tối. Vì khung giờ định theo mặt trời nên giờ lễ đổi theo ngày và theo vĩ độ. Mỗi lần lễ gồm một số chu kỳ động tác cố định gọi là raka, trong đó có đứng, cúi, quỳ sát đất và ngồi, kèm những câu đọc bằng tiếng Ả Rập. Trước khi lễ phải làm phép tẩy rửa bằng nước gọi là وضوء, phiên âm wudu, rửa tay, súc miệng, rửa mặt, rửa cánh tay, xoa đầu và rửa chân, và nếu không có nước thì có phép thay bằng đất sạch. Lễ làm được ở bất cứ chỗ nào sạch, trừ lễ trưa ngày thứ Sáu là lễ tập trung có bài giảng.
Trụ thứ ba, phần trích ra cho người thiếu
زكاة, phiên âm zakat, thường dịch là bố thí bắt buộc, nhưng chữ gốc mang nghĩa làm cho sạch và làm cho tăng trưởng. Đây không phải quyên góp tùy tâm mà là một nghĩa vụ có tỷ lệ tính được: thông lệ phổ biến nhất là trích một phần bốn mươi, tức 2,5 phần trăm, trên phần của cải tích lũy vượt một ngưỡng tối thiểu và đã giữ đủ một năm trăng. Điểm cần chú ý là zakat đánh trên của cải đang nằm yên chứ không đánh trên thu nhập, nên nó có tác dụng đẩy của cải ra khỏi chỗ tích trữ. Kinh Qur'an nêu các nhóm được nhận, trong đó có người nghèo, người mắc nợ và người đi đường lỡ bước. Bố thí tự nguyện ngoài mức bắt buộc thì gọi là sadaqa.
Trụ thứ tư, tháng chay Ramadan
صوم, phiên âm sawm, là giữ chay trong tháng thứ chín của lịch Hồi, tức tháng رمضان, phiên âm Ramadan. Suốt tháng ấy, từ lúc rạng đông cho tới lúc mặt trời lặn, người giữ chay không ăn, không uống, không hút và kiêng quan hệ vợ chồng.
Bổn phận này không áp cho mọi người. Các nhóm được miễn gồm trẻ chưa tới tuổi, người bệnh, người già yếu, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, phụ nữ trong kỳ kinh và người đang đi đường xa. Ai thuộc diện tạm miễn thì giữ bù sau, còn ai không thể giữ được nữa thì có phép chuộc bằng việc nuôi người thiếu ăn. Ramadan không chỉ là kiêng ăn: tháng này gắn với việc đọc trọn Kinh Qur'an, lễ nguyện ban đêm, bố thí nhiều hơn thường lệ, và bữa ăn chung của cả xóm sau hoàng hôn. Tháng kết thúc bằng lễ Eid al-Fitr.
Trụ thứ năm, hành hương về Mecca
حج, phiên âm hajj, là cuộc hành hương về Mecca trong tháng thứ mười hai của lịch Hồi. Đây là trụ cột duy nhất có điều kiện đi kèm: chỉ buộc với người đủ sức khỏe và đủ khả năng tài chính, và chỉ buộc một lần trong đời. Ai không đủ điều kiện thì không mang lỗi.
Người hành hương bỏ y phục thường ngày, đàn ông mặc hai mảnh vải trắng không khâu, đàn bà mặc áo thường kín đáo, và trong tình trạng ấy thì mọi dấu hiệu phân biệt giàu nghèo và địa vị đều biến mất. Các nghi thức trải qua nhiều ngày, gồm đi vòng quanh Kaaba bảy lần, đi lại giữa hai gò Safa và Marwa, đứng cả buổi chiều tại đồng Arafat, ném đá tượng trưng tại Mina và lễ hiến sinh trùng ngày Eid al-Adha. Cuộc hành hương nhỏ, làm được lúc nào trong năm cũng được, gọi là umrah và không thay thế được hajj. Theo Tổng cục Thống kê Ả Rập Xê Út, mùa hajj năm 1446 theo lịch Hồi, tức năm 2025, có 1.673.230 người hành hương.
Luật, và cách phân loại hành vi thành năm bậc
Hồi Giáo xếp việc đạo và việc đời trong cùng một khung, gọi là sharia, chữ gốc nghĩa đen là con đường dẫn tới nguồn nước. Sharia là tập hợp nguyên tắc rút từ Kinh Qur'an và Sunnah chứ không phải một quyển sách luật, còn việc diễn giải và áp dụng nó gọi là fiqh, tức luật học, và fiqh là sản phẩm của con người nên có nhiều trường phái.
Điểm dễ bị bỏ qua là cách phân loại hành vi. Luật học Hồi Giáo không chia hành vi làm hai loại được phép và bị cấm, mà chia làm năm bậc: bắt buộc, khuyến khích, để tùy, không khuyến khích, và bị cấm. Phần lớn hành vi thường ngày nằm ở bậc giữa, và cách phân loại này giải thích vì sao trong cùng một cộng đồng vẫn có người giữ nghiêm và người giữ rộng mà cả hai đều tự thấy mình ở trong khuôn. Về ăn uống, thức được phép gọi là halal, thức bị cấm gọi là haram, cấm rõ nhất là thịt lợn, máu, con vật chết không qua giết mổ đúng cách, và rượu cùng các chất làm say. Luật còn cấm cho vay lấy lãi, gọi là riba, gốc của cả một ngành tài chính riêng vận hành theo nguyên tắc chia lời chia lỗ.
Nhiều người nghe nói Hồi Giáo không có hàng giáo phẩm rồi suy ra rằng đạo này không có người lãnh đạo tôn giáo. Không phải vậy: đạo có chức trách nhưng không có chức thánh. Người đứng trước dẫn lễ gọi là imam, nghĩa đen là người đứng phía trước, và về nguyên tắc bất cứ người nam trưởng thành nào thuộc đủ phần kinh cần đọc đều có thể làm. Người học luật gọi là ulama, người có thẩm quyền đưa ra ý kiến pháp lý gọi là mufti. Các vị ấy có uy tín nhờ học vấn và nhờ cộng đồng thừa nhận, chứ không nhờ một nghi thức phong chức truyền lại quyền thiêng.
VIILịch, Ngày Lễ Và Nghi Thức Đời Người
Lịch Hồi Giáo, gọi là lịch Hijri, có mười hai tháng tính theo tuần trăng, mỗi năm dài 354 hoặc 355 ngày, và điểm khác biệt quyết định là nó không có tháng nhuận. Âm lịch mà người Việt dùng là âm dương lịch, cứ vài năm lại chèn thêm một tháng nhuận để kéo các tháng trở về đúng mùa, nhờ vậy Tết Nguyên Đán năm nào cũng rơi vào cuối đông đầu xuân. Lịch Hijri không làm thế.
Hệ quả là mỗi năm dương lịch, các ngày lễ Hồi Giáo lùi sớm chừng mười tới mười hai ngày, và sau khoảng ba mươi ba năm thì đi trọn một vòng qua đủ bốn mùa. Một người Hồi Giáo sống đủ lâu sẽ giữ chay Ramadan vào giữa mùa đông ngày ngắn, rồi vài chục năm sau giữ chay vào giữa mùa hè ngày rất dài. Đây là lựa chọn có chủ ý, để không ngày lễ nào bị buộc chặt vào một mùa nào. Năm 1448 theo lịch Hijri bắt đầu vào khoảng ngày 17 tháng Sáu năm 2026. Việc xác định đầu tháng theo truyền thống dựa vào việc nhìn thấy trăng lưỡi liềm non sau hoàng hôn ngày thứ hai mươi chín, nên các cộng đồng ở các vùng khác nhau đôi khi vào tháng lệch nhau một ngày.
Hai ngày lễ lớn
Hồi Giáo chỉ có hai ngày lễ được cả đạo công nhận, ít hơn hẳn so với các đạo lớn khác. Eid al-Fitr là lễ xả chay, rơi vào mồng một tháng thứ mười, ngay sau khi Ramadan kết thúc, và trước lễ thì mỗi người phải nộp một khoản bố thí nhỏ để người nghèo cũng có cái ăn trong ngày lễ. Eid al-Adha là lễ hiến sinh, rơi vào ngày mồng mười tháng thứ mười hai, trùng với những ngày cuối của mùa hành hương, và gắn với trình thuật về ông Ibrahim sẵn lòng vâng lệnh Thượng Đế. Thịt con vật hiến sinh theo tục lệ chia làm ba phần, một phần cho nhà mình, một phần cho họ hàng và một phần cho người nghèo. Ngoài hai lễ ấy còn có những ngày được giữ ở mức độ khác nhau tùy vùng và tùy dòng, chẳng hạn ngày đầu năm Hijri, hay ngày Ashura mồng mười tháng Muharram mà người Shia tưởng niệm biến cố Karbala.
Nghi thức đời người
Khi một đứa trẻ ra đời, tục lệ nhiều nơi là đọc lời gọi lễ vào tai bé, rồi tới ngày thứ bảy thì làm lễ đặt tên, cắt tóc và mổ con vật để chia thịt. Lễ cưới là một giao ước, cần lời ưng thuận của hai bên, người chứng và khoản của hồi môn mà nhà trai trao cho chính cô dâu chứ không trao cho nhà gái. Về tang lễ, nguyên tắc là nhanh và giản dị: thi hài được tắm rửa, quấn vải trắng không may, làm lễ cầu nguyện rồi chôn, thường trong vòng một ngày, không hỏa táng, đặt nghiêng quay mặt về hướng Mecca, và truyền thống khuyên không xây mộ cao. Lối chôn cất ấy là lý do nghĩa trang Hồi Giáo nhìn rất khác nghĩa trang của người Việt theo các tín ngưỡng khác.
VIIIThánh Đường Và Hướng Qibla
Nơi thờ phượng gọi là مسجد, phiên âm masjid, nghĩa đen là chỗ quỳ sát đất. Chữ mosque trong các thứ tiếng châu Âu là biến âm của chữ ấy, còn tiếng Việt gọi là thánh đường. Điểm đầu tiên cần nắm là thánh đường Hồi Giáo không phải một nơi có vật thiêng bên trong. Nó không chứa tượng, không chứa hài cốt thánh, không có gian cung thánh mà chỉ người có chức mới được vào. Về bản chất nó là một khoảng trống sạch sẽ, đủ rộng, quay đúng hướng, để người ta xếp hàng và quỳ.
Qibla, cái hướng do toán học quyết định
قبلة, phiên âm qibla, là hướng cầu nguyện, và nó chỉ về đúng một điểm trên mặt đất: Kaaba trong thánh đường lớn tại Mecca. Không phải hướng đông, không phải hướng nam, không phải hướng hợp tuổi gia chủ, mà là hướng của cung đường ngắn nhất trên mặt cầu nối chỗ đang đứng với một tọa độ cụ thể.
Việc tính hướng ấy là một bài toán lượng giác cầu, và chính nhu cầu này đã thúc đẩy thiên văn học Hồi Giáo thời trung đại: từ thế kỷ 9 trở đi, các nhà toán học như al-Khwarizmi rồi al-Biruni đã lập bảng tính hướng qibla cho nhiều thành phố. Ở Việt Nam, hướng qibla chếch về tây bắc chứ không phải chính tây, vì cung đường ngắn nhất trên mặt cầu không trùng với đường thẳng trên bản đồ phẳng. Người đứng trong một thánh đường ở An Giang và thấy mình quay về tây bắc thì đó không phải nhầm lẫn.
Bốn thứ luôn có mặt
محراب, một hốc lõm vào tường, chỉ hướng qibla. Đây là điểm duy nhất mà toàn bộ hình khối kiến trúc quy về. Mihrab không phải bàn thờ và không có gì đặt trong đó, chức năng của nó là chỉ hướng và khuếch đại tiếng người dẫn lễ.
منبر, bục giảng có bậc thang, đặt bên phải mihrab, dùng cho bài giảng trưa thứ Sáu. Theo tục lệ, người giảng không đứng lên bậc trên cùng, vì bậc ấy được để trống theo lối tưởng niệm.
Tiếng Việt quen gọi là minaret. Tiếng Ả Rập có mấy chữ khác nhau mà thư viện chưa kiểm được nguyên tự nên chỉ ghi phiên âm là manara hoặc mi'dhana. Đây là nơi cất tiếng gọi lễ năm lần mỗi ngày. Tháp không phải thành phần bắt buộc, nhiều thánh đường nhỏ không có tháp.
Một sân trong hoặc một dãy vòi nước có chỗ ngồi, dùng cho phép tẩy rửa وضوء trước khi vào lễ. Ở các thánh đường lớn thời xưa đây là một bể nước giữa sân, vừa dùng được vừa làm dịu không khí trong vùng khí hậu nóng.
Trang trí không có hình sống
Vì tawhid loại trừ mọi khả năng thờ hình, nghệ thuật thánh đường đi theo ba hướng không tạo ra hình người hay hình thú: thư pháp chép các câu Kinh Qur'an, hoa văn hình học dựng từ các đa giác lồng nhau, và hoa lá cách điệu theo lối arabesque. Ba hướng ấy là một lối nói bằng hình về chính mệnh đề nền: cái vô hạn không thể vẽ ra, chỉ có thể gợi bằng một mẫu hình lặp lại mãi mà không khép lại.
Hoa văn Rub el Hizb, tiếng Ả Rập là ربع الحزب, là một trong các mô típ ấy. Đó là ngôi sao tám cánh do hai hình vuông chồng lệch nhau tạo thành, có mã Unicode riêng là U+06DE. Công dụng gốc của nó rất khiêm tốn: Kinh Qur'an được chia làm sáu mươi phần gọi là hizb, mỗi hizb lại chia làm bốn, và dấu này in bên lề để người tụng biết mình đang ở đâu. Từ một dấu chia trang, nó đi vào trang trí kiến trúc và vào cả đồ án của những công trình rất lớn thời nay.
Thư viện dùng hoa văn hình học Rub el Hizb làm ấn ký cho trang Hồi Giáo, chứ không dùng hình trăng lưỡi liềm. Trăng lưỡi liềm kèm ngôi sao không có gốc trong Kinh Qur'an, không gắn với thời kỳ khởi đầu của đạo, mà là huy hiệu nhà nước được đế quốc Ottoman dùng từ cuối thế kỷ 18 rồi thành cờ chính thức năm 1844, và chính nhiều học giả cùng nhiều tín đồ bác bỏ nó. Trong khi đó Rub el Hizb là mô típ sinh ra từ bên trong truyền thống, gắn thẳng với việc tụng kinh. Mục cuối trang nói kỹ hơn về chỗ này.
IXSunni, Shia, Bốn Trường Phái Luật Và Chiều Sufi
Mục này là chỗ dễ viết sai nhất của một trang về Hồi Giáo. Câu hỏi làm hai dòng lớn tách nhau là một câu hỏi lịch sử về người kế vị, và mỗi bên có cách đọc riêng về cùng một chuỗi sự kiện. Thư viện ghi lại hai cách đọc ấy như hai cách đọc, không xét bên nào đúng, không dùng chữ nào hàm ý một bên là chính và bên kia là phụ.
Câu hỏi năm 632
Khi Muhammad qua đời năm 632, ông không để lại một chỉ dẫn mà toàn thể cộng đồng hiểu giống nhau về việc ai sẽ tiếp tục dẫn dắt. Từ đó hình thành hai cách hiểu.
Cách hiểu thứ nhất cho rằng vai trò lãnh đạo cộng đồng là một chức vụ mà cộng đồng chọn người xứng đáng trong hàng những người thân cận, và trên thực tế thì ông Abu Bakr đã được chọn ngay sau đó. Những người theo cách hiểu này về sau được gọi là Sunni, chữ rút từ ahl al-sunna, nghĩa là những người theo nếp sống truyền lại. Cách hiểu thứ hai cho rằng vai trò ấy đã được chỉ định và thuộc về ông Ali ibn Abi Talib, em họ đồng thời là con rể của Muhammad, và sau ông thì thuộc về dòng dõi của ông. Những người theo cách hiểu này được gọi là Shia, chữ rút từ shiat Ali, nghĩa là phe của Ali, và với họ, người lãnh đạo tinh thần gọi là Imam viết hoa, một chức vị được chỉ định chứ không do bầu chọn.
Ông Ali về sau trở thành vị Khalifa thứ tư, từ năm 656 tới năm 661, và biến cố Karbala năm 680 làm sự phân định giữa hai cách hiểu sâu hơn. Cần nhấn mạnh rằng hai dòng không khác nhau ở phần nền: cùng một Kinh Qur'an, cùng tawhid, cùng năm trụ cột với vài khác biệt trong chi tiết thực hành, cùng hướng qibla. Chỗ khác nằm ở quyền lãnh đạo, ở bộ sưu tập Hadith được nhận, và ở một số nghi thức tưởng niệm.
| Dòng | Tỷ lệ ước tính | Nhánh chính | Nét nhận ra |
|---|---|---|---|
| Sunni | Khoảng 87 tới 90 phần trăm tín đồ toàn cầu | Chia theo bốn trường phái luật Hanafi, Maliki, Shafi'i và Hanbali | Nhận sáu bộ Hadith lớn. Người dẫn lễ do cộng đồng chọn. Không có hàng phẩm trật tập trung. |
| Shia | Khoảng 10 tới 13 phần trăm, tức quãng 154 tới 200 triệu người theo ước tính năm 2009 | Dòng Mười Hai đông nhất, ngoài ra có Ismaili và Zaydi | Nhận bốn bộ sách riêng. Có hệ thống học giả tập trung hơn. Ngày Ashura là dịp tưởng niệm lớn. |
Bốn trường phái luật của Sunni
Trong dòng Sunni, việc chia nhánh không diễn ra ở phần tín lý mà ở phần phương pháp luật học. Bốn trường phái, gọi là madhhab, hình thành trong thế kỷ 8 và 9 quanh tên bốn vị luật gia lớn, và chúng công nhận lẫn nhau. Một người có thể theo trường phái này ở quê mình rồi theo trường phái khác khi chuyển đi nơi khác mà không bị xem là đổi đạo.
Gọi theo tên ông Abu Hanifa, mất quãng năm 767 tại Kufa. Được theo rộng nhất tính theo số người, phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Á, Nam Á và vùng Balkan. Dành chỗ rộng cho lập luận suy xét.
Gọi theo tên ông Malik ibn Anas, mất quãng năm 795 tại Medina. Phổ biến ở Bắc Phi và Tây Phi. Coi trọng tập quán của cư dân Medina như một chứng cứ sống về nếp sống thời đầu.
Gọi theo tên ông al-Shafi'i, mất quãng năm 820, người được xem là đã hệ thống hóa phương pháp luật học Hồi Giáo. Phổ biến ở Đông Phi, Yemen và phần lớn Đông Nam Á, trong đó có cộng đồng Chăm Islam ở Việt Nam.
Gọi theo tên ông Ahmad ibn Hanbal, mất quãng năm 855. Ít người theo nhất trong bốn, tập trung chủ yếu ở bán đảo Ả Rập. Bám sát bản văn và dè dặt với lập luận suy xét.
Sufi không phải dòng thứ ba
Đây là chỗ hay bị xếp sai trong các bảng tóm tắt. Sufi không phải một dòng ngang hàng với Sunni và Shia, mà là chiều tu thân bên trong, có mặt trong cả hai dòng. Một người có thể vừa là Sunni theo trường phái Shafi'i vừa theo một dòng truyền Sufi, và điều ấy không mâu thuẫn.
Chữ Sufi thường được cho là rút từ suf, nghĩa là len thô, gợi tới lối áo vải thô của những người tu khổ hạnh thời đầu. Trọng tâm của chiều tu này là tinh luyện nội tâm, việc niệm danh Thượng Đế lặp đi lặp lại gọi là dhikr, và quan hệ thầy trò chặt chẽ trong một dòng truyền gọi là tariqa. Các dòng lớn gồm Qadiriyya, Naqshbandiyya, Chishtiyya và Mevlevi. Ông al-Ghazali, sống 1058 tới 1111, có công lớn trong việc đưa chiều tu này vào chỗ được luật học chính mạch chấp nhận, còn nhà thơ Rumi, sống 1207 tới 1273, là tên được đọc nhiều nhất ở ngoài thế giới Hồi Giáo. Cũng cần nói cho đủ: quan hệ giữa Sufi và các trường phái luật không phải lúc nào cũng êm, và đó là một cuộc tranh luận nội bộ kéo dài nhiều thế kỷ.
XSố Tín Đồ Ngày Nay
Theo Pew Research Center, trong báo cáo về biến động tôn giáo thế giới giai đoạn 2010 tới 2020 công bố ngày 9 tháng Sáu năm 2025, toàn cầu có khoảng 2,0 tỷ người Hồi Giáo vào năm 2020, bằng khoảng 26 phần trăm dân số thế giới. So với con số 1,7 tỷ và 24 phần trăm của năm 2010, đây là mức tăng 21 phần trăm, tức nhanh gấp đôi tốc độ tăng dân số toàn cầu trong cùng kỳ là 10 phần trăm, và là mức tăng cao nhất trong các nhóm tôn giáo lớn.
Về phân bố, 59 phần trăm tín đồ sống ở châu Á Thái Bình Dương, 20 phần trăm ở Trung Đông và Bắc Phi, 18 phần trăm ở vùng hạ Sahara. Một hệ quả đáng chú ý là người Ả Rập chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số tín đồ, và ba nước đông tín đồ nhất đều không phải nước Ả Rập. Nước đông nhất là Indonesia với khoảng 240 triệu người, bằng 12 phần trăm tổng số toàn cầu. Kế đó là Ấn Độ với 213 triệu, tương đương 15 phần trăm dân số nước này, và Pakistan với khoảng 212 triệu. Ba nước ấy cộng lại chiếm một phần ba tổng số toàn cầu, còn mười nước đông nhất cộng lại là 1,3 tỷ, tức 65 phần trăm.
Vì sao mọi con số đều là ước tính
Phép đếm ở đạo này dễ hơn ở các đạo thuộc vùng Đông Á, vì Hồi Giáo có ranh giới thành viên rõ và ít có chuyện một người theo hai đạo cùng lúc. Nhưng khó khăn vẫn còn ba chỗ. Thứ nhất, nhiều nước không hỏi về tôn giáo trong điều tra dân số, nên con số cho các nước ấy là ước lượng từ khảo sát mẫu hoặc suy ra từ gốc gác di dân, và sai số không nhỏ. Thứ hai, tự nhận và thực hành là hai chuyện. Một người khai mình là tín đồ có thể giữ đủ năm lần lễ mỗi ngày, cũng có thể chỉ giữ Ramadan và hai ngày lễ lớn, và mọi con số tín đồ đều đếm danh xưng chứ không đếm mức độ thực hành. Thứ ba, tỷ lệ giữa các dòng gần như không đếm được, vì rất ít nước ghi dòng Sunni hay Shia vào phiếu điều tra, nên con số 87 tới 90 phần trăm Sunni là một khoảng ước tính chứ không phải một phép đếm.
XITại Việt Nam
Hồi Giáo ở Việt Nam gắn gần như trọn vẹn với người Chăm, và đây là một trong những cộng đồng tôn giáo có tổ chức nhỏ nhất nhưng lâu đời nhất trên đất Việt. Mục này ghi ba thứ: đạo vào bằng đường nào, tổ chức nào được công nhận và vào năm nào, và có bao nhiêu tín đồ theo nguồn chính thức. Ngoài ba thứ ấy thư viện không bàn thêm.
Về niên đại đạo vào Champa, giới nghiên cứu có hai lối giải thích chưa hợp nhất được, nên thư viện ghi cả hai.
Lối thứ nhất đặt mốc rất sớm, quãng thế kỷ 10 tới 13. Các học giả người Pháp như E. Aymonier và P. Ravaisse dựa vào mấy bia mộ có chữ Ả Rập tìm được ở vùng Phan Rang, trong đó một tấm gắn với một người tên Abu Kamil và được đọc ra niên đại năm 1039, cùng vài ghi chép trong thư tịch Trung Hoa đời Tống. Lối đọc phản bác cho rằng những dấu vết ấy chỉ chứng minh có thương nhân Hồi Giáo ngoại quốc qua lại, chưa chứng minh có cộng đồng bản xứ theo đạo.
Lối thứ hai đặt mốc muộn hơn, quãng thế kỷ 15 tới 17. Lối này, được P.Y. Manguin và nhiều nhà nghiên cứu về sau nghiêng theo, cho rằng đạo chỉ thành cộng đồng bản xứ khi Champa giao lưu mạnh với thế giới Mã Lai, và thường dẫn việc vua Po Rome, trị vì quãng 1627 tới 1651, sang vùng Kelantan rồi kết hôn với một công chúa Mã Lai. Chứng cứ của lối này là chính diện mạo cộng đồng Chăm theo đạo: nghi thức, từ vựng và tập tục của họ gần với Hồi Giáo vùng Mã Lai hơn là với vùng Trung Đông.
Dù theo lối nào thì kết quả cũng giống nhau ở một điểm: cộng đồng Hồi Giáo trên đất Việt hình thành qua đường biển và đường thương mại, không qua chinh phục, và nó đi vào một xã hội Chăm đã có sẵn lớp tín ngưỡng bản địa cùng lớp ảnh hưởng Bà La Môn rất dày. Điều kiện ấy giải thích vì sao ở Việt Nam đạo này có hai diện mạo khác nhau đến thế.
Chăm Islam sống chủ yếu ở An Giang, ở Thành phố Hồ Chí Minh, ở Tây Ninh và rải rác thêm mấy tỉnh. Nhánh này thực hành theo Islam chính thống, giữ đủ năm trụ cột, đọc Kinh Qur'an bằng tiếng Ả Rập, theo trường phái luật Shafi'i, và có liên hệ thường xuyên với cộng đồng Hồi Giáo quốc tế. Gốc của cộng đồng ở Tây Nam Bộ phần lớn là những nhóm người Chăm từ Campuchia trở về định cư dọc sông Hậu vùng Châu Đốc từ thế kỷ 19. Chăm Bàni sống chủ yếu ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ, nay thuộc tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Lâm Đồng sau sắp xếp hành chính ngày 1 tháng Bảy năm 2025, và vì phần này dài nên thư viện tách hẳn thành mục riêng ngay sau đây.
Tổ chức được công nhận và số tín đồ
Tính tới tháng 6 năm 2025, có bảy tổ chức Hồi Giáo tại Việt Nam được Nhà nước công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động tôn giáo: Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992. Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo An Giang, năm 2004. Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bàni Ninh Thuận, năm 2007. Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Tây Ninh, năm 2010. Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bàni tỉnh Bình Thuận, năm 2012. Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh Ninh Thuận, năm 2012. Ban Quản trị Thánh đường Hồi giáo Al-Noor Thành phố Hà Nội, năm 2013.
Xin lưu ý một chỗ vênh nhỏ: một bài nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành ghi Hội đồng Sư cả Ninh Thuận thành lập năm 2006, trong khi tài liệu của cơ quan quản lý ghi năm công nhận là 2007. Có lẽ đây là chênh lệch giữa năm thành lập và năm được công nhận, nhưng thư viện chưa kiểm được văn bản gốc nên ghi cả hai.
| Nguồn | Năm số liệu | Tổng số tín đồ | Chi tiết |
|---|---|---|---|
| Ban Tôn giáo Chính phủ, trang giới thiệu bản cũ | Số liệu quãng 2009 | Trên 72.000 | 13 tỉnh thành, 79 cơ sở thờ tự gồm 40 thánh đường và 22 tiểu thánh đường của Chăm Islam cùng 17 nơi thờ tự của Chăm Bàni |
| Ban Tôn giáo Chính phủ, bài Khái quát Hồi giáo ở Việt Nam | Số liệu tính tới 2021 | Trên 80.000 | Chăm Bàni khoảng 50.000 với gần 30 cơ sở thờ tự, Chăm Islam khoảng 32.000 với trên 60 cơ sở ở 14 tỉnh thành, tổng cộng khoảng 90 cơ sở và gần 1.000 chức sắc chức việc |
| Số liệu chính thức dẫn lại trên báo VietNamNet ngày 20 tháng Bảy năm 2025 | Tính tới tháng 6 năm 2025 | Trên 92.000 | Hồi giáo Bàni trên 55.000, Hồi giáo Islam trên 37.000, khoảng 1.000 chức sắc chức việc và 89 cơ sở thờ tự |
Về cơ sở thờ tự chính, ở An Giang là thánh đường Mubarak tại xã Châu Phong bên bờ sông Hậu, dựng từ giữa thế kỷ 18 và xây lại năm 1965 theo thiết kế của kiến trúc sư Mohamet Amin, nay là di tích quốc gia. Ở Thành phố Hồ Chí Minh là Jamia Al Musulman trên đường Đông Du, dựng năm 1935 bởi cộng đồng người gốc Nam Á. Ở Hà Nội có thánh đường Al-Noor. Về phía Bàni, một trong những thánh đường lớn là thánh đường Bàni Văn Lâm ở xã Phước Nam, nay thuộc tỉnh Khánh Hòa.
XIIChăm Bàni, Một Hình Thái Riêng
Mục này viết riêng vì một lý do rất thực tế: nếu gộp chung hai nhánh vào một đoạn, người đọc sẽ hiểu sai cả hai. Xin nói trước nguyên tắc của thư viện ở đây. Bàni khác Islam chính thống, và sự khác ấy là điều quan sát được, ghi lại được. Nhưng thư viện không nói nhánh nào đúng hơn, thuần khiết hơn hay giữ đạo đầy đủ hơn. Đây là hai hình thái cùng lớn lên từ một gốc trong hai hoàn cảnh khác nhau, và mỗi hình thái có lịch sử riêng đủ dài để tự đứng.
Chữ Bàni được cho là rút từ chữ Ả Rập bani, nghĩa là con cháu. Trong hệ thống phân loại của chính người Chăm, cộng đồng theo Bàni còn được gọi là Chăm Awal, chữ awal nghĩa là trước hay đầu tiên, đặt trong thế đối với Chăm Ahiér, chữ ahiér nghĩa là sau, tức nhóm người Chăm theo Bà La Môn. Cách gọi cặp đôi ấy nói lên một điều quan trọng: hai nhóm không được người Chăm hình dung như hai tôn giáo cạnh tranh, mà như hai nửa của một chỉnh thể, phải có nhau mới đủ. Nhiều nghi lễ lớn của người Chăm cần cả hai bên chức sắc cùng có mặt mới làm được.
Thánh đường và chức sắc
Nơi thờ tự của người Chăm Bàni gọi là Sang Magik, có tài liệu ghi đầy đủ là Haluw Sang Magik, trong đó sang nghĩa là nhà còn magik là biến âm của masjid. Người Việt ở vùng ấy quen gọi là chùa Bàni, một cách gọi mượn chữ chùa của Phật Giáo nhưng không liên quan tới Phật Giáo, và đã thành tên gọi dân gian ổn định nên thư viện ghi lại.
Hàng chức sắc gọi chung là Acar, có nơi ghi là Achar hay Char. Đây là những người tu theo lối riêng của cộng đồng, mặc áo trắng, sống tách khỏi sinh hoạt thường ngày. Phẩm trật đi từ thấp lên cao gồm Acar, Katip, Imưm, và trên cùng là Po Gru, tiếng Việt gọi là Sư cả, người đứng đầu một thánh đường. Theo một nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành, số chức sắc ở Bình Thuận năm 2022 là 355 vị với 10 Sư cả và mười thánh đường, còn ở Ninh Thuận năm 2020 là 99 vị với 7 Sư cả và bảy thánh đường.
Tháng Ramưwan
Đây là chỗ khác biệt dễ thấy nhất và cũng hay bị hiểu sai nhất. Tháng chay của người Chăm Bàni gọi là Ramưwan, có nơi ghi là Ramưvan, biến âm từ chữ Ramadan. Nhưng cách giữ thì khác hẳn. Trong Islam chính thống, mọi tín đồ đủ điều kiện đều giữ chay trọn tháng. Trong Bàni, chỉ các vị Acar giữ chay trọn tháng, và họ vào ở luôn trong thánh đường suốt thời gian ấy để tịnh tâm và cầu nguyện, làm việc ấy thay mặt cho cả cộng đồng. Người dân thường không buộc phải kiêng khem như vậy. Đây là một cơ chế đại diện mà Islam chính thống không có, và nó là điểm phân biệt rõ nhất giữa hai nhánh.
Ramưwan cũng không chỉ là tháng chay. Nó mở đầu bằng lễ tảo mộ, kéo dài mấy ngày, cả dòng họ ra nghĩa trang dọn dẹp phần mộ tổ tiên và mời tổ tiên về, sau đó là lễ cúng tại nhà với mâm cỗ có cơm, cá khô, bánh tét, chè và trái cây. Tháng này gộp cả tháng chay của Hồi Giáo lẫn tục thờ cúng tổ tiên của người Chăm vào một khối, và đó là hình ảnh cô đọng nhất của cả nhánh Bàni.
Những chỗ khác nữa
Bàni dùng lịch Chăm, gọi là Sakawi, chứ không dùng thẳng lịch Hijri, nên ngày bắt đầu Ramưwan thường không trùng với ngày bắt đầu Ramadan của cộng đồng Hồi Giáo quốc tế, cũng không trùng với ngày của người Chăm Islam ở An Giang.
Các vị Acar đọc kinh theo lối truyền khẩu, dùng tiếng Ả Rập đã qua nhiều đời truyền lại trong cộng đồng, ghi bằng chữ Chăm cổ. Chăm Islam thì học và đọc Kinh Qur'an bằng tiếng Ả Rập theo chuẩn quốc tế.
Bên cạnh Thượng Đế, gọi trong tiếng Chăm là Po Awluah, tín ngưỡng Bàni còn dành chỗ cho các vị thần và vua thần của người Chăm, và một phần nghi lễ diễn ra ở các đền, lăng, dinh chứ không chỉ ở thánh đường.
Người Chăm Bàni và người Chăm Ahiér theo Bà La Môn sống xen kẽ, nhiều lễ cần chức sắc của cả hai bên cùng làm, điều không tìm thấy ở cộng đồng Hồi Giáo nào khác trong vùng.
Trong cộng đồng có nhiều cách tự gọi khác nhau, và việc chọn tên gọi nào cho đúng là một cuộc thảo luận nội bộ đang tiếp diễn. Thư viện dùng cách gọi Chăm Bàni vì đó là cách xuất hiện trong tài liệu của cơ quan quản lý và trong phần lớn tài liệu nghiên cứu tiếng Việt.
Xin nhắc lại điều đã nói ở đầu mục, vì đây là chỗ dễ trượt nhất khi viết về cộng đồng này. Việc liệt kê những chỗ Bàni khác Islam chính thống không phải một bản kiểm kê xem nhánh nào thiếu gì. Bàni đã là hình thái ổn định suốt nhiều thế kỷ trên vùng đất ấy, có hệ thống chức sắc riêng, có lịch riêng, có văn bản riêng, có tổ chức được công nhận tư cách pháp nhân, và có số tín đồ nhiều hơn nhánh kia theo cả ba lần công bố số liệu. Thư viện chọn mô tả, không chọn chấm điểm.
XIIITrong Con Mắt Phong Thủy
Mục này khó viết nhất của cả trang, nên xin nói điều quan trọng nhất trước.
Hồi Giáo không dạy phong thủy, và thánh đường Hồi Giáo có một quy tắc chọn hướng riêng loại trừ mọi quy tắc khác. Hướng của một ngôi thánh đường là hướng قبلة, tức qibla, chỉ về đúng một tọa độ trên mặt đất là Kaaba tại Mecca. Nó được tính bằng lượng giác cầu, tức bằng toán học và thiên văn, chứ không bằng thế đất, không bằng dòng nước, không bằng tuổi của người xây. Ở một khu đất, dù thế đất đẹp hay xấu theo bất cứ thước đo nào, mihrab vẫn phải quay đúng hướng ấy. Không có chỗ cho một phép chọn hướng thứ hai. Thư viện nêu điều đó trước tiên để không ai đọc mục này rồi hiểu rằng người Hồi Giáo nên xem phong thủy khi dựng thánh đường.
Giáo nghĩa Hồi Giáo cũng có lập trường rõ về việc bói toán: tìm biết trước tương lai bằng các phép đoán định bị xếp vào loại không được phép, vì nó đụng vào chính mệnh đề tawhid, rằng chỉ Thượng Đế biết cái chưa xảy ra. Vì vậy câu hỏi một người Hồi Giáo có nên đi xem hướng nhà theo lối cổ truyền hay không thuộc thẩm quyền của vị chức sắc trong cộng đồng người ấy, không thuộc một trang thư viện.
Vậy thì thư viện đọc cái gì
Thư viện Vạn Đạo Đường có một mục cố định dành cho con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, giữ nguyên ở mọi trang đạo. Công dụng của nó không phải để gán phong thủy cho đạo ấy, mà để người đọc Việt Nam vốn quen lối nhìn cổ truyền có một chỗ đối chiếu.
Đọc theo lối cổ truyền thì một ngôi thánh đường có ba nét dễ nhận. Một là nước đặt ở lối vào. Sân nước dùng cho phép wudu nằm ngay trước khi vào gian lễ, và trong các thánh đường lớn thời xưa đó là một bể nước giữa sân. Lối cổ truyền Việt Nam gọi thế minh đường tụ thủy, tức có nước tụ ở phía trước, là thế được chuộng. Chỗ giống nhau này không do vay mượn: cả hai bên đều đặt nước ở chỗ người ta đi qua, trong một vùng khí hậu nóng. Hai là trục dồn về một điểm. Toàn bộ gian lễ quy về mihrab, và lối cổ truyền Việt Nam cũng đọc công trình theo trục, khác ở chỗ trục của đình chùa Việt xét theo hướng địa bàn còn trục của thánh đường xét theo một tọa độ cách đó hàng nghìn cây số. Ba là khoảng trống. Gian lễ không kê bàn ghế, trải chiếu hoặc thảm, trần cao, cửa nhiều để thông gió, và lối cổ truyền vốn coi trọng sự thoáng đãng. Ở đây, cái tạo ra khoảng trống là một yêu cầu về nghi lễ, vì người ta cần quỳ sát đất theo hàng, chứ không phải một tính toán về khí.
Phân định ba lớp
Lớp thứ nhất, điều đạo dạy. Chỉ có một quy tắc về hướng, đó là qibla, và nó do toán học quyết định. Ngoài ra là các quy định về sự sạch sẽ của nơi lễ và về việc không có ảnh tượng. Không có điều khoản nào nói về thế đất, long mạch hay tuổi gia chủ.
Lớp thứ hai, điều người thợ bản địa làm theo thói quen xây cất. Đây mới là chỗ sinh ra những nét mà người ngoài tưởng là phong thủy. Thánh đường Chăm ở Nam Bộ có mái nhiều lớp, hành lang rộng, nền cao chống nước, cửa nhiều để đón gió sông. Thánh đường Bàni ở Nam Trung Bộ mang dáng dấp kiến trúc Chăm với tường dày và cửa nhỏ, hợp với vùng nắng gắt khô hạn. Đó là tay nghề và khí hậu, không phải một khoản trong sách luật.
Lớp thứ ba, kiến giải của thư viện. Chỗ trùng nhau giữa hai lớp trên không ngẫu nhiên, vì phong thủy cổ truyền và kinh nghiệm xây cất dân gian đều rút từ cùng một bộ điều kiện là nắng, gió, mưa và nước. Khi một quy tắc tôn giáo buộc người ta đặt nước ở lối vào và giữ gian chính thoáng đãng, thì kết quả trông rất giống một công trình được chọn thế đất kỹ, dù hai bên xuất phát từ hai chỗ khác nhau. Đây là kiến giải của thư viện, không phải giáo huấn của đạo.
Vậy nên hiểu thế nào cho phải. Nếu quý vị là người Hồi Giáo, trang này không khuyên quý vị xem phong thủy, và thẩm quyền đúng để hỏi là vị chức sắc của cộng đồng mình. Nếu quý vị không theo đạo này và đang đứng trước một ngôi thánh đường mà thấy có nét quen thuộc với lối cổ truyền Việt Nam, thì cũng đừng vội kết luận rằng người Hồi Giáo có xem hướng. Cái quý vị đang thấy là một quy tắc tôn giáo gặp một vùng khí hậu.
XIVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Phần cuối gom lại những câu mà thư viện nghe nhiều nhất khi người ngoài đạo hỏi về Hồi Giáo. Bốn chỗ trượt hay gặp nhất: nhầm một huy hiệu nhà nước với một biểu tượng tôn giáo, dịch một chữ Ả Rập thường thành tên riêng của một vị thần, lẫn người sáng lập với đối tượng thờ phượng, và gộp hai nhánh Chăm rất khác nhau vào một hình dung duy nhất.
Không phải do chính đạo đặt ra. Hình trăng lưỡi liềm kèm ngôi sao đã được dùng từ thời cổ đại ở nhiều nơi, trong đó có thành Byzantium quãng năm 300 trước Công nguyên và trên tiền đồng của đế quốc Ba Tư nhà Sassanid, tức là có trước Hồi Giáo rất lâu. Nó thành huy hiệu nhà nước của đế quốc Ottoman từ thời Mustafa III giữa thế kỷ 18 rồi thành cờ chính thức năm 1844, và việc coi nó là biểu tượng của cả một tôn giáo chỉ phổ biến từ giữa thế kỷ 20 trở đi. Nhiều học giả và nhiều tín đồ bác bỏ cách hiểu ấy, với lý do rằng đạo này vốn không có biểu tượng, và rằng một hình có gốc từ huy hiệu của một triều đại thì không đại diện cho đạo được. Đó là lý do thư viện dùng hoa văn hình học Rub el Hizb làm ấn ký cho trang này.
Không. Chữ Allah, viết là الله, là một chữ trong tiếng Ả Rập, ghép từ mạo từ al và chữ ilah nghĩa là thần, nên nghĩa đen của nó là Thượng Đế viết hoa chứ không phải tên riêng của một vị nào. Bằng chứng rõ nhất là người Ả Rập theo Kitô Giáo, vốn có mặt ở Trung Đông từ trước khi có Hồi Giáo, vẫn dùng đúng chữ ấy khi cầu nguyện, và các bản Kinh Thánh in bằng tiếng Ả Rập cũng dùng chữ ấy. Đây là một vấn đề ngôn ngữ chứ không phải một vấn đề tín lý.
Xin ghi bằng giọng giải nghĩa từ nguyên. Chữ này viết là جهاد, rút từ một gốc động từ mang nghĩa dốc sức, gắng công, nỗ lực. Nghĩa đen của nó là sự nỗ lực, và tự nó không hàm chứa nội dung bạo lực. Trong kinh văn, phần lớn các chỗ dùng chữ này và các chữ cùng gốc đều nói về nỗ lực tự thân để giữ mình khỏi điều xấu. Truyền thống Hồi Giáo có một cách phân biệt quen thuộc giữa phần nỗ lực lớn hơn, tức cuộc chiến đấu với chính mình, và phần nỗ lực nhỏ hơn, dù chính cách phân biệt ấy cũng là đề tài bàn luận trong giới học giả. Thư viện dừng ở nghĩa của chữ và không bàn sang bất cứ chuyện thời sự nào.
Không, và không có tín đồ nào tin như vậy. Trong lời tuyên xưng đức tin, Muhammad được nhắc tới đúng một lần và đúng với một tư cách là sứ giả, tức người truyền lời chứ không phải người nhận lễ. Chính vì tawhid loại trừ mọi khả năng đặt ai ngang hàng với Thượng Đế mà việc thờ phượng ông bị xếp vào lỗi nặng nhất, còn cách cư xử đúng theo giáo nghĩa là noi theo nếp sống của ông. Đây cũng là lý do không có ảnh tượng của ông trong thánh đường, và là lý do trang này không mô tả diện mạo của ông theo bất cứ lối nào.
Trước hết cần phân biệt các thứ hay bị gọi gộp làm một: khimar là khăn che tóc và cổ, jilbab là áo khoác ngoài rộng, niqab là mảnh che mặt chừa mắt, còn chador và burqa là các kiểu áo trùm của từng vùng. Năm chữ này thư viện chỉ ghi phiên âm Latinh vì chưa kiểm được nguyên tự. Chữ hijab trong Kinh Qur'an vốn có nghĩa là tấm màn ngăn, về sau mới thành tên gọi chung cho lối ăn mặc kín đáo. Điều quan trọng là ngay trong cộng đồng cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về mức độ bắt buộc và về hình thức, và cách ăn mặc thay đổi rất nhiều theo vùng, theo trường phái luật và theo tập quán địa phương. Ở Việt Nam, phụ nữ Chăm Islam và phụ nữ Chăm Bàni cũng đội khăn theo hai kiểu khác nhau.
Thư viện chọn trả lời bằng cách mô tả thay vì phán định. Chăm Bàni có gốc từ Hồi Giáo, giữ tên tháng chay Ramưwan, giữ tên Thượng Đế, giữ thánh đường và hàng chức sắc có nguồn gốc từ đạo này, và tài liệu chính thức của Việt Nam xếp Bàni trong cộng đồng Hồi Giáo với hai tổ chức Hội đồng Sư cả được công nhận. Đồng thời, Bàni thực hành khác Islam chính thống ở nhiều điểm đã nêu ở mục riêng phía trên. Việc gọi tên thế nào cho đúng là cuộc thảo luận đang tiếp diễn trong chính cộng đồng, và thư viện không phân xử.
XNơi Của Đạo Này Trên Đất Việt
Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.
Một trong những thánh đường lớn của người Chăm Bàni, dòng Hồi giáo bản địa hóa lâu đời ở Nam Trung Bộ, nơi giữ lễ Ramưwan theo lịch Chăm.
Thánh đường Hồi giáo trung tâm của Sài Gòn, do cộng đồng người Ấn gốc Nam Á dựng, nay là nơi hành lễ của tín đồ nhiều quốc tịch giữa lòng quận nhất.
Thánh đường Hồi Giáo Islam của cộng đồng Chăm bên bờ sông Hậu, dựng từ giữa thế kỷ 18 và xây lại năm 1965 theo thiết kế của kiến trúc sư Mohamet Amin.

Thánh đường hoàng gia của khu Kampong Glam, dựng 1824 cạnh dinh Sultan Hussein Shah và xây lại 1928 tới 1932 với hai vòm vàng có vành đáy chai do người nghèo góp, hướng qibla về Mecca.
?Hỏi Đáp Nhanh
Hồi Giáo và Islam có phải là một không?
Là một. Islam là tên gốc của đạo trong tiếng Ả Rập, viết là إسلام, nghĩa là sự quy thuận. Hồi Giáo là cách gọi trong tiếng Việt, mượn từ chữ Hán, đặt theo tên tộc người Hồi Hột ở Trung Á từng theo đạo này. Cả hai cách gọi đều đang được dùng. Ở Việt Nam, trong văn bản chính thức thường thấy lối ghi Hồi giáo Islam để chỉ nhánh thực hành theo chuẩn quốc tế và Hồi giáo Bàni để chỉ nhánh bản địa hóa ở vùng Nam Trung Bộ.
Việt Nam có bao nhiêu người theo Hồi Giáo?
Theo số liệu chính thức tính tới tháng 6 năm 2025, cộng đồng Hồi Giáo tại Việt Nam có trên 92.000 tín đồ, trong đó trên 55.000 người theo Bàni và trên 37.000 người theo Islam, với khoảng 1.000 chức sắc chức việc và 89 cơ sở thờ tự. Con số này thay đổi qua các lần công bố: một tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ với số liệu tính tới năm 2021 ghi trên 80.000 tín đồ, còn một trang giới thiệu cũ hơn với số liệu quãng năm 2009 ghi trên 72.000. Cả ba lần công bố đều cho thấy số tín đồ Bàni nhiều hơn số tín đồ Islam.
Chăm Bàni và Chăm Islam khác nhau thế nào?
Chăm Islam ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh và Tây Ninh thực hành theo Islam chính thống, giữ đủ năm trụ cột, đọc Kinh Qur'an bằng tiếng Ả Rập và có liên hệ với cộng đồng Hồi Giáo quốc tế. Chăm Bàni ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ, nay thuộc Khánh Hòa và Lâm Đồng, là hình thái bản địa hóa sâu, hòa với tín ngưỡng Chăm bản địa và gắn với nhóm Chăm Ahiér theo Bà La Môn. Chức sắc Bàni gọi là Acar, thánh đường gọi là Sang Magik hay chùa Bàni, và trong tháng Ramưwan thì chỉ các vị Acar giữ chay trọn tháng thay mặt cộng đồng. Thư viện mô tả sự khác nhau ấy chứ không xét nhánh nào đúng hơn.
Vì sao thánh đường Hồi Giáo ở Việt Nam quay về hướng tây bắc?
Vì thánh đường quay theo hướng qibla, tức hướng chỉ về Kaaba tại Mecca, và hướng ấy là cung đường ngắn nhất trên mặt cầu chứ không phải đường thẳng trên bản đồ phẳng. Tính theo lượng giác cầu thì từ Việt Nam hướng ấy chếch về tây bắc chứ không phải chính tây. Đây là hướng do toán học và thiên văn quyết định, không liên quan tới thế đất, tuổi gia chủ hay bất cứ phép chọn hướng nào khác.
Năm trụ cột của Hồi Giáo là gì?
Thứ nhất là shahada, lời tuyên xưng rằng không có thần nào ngoài Thượng Đế và Muhammad là sứ giả của Thượng Đế. Thứ hai là salat, lễ nguyện năm lần mỗi ngày theo khung giờ định theo mặt trời. Thứ ba là zakat, khoản trích bắt buộc thường ở mức một phần bốn mươi của phần của cải tích lũy vượt ngưỡng và giữ đủ một năm trăng. Thứ tư là sawm, giữ chay từ rạng đông tới hoàng hôn suốt tháng Ramadan. Thứ năm là hajj, hành hương về Mecca một lần trong đời với người đủ sức khỏe và đủ khả năng tài chính.
Vì sao tháng Ramadan mỗi năm lại rơi vào thời điểm khác nhau?
Vì lịch Hồi Giáo là lịch thuần âm, mười hai tháng tính theo tuần trăng, mỗi năm dài 354 hoặc 355 ngày và không có tháng nhuận. Âm lịch mà người Việt dùng là âm dương lịch, có chèn tháng nhuận nên Tết luôn rơi vào cuối đông đầu xuân. Lịch Hồi thì không chèn, nên mỗi năm dương lịch các ngày lễ lùi sớm chừng mười tới mười hai ngày và sau khoảng ba mươi ba năm thì đi trọn một vòng qua đủ bốn mùa. Đây là lựa chọn có chủ ý, để không ngày lễ nào bị buộc chặt vào một mùa nào.
Sunni và Shia khác nhau ở chỗ nào?
Hai dòng tách nhau từ một câu hỏi lịch sử về người kế vị sau khi Muhammad qua đời năm 632. Một cách hiểu cho rằng cộng đồng chọn người lãnh đạo trong hàng những người thân cận, và Abu Bakr đã được chọn. Cách hiểu kia cho rằng quyền ấy thuộc về Ali ibn Abi Talib và dòng dõi của ông. Hai dòng cùng một Kinh Qur'an, cùng tawhid, cùng năm trụ cột với vài khác biệt trong chi tiết thực hành và cùng hướng qibla. Chỗ khác nằm ở quyền lãnh đạo, ở bộ sưu tập Hadith được nhận và ở một số nghi thức tưởng niệm. Theo ước tính của Pew Research Center năm 2009, Sunni chiếm khoảng 87 tới 90 phần trăm và Shia khoảng 10 tới 13 phần trăm.
Sufi có phải một nhánh riêng của Hồi Giáo không?
Không. Sufi không phải dòng thứ ba ngang hàng với Sunni và Shia, mà là chiều tu thân bên trong, có mặt trong cả hai dòng. Một người có thể vừa thuộc dòng Sunni theo một trường phái luật vừa theo một dòng truyền Sufi gọi là tariqa, và điều ấy không mâu thuẫn. Trọng tâm của chiều tu này là tinh luyện nội tâm, việc niệm danh Thượng Đế lặp đi lặp lại, và quan hệ thầy trò trong một dòng truyền. Ông al-Ghazali sống 1058 tới 1111 và nhà thơ Rumi sống 1207 tới 1273 là hai tên được biết tới rộng nhất.