Đi trên đường Trần Hưng Đạo, chưa tới nơi quý vị đã thấy một ngọn tháp nhọn nhô lên trên mái phố, cao hơn hẳn mọi thứ chung quanh. Tới gần thì thấy cả khối: một mặt tiền vươn đứng, hai hàng cột bê tông chạy suốt trong lòng nhà thờ, và thân nhà kéo dài gần sáu mươi mét về phía sau, chỗ hai cánh ngang cắt ra làm thành hình thánh giá nhìn từ trên xuống.
Đây là nhà thờ chính tòa của giáo phận Quy Nhơn, dâng kính Đức Mẹ Mân Côi. Người Quy Nhơn ít gọi tên ấy, họ gọi là nhà thờ Nhọn, lấy ngay cái tháp làm tên. Một tên dân gian ngắn gọn như vậy thường có nghĩa là công trình đã ăn vào nếp sống của thành phố chứ không chỉ là một địa chỉ trên bản đồ.
ITước Hiệu Mân Côi Và Nghĩa Chữ Chính Tòa
Mỗi ngôi nhà thờ Công giáo đều được dâng kính một đấng, và tên gọi ấy là tước hiệu. Tước hiệu của ngôi này là Đức Mẹ Mân Côi, lễ bổn mạng mừng ngày 7 tháng 10 dương lịch, và cả tháng Mười là tháng Mân Côi trong lịch phụng vụ. Chữ Mân Côi chỉ chuỗi kinh kính Đức Mẹ gồm các chục kinh đọc nối nhau, mỗi chục gắn với một biến cố trong cuộc đời Chúa Giêsu và Đức Mẹ, gọi là một mầu nhiệm. Đây là lối cầu nguyện phổ thông bậc nhất của giáo dân Việt Nam, đọc được ở nhà, ngoài ruộng, trên thuyền, không cần nhà thờ.
Theo tổ chức của Giáo hội Công giáo, địa bàn chia thành các giáo phận, mỗi giáo phận do một giám mục coi sóc. Ngôi nhà thờ có đặt cathedra, tức ngai tòa của vị giám mục ấy, thì gọi là nhà thờ chính tòa. Ngai tòa đặt trong cung thánh, cạnh hoặc sau bàn thờ, quay xuống cộng đoàn, và là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc. Mỗi giáo phận chỉ có một ngôi như thế, và người ta gọi nó là nhà thờ mẹ của cả giáo phận.
Vì thế có mấy việc chỉ diễn ra ở đây cho cả giáo phận: lễ truyền chức linh mục, lễ dầu sáng Thứ Năm Tuần Thánh khi giám mục làm phép các loại dầu thánh rồi trao cho linh mục các xứ mang về, và những cuộc quy tụ toàn giáo phận. Một nếp nữa: một ngôi nhà thờ chỉ thành nơi thánh sau nghi thức cung hiến, nên ngày cung hiến là một mốc riêng khác ngày xây xong.
Xin ghi thẳng một chỗ nguồn vênh nhau về chính tước hiệu. Phần lớn nguồn ghi tước hiệu là Đức Mẹ Mân Côi, nhưng có bài chép rằng tước hiệu được đổi sang Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời vào năm 1961. Chi tiết này có thể bắt từ một sự thật khác: trên bàn thờ đá hồng trong cung thánh có đặt tượng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, và người viết dễ lẫn giữa pho tượng trong cung thánh với tước hiệu của ngôi nhà thờ. Chúng tôi giữ tước hiệu Đức Mẹ Mân Côi theo đa số nguồn, đồng thời ghi lại con số kia để quý vị biết nó từ đâu ra, chứ không chọn bừa.
Một chỗ lẫn nữa là tên dân gian. Nhà thờ Nhọn không phải tên chính thức mà là tên người Quy Nhơn đặt theo ngọn tháp. Cũng có người gọi là nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn, cách gọi này đúng và phổ biến trong sách vở của giáo phận.
IIMột Giáo Phận Gốc Từ Năm 1659
Ngôi nhà thờ thì mới, dựng cuối những năm 1930, nhưng giáo phận đứng sau nó thì rất cũ. Đây là một trong hai giáo phận đầu tiên được lập trên đất Việt, và vùng đất chung quanh Quy Nhơn nằm trong số những nơi đón các nhà truyền giáo sớm nhất. Cái bề dày ấy mới là thứ đáng kể của nơi này, hơn cả ngọn tháp.
- 1618Cư sở Nước MặnTháng 7 năm 1618, một cư sở truyền giáo được lập ở Nước Mặn, cách Quy Nhơn chừng mười hai cây số. Đây là một trong những nơi khởi đầu của việc ghi tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh, tức gốc của chữ Quốc ngữ.
- 1659Lập giáo phận Đàng TrongNgày 9 tháng 9 năm 1659, Tòa Thánh lập hai giáo phận tông tòa đầu tiên trên đất Việt, trong đó có giáo phận Đàng Trong. Giáo phận Quy Nhơn hôm nay là hậu thân trực tiếp của giáo phận ấy.
- 1844Chia Đông và Tây Đàng TrongGiáo phận Đàng Trong được chia làm hai, phần phía bắc gọi là Đông Đàng Trong, trung tâm nằm ở vùng Quy Nhơn.
- 1924Mang tên giáo phận Quy NhơnNgày 3 tháng 12 năm 1924, giáo phận Đông Đàng Trong đổi tên thành giáo phận Quy Nhơn và giữ tên ấy tới nay.
- 1931Tòa giám mục về Quy NhơnTòa giám mục chuyển từ Làng Sông về thành phố Quy Nhơn dưới thời giám mục Augustinô Tardieu, đặt nền cho việc dựng một nhà thờ chính tòa mới.
- 1938Khởi công nhà thờCông trình khởi công ngày 1 tháng 10 năm 1938 dưới thời giám mục Tardieu, do một hãng thiết kế đương thời vẽ mẫu, làm bằng bê tông cốt thép.
- 1939Cung hiếnNhà thờ hoàn thành và được cung hiến ngày 10 tháng 12 năm 1939, chỉ hơn một năm sau ngày khởi công.
- 1962Quả chuông lớnMột quả chuông đồng nặng khoảng 1.800 ki lô gam, đường kính chừng 1,25 mét, được đưa về treo trên tháp, theo các nguồn thì đây là quà tặng từ thành phố Chicago.
Về mốc lập giáo phận, xin nói rõ để quý vị khỏi thấy các bài viết mâu thuẫn nhau. Có tài liệu ghi giáo phận lập năm 1659, có tài liệu ghi năm 1844. Cả hai đều đúng ở tầng của mình: 1659 là năm lập giáo phận Đàng Trong, tổ chức mẹ mà Quy Nhơn là hậu thân, còn 1844 là năm chia đôi giáo phận ấy và lập ra Đông Đàng Trong, đơn vị mà năm 1924 đổi tên thành Quy Nhơn. Tính từ 1659 thì giáo phận đã hơn ba trăm sáu mươi năm, tính từ 1618 với cư sở Nước Mặn thì lịch sử đạo của vùng còn xa hơn nữa.
Hiện nay giáo phận trải trên địa bàn ba tỉnh cũ là Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, rộng khoảng 16.194 km2, coi sóc 56 giáo xứ cùng 8 giáo họ biệt lập với khoảng 73.212 giáo dân. So với dân số chung của ba tỉnh thì tỷ lệ giáo dân ở đây thấp hơn các giáo phận đồng bằng Bắc Bộ khá nhiều, nên nếp giữ đạo mang dáng của những cộng đoàn nhỏ nằm rải chứ không dáng của làng đạo liền khoảnh.
IIIHình Thánh Giá, Cột Bê Tông Và Ngọn Tháp Nhọn
Nhìn từ trên xuống, mặt bằng nhà thờ là một hình thánh giá: thân dài chạy theo trục chính, hai cánh ngang cắt ra ở gần cuối, chỗ giao nhau là trước cung thánh. Đây là bố cục kinh điển của nhà thờ châu Âu, nhưng ở Quy Nhơn nó được dựng bằng vật liệu của thế kỷ 20, tức bê tông cốt thép, chứ không phải đá xếp và vòm cuốn. Điều đó cho phép hai hàng cột đỡ lòng nhà thờ mảnh hơn và không gian trong lòng thoáng hơn lối cổ.
Cao khoảng 47,2 mét, dựng trên trục giữa mặt tiền, thu dần lên thành một mũi nhọn. Đây là thứ sinh ra tên dân gian nhà thờ Nhọn, và là mốc định hướng quen của người trong phố.
Dài khoảng 57,5 mét, rộng 22,6 mét, lòng giữa rộng chừng 8 mét. Sức chứa được các nguồn ghi khoảng 1.500 người, con số lớn với một giáo phận có số giáo dân vừa phải, vì đây là nơi quy tụ của cả giáo phận chứ không riêng một giáo xứ.
Rộng chừng 8 mét, dài 14,5 mét, đặt bàn thờ, nhà tạm giữ Thánh Thể và ngai tòa giám mục. Ngai tòa là dấu chỉ khiến ngôi này khác mọi nhà thờ giáo xứ khác trong giáo phận.
Một phiến đá màu hồng dài chừng 3 mét, rộng hơn 1 mét, cao khoảng 1 mét. Phía trên có đặt tượng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, chi tiết mà một số bài viết nhầm thành tước hiệu của nhà thờ.
Nặng khoảng 1.800 ki lô gam, đường kính chừng 1,25 mét, đưa về năm 1962. Tiếng chuông này phủ ra khu phố trung tâm và là một phần âm thanh quen của Quy Nhơn.
Có một điểm dễ bỏ qua: đường nét của công trình mượn ngôn ngữ cuốn nhọn của kiến trúc Gothic, nhưng bằng kết cấu bê tông thì những chi tiết chịu lực phức tạp của Gothic thật, như cuốn bay và trụ chống ngoài, đều không cần nữa. Cái còn lại là hình dáng chứ không phải hệ chịu lực. Vì thế gọi nhà thờ này là Gothic thì đúng về dáng mà không đúng về cấu tạo, và cách nói chuẩn hơn là lối tân Gothic bằng bê tông, một dòng rất thịnh ở Việt Nam trong những năm 1930.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này cần rào trước cho rõ. Công giáo không dạy phong thủy. Hướng của một ngôi nhà thờ theo lối cổ là hướng phụng vụ, tức quy tắc riêng của đạo về chỗ đặt bàn thờ và cung thánh, mà lối cổ nhất là quay cung thánh về phía đông đón mặt trời mọc. Đó là quy tắc của đạo chứ không phải kết quả của một cuộc xem đất, và với một nhà thờ dựng trong phố thì trục còn bị hình thửa đất và hướng đường quyết định. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy.
Điều đầu tiên là thế đất phố biển. Quy Nhơn nằm trên một dải đất giữa núi và biển, thành phố chạy dài theo bờ, phía sau lưng là các dãy núi thấp. Trong lối đọc cổ truyền, đó là thế tọa sơn hướng hải: có chỗ tựa ở sau, có mặt thoáng ở trước, và mặt thoáng ấy là biển chứ không phải đồng. Sách xưa nói nước lớn trước mặt thì tụ khí mà cũng dễ tán, nên phải có vật đứng làm cọc giữ. Chính ngọn tháp cao gần bốn mươi bảy mét đóng vai ấy.
Thứ hai là hình thể của tháp. Một khối thu dần lên thành mũi nhọn, đọc theo hình thể ngũ hành thì thuộc hành Hỏa. Ở một vùng nhiều nước và nhiều gió biển, tức nặng về hành Thủy, một khối Hỏa cao đứng giữa phố là cái thế bù lại. Người xưa gọi đó là tài bồi, chỗ nào thiếu thì bồi thêm cho đủ. Chúng tôi nói rõ: người dựng nhà thờ chọn tháp nhọn vì đó là ngôn ngữ kiến trúc của đạo, việc đọc ra ngũ hành là việc của chúng tôi.
Thứ ba là mặt bằng hình thánh giá, thứ đáng đọc nhất ở đây. Trong kiến trúc đình chùa Việt Nam cũng có những mặt bằng chữ đinh, chữ công, chữ tam, tức lấy dạng chữ làm khuôn cho bố cục. Nhà thờ hình thánh giá đi theo cùng một lối nghĩ: lấy một hình có nghĩa làm sơ đồ cho cả công trình, để bước chân người đi trong đó cũng đi theo hình ấy. Khác nhau là ở chỗ dạng chữ bên đình chùa chọn theo công năng và số nếp nhà, còn hình thánh giá thì chọn vì nội dung đức tin. Điểm giao của hai trục, chỗ đặt ngay trước cung thánh, chính là chỗ mà cả hai lối nghĩ đều coi là tâm.
Cuối cùng là quan hệ với phố. Nhà thờ nằm sát mặt đường Trần Hưng Đạo, không có sân trước rộng, nên nó không giữ vai một trung tâm biệt lập mà là một điểm nhấn đứng trong dòng phố. Đọc theo con mắt cũ, đây không phải kiểu đắc địa của đền chùa nằm giữa đồng, mà là kiểu lập mốc: một khối cao cắm giữa đô thị để cả vùng lấy đó mà định phương hướng. Cái tên nhà thờ Nhọn chính là bằng chứng rằng nó đã làm được việc ấy.
VLễ Và Lệ Trong Năm
Là nhà thờ chính tòa, ngôi này giữ đủ lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo tính theo dương lịch, cộng thêm các dịp riêng của một nhà thờ có ngai tòa giám mục và dịp riêng theo tước hiệu. Bài chỉ ghi ngày theo lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc.
| Thời điểm | Lễ hoặc nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 7 tháng 10 | Lễ Đức Mẹ Mân Côi | Lễ bổn mạng theo tước hiệu của nhà thờ. Cả tháng Mười là tháng Mân Côi, các xứ trong giáo phận lần chuỗi chung mỗi tối. |
| Thứ Năm Tuần Thánh | Lễ dầu | Giám mục làm phép các loại dầu thánh cho cả giáo phận, linh mục các xứ về đồng tế rồi mang dầu về xứ mình. Chỉ diễn ra ở nhà thờ chính tòa. |
| Tam Nhật Vượt Qua | Tuần Thánh và Phục Sinh | Chuỗi cử hành trọng thể nhất của năm phụng vụ, ngày thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm. |
| Ngày 25 tháng 12 | Lễ Giáng Sinh | Dịp quy tụ đông người nhất trong năm, kéo cả người ngoài Công giáo tới xem hang đá và trang trí quanh nhà thờ. |
| Ngày 15 tháng 8 | Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời | Lễ trọng kính Đức Mẹ trong năm phụng vụ, gắn với pho tượng đặt trên bàn thờ đá hồng trong cung thánh của chính ngôi nhà thờ này. |
| Ngày 24 tháng 11 | Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam | Ngày kính các vị tử đạo được tôn phong hiển thánh năm 1988, trong đó có những vị thuộc địa bàn giáo phận. |
Nếp riêng của vùng này là lòng sùng kính Mân Côi của xứ biển. Chuỗi Mân Côi không đòi nhà thờ, không đòi sách, không đòi ai chủ sự, nên nó hợp với đời sống của những người đi biển dài ngày và của những cộng đoàn nhỏ nằm rải trong các làng chài. Ở nhiều xứ ven biển Bình Định và Phú Yên cũ, người ta đọc kinh Mân Côi trên thuyền trước khi ra khơi, và tháng Mười là tháng mà cả xứ đọc chung mỗi tối tại nhà nguyện hoặc tại một nhà giáo dân.
Ngoài ra còn có chầu lượt, phiên chầu Thánh Thể luân phiên giữa các giáo xứ, mỗi xứ một dịp trong năm, là ngày các xứ lân cận kéo về dự.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 122 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Quy Nhơn cũ, tỉnh Gia Lai
- Đường tới
- Nhà thờ ở số 122 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Quy Nhơn cũ, tỉnh Gia Lai, nằm trong khu trung tâm và đi bộ được từ khu vực bờ biển. Ngọn tháp nhọn nhìn thấy từ xa nên rất dễ định hướng.
- Toạ độ
- 13.7755, 109.235
Đây là nhà thờ chính tòa đang hoạt động chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, đi nhẹ nói khẽ, không đi lại hay chụp ảnh ở khu cung thánh, phần đặt bàn thờ, nhà tạm và ngai tòa giám mục. Nếu tới đúng lúc đang có thánh lễ, xin quý vị ngồi phía cuối nhà thờ và giữ yên lặng. Nhà thờ nằm sát mặt phố, xin để xe đúng chỗ giáo xứ chỉ dẫn và không đứng chắn lối vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn
Contribute photos, information or video for Quy Nhon CathedralThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao gọi là nhà thờ Nhọn
Vì ngọn tháp trên mặt tiền cao khoảng 47,2 mét, thu dần lên thành một mũi nhọn nhô hẳn trên mái phố. Người Quy Nhơn lấy ngay đặc điểm ấy đặt tên. Đây là tên dân gian, còn tên chính thức là nhà thờ chính tòa Quy Nhơn, tài liệu của giáo phận cũng ghi là nhà thờ Chánh tòa.
Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn dâng kính ai
Dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, lễ bổn mạng ngày 7 tháng 10 dương lịch. Có một nguồn ghi tước hiệu đổi sang Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm 1961, chi tiết này có thể bắt từ pho tượng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đặt trên bàn thờ đá hồng trong cung thánh. Chúng tôi giữ tước hiệu Mân Côi theo đa số nguồn và ghi rõ chỗ vênh.
Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn xây năm nào
Khởi công ngày 1 tháng 10 năm 1938 và cung hiến ngày 10 tháng 12 năm 1939, tức làm xong trong hơn một năm, dưới thời giám mục Augustinô Tardieu. Công trình làm bằng bê tông cốt thép, mặt bằng hình thánh giá, dài khoảng 57,5 mét và rộng 22,6 mét.
Giáo phận Quy Nhơn lập năm nào
Gốc là giáo phận Đàng Trong lập ngày 9 tháng 9 năm 1659, một trong hai giáo phận đầu tiên trên đất Việt. Năm 1844 chia thành Đông và Tây Đàng Trong, rồi ngày 3 tháng 12 năm 1924 phần Đông Đàng Trong đổi tên thành giáo phận Quy Nhơn. Vì thế có tài liệu ghi 1659, có tài liệu ghi 1844, cả hai đều đúng ở tầng của mình.
Nước Mặn có liên quan gì tới giáo phận Quy Nhơn
Nước Mặn cách Quy Nhơn chừng mười hai cây số là nơi lập một cư sở truyền giáo vào tháng 7 năm 1618, thuộc hàng sớm nhất trên đất Việt. Đây cũng là một trong những nơi khởi đầu việc ghi tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh, tức gốc của chữ Quốc ngữ, nên vùng này có vị trí riêng trong lịch sử đạo lẫn lịch sử chữ viết.