Vào khỏi cổng gạch có tấm bảng đúc ba chữ Điện Tây Sơn trên trán cổng, quý vị đi vào một khoảnh sân không rộng, bên trái là một gốc me già tán che kín cả một góc sân, bên phải là một miệng giếng đá ong thấp có nhà mái che hình lục giác. Giữa hai thứ ấy là nếp điện thờ. Người trông coi sẽ nói với quý vị rằng cây me và cái giếng có trước nếp đền, và chỗ quý vị đang đứng vốn là nền nhà ở của một gia đình buôn trầu.
Điều đáng để ý ở đây không phải quy mô, vì khu thờ cũ vốn gọn. Điều đáng để ý là cách thờ. Ba người được thờ trong điện này là ba người con của làng Kiên Mỹ, và suốt hơn một thế kỷ dưới triều Nguyễn dân làng không thể gọi thẳng tên các ông ra mà thờ. Năm 1823, họ dựng ngôi đình làng Kiên Mỹ ngay trên nền từ đường cũ đã bị hủy, đem sắc thần thành hoàng đặt ở một ngôi miếu nhỏ riêng, rồi âm thầm thờ ba anh em ở hậu tẩm ngôi đình. Ngôi đình ấy là tiền thân trực tiếp của điện thờ hôm nay.

IBa Vị Được Thờ Và Lối Thờ Mượn Tên
Điện thờ chính ở đây thờ Tây Sơn Tam Kiệt, tức ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, cùng tiên tổ dòng họ, thân phụ thân mẫu và các văn thần võ tướng cùng thời. Trong điện có mười án thờ bằng gỗ chạm. Hậu điện đặt ba án chính, ở giữa là án thờ Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ, bên phải là án thờ Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc, bên trái là án thờ Đông Định Vương Nguyễn Lữ, cùng hệ thống chín pho tượng thờ tạo tác năm 2004 gồm ba anh em và sáu vị văn thần võ tướng tiêu biểu là Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Ngô Văn Sở, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và Vũ Văn Dũng.
Ba người sinh ra và lớn lên ngay trên mảnh đất này. Theo tư liệu vùng Tây Sơn, thân phụ của ba ông là Hồ Phi Phúc, kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Đồng rồi về định cư tại làng Kiên Mỹ ở gần bến Trường Trầu làm nghề buôn trầu. Ông trồng một cây me bên trái nhà và đào một cái giếng đá ong bên phải nhà. Cây me và cái giếng ấy nay vẫn còn, và đó là lý do vì sao khu thờ này đứng đúng ở chỗ nó đang đứng chứ không ở chỗ nào khác.
Trong lối thờ cúng cổ truyền của người Việt, một người có công với làng với nước sau khi mất có thể được dân lập nơi thờ và tôn làm thần. Việc ấy không cần triều đình cho phép mới thành, nhưng thường chỉ được yên ổn khi triều đình thừa nhận bằng một đạo sắc phong. Khi triều đình không thừa nhận, thậm chí ngăn cấm, thì việc thờ không mất đi mà lùi vào trong, đổi tên gọi, mượn một hình thức khác để tồn tại.
Khu đền ở Kiên Mỹ là ví dụ rõ của lối ấy. Sau khi ngôi từ đường họ Hồ trên nền nhà cũ bị triều Nguyễn triệt hạ năm 1802, tới năm 1823 dân làng dựng đình Kiên Mỹ ngay trên nền đất ấy. Họ đem sắc phong thành hoàng của triều Nguyễn ra thờ ở miếu Vĩnh An nhỏ hơn, còn trong hậu tẩm ngôi đình lớn thì thờ kín ba anh em Tây Sơn, để lại câu ca dân gian Ai cho miếu lớn hơn đình, bậu có chồng mặc bậu vẫn gọi mình bằng anh. Người trong làng biết mình đang cúng ai, người ngoài nhìn vào chỉ thấy một ngôi đình làng miền Trung. Lớp vỏ ấy giữ được hương khói qua hơn một thế kỷ, cho tới khi nơi này được trả lại đúng tên là Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt vào năm 1958.
Về mặt tư liệu, cách thờ mượn tên này không phải chuyện riêng của Kiên Mỹ. Trên vùng thượng đạo phía tây, tại An Khê, các đình làng của lưu dân người Kinh cũng dựng thêm dinh phụ thờ ba anh em trong khuôn viên đình, để dưới danh nghĩa thờ thần dân gian. Hai nơi cách nhau một con đèo, cùng một cách làm, cho thấy đây là một nếp ứng xử có ý thức của cả một vùng chứ không phải sáng kiến lẻ của một làng.
Cũng cần nói cho rõ về họ. Ba anh em mang họ Nguyễn theo họ mẹ, còn gốc là họ Hồ ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Chi tiết ấy được nhắc trong tư liệu về bến Trường Trầu và về gia đình ông Hồ Phi Phúc, và nó giải thích vì sao trên nền nhà cũ ở Kiên Mỹ thời Tây Sơn từng dựng ngôi từ đường họ Hồ trước khi trở thành đình Kiên Mỹ.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất là về cây me và cái giếng. Nhiều người nghĩ hai vật ấy do ba anh em trồng và đào. Theo tư liệu vùng Tây Sơn thì cả hai gắn với đời người cha là ông Hồ Phi Phúc, tức có trước ba ông. Về tuổi cây me và giếng nước, hồ sơ di tích ghi cây me trên dưới ba trăm năm tuổi, còn báo Thanh Niên dẫn lời cán bộ chuyên môn của bảo tàng ghi cây me và giếng đá ong có tuổi đời khoảng hai trăm năm mươi năm. Dân quanh vùng vẫn coi hai vật ấy là vật thiêng của đất, nhiều người về lễ xong thì xin một gáo nước giếng để rửa mặt và uống lấy may.
Chỗ hay hiểu lầm thứ hai là về ranh giới trong khuôn viên. Bảo tàng Quang Trung nằm cùng một khu với điện thờ, nhưng nhà bảo tàng là cơ sở trưng bày hiện vật lịch sử, không phải nơi thờ tự. Nơi thờ tự là Điện Tây Sơn trên nền đình Kiên Mỹ cũ, cùng khu đền thờ mở rộng khánh thành về sau. Bài này chỉ viết về phần thờ tự ấy.
IITừ Nền Nhà Cũ Đến Khu Đền
Lịch sử khu đền đi qua bốn lớp công trình chồng khít lên nhau trên cùng một nền đất ở làng Kiên Mỹ, từ nếp nhà ở và từ đường họ Hồ thế kỷ 18, sang ngôi đình làng Kiên Mỹ dựng năm 1823 để thờ kín, rồi ngôi điện thờ dựng lại năm 1958 và đợt tái thiết quy mô lớn cuối thế kỷ 20.
- Nửa sau thế kỷ 18Nếp nhà cũ và từ đường họ Hồ ở Kiên MỹGia đình ông Hồ Phi Phúc dựng nhà ở làng Kiên Mỹ gần bến Trường Trầu, trồng cây me bên trái và đào giếng đá ong bên phải. Sau năm 1778, trên nền nhà này dựng ngôi từ đường họ Hồ thờ tổ tiên và thân phụ thân mẫu ba anh em, nhưng đến năm 1802 từ đường bị triệt hạ.
- 1823Dựng đình Kiên Mỹ thờ kín trên nền cũNăm Minh Mạng thứ 4 tức năm 1823, dân làng dựng đình Kiên Mỹ ngay trên nền từ đường cũ, bề ngoài thờ Thành hoàng làng nhưng hậu tẩm bên trong thờ kín ba anh em Tây Sơn. Ngôi đình gỗ lớn này từng nổi tiếng trong vùng qua câu tục ngữ Hạc chợ Đình, cột đình Kiên Mỹ.
- 1946 và 1958Đình cũ cháy và dựng lại Điện thờ Tây Sơn Tam KiệtNăm 1946, ngôi đình Kiên Mỹ bị cháy rụi, dân làng lập miếu nhỏ dưới gốc cây me để giữ hương khói. Đến năm 1958, nhân dân địa phương đóng góp xây dựng lại ngôi điện thờ theo kiểu chữ Đinh trên nền đình cũ, chính thức đặt tên là Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt.
- 1977 tới 1979Xếp hạng di tích quốc gia và dựng Bảo tàng Quang TrungKhu Bảo tàng Quang Trung khởi công cuối năm 1977 và khánh thành tháng 11 năm 1979 trong cùng khuôn viên. Ngày 24 tháng 9 năm 1979, Khu đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 1988 hoặc 1998Làm nhà mái che lục giác cho giếng cổGiếng đá ong được dựng nhà mái che cổ lầu hình lục giác để bảo vệ, có nguồn ghi năm 1988, có nguồn ghi năm 1998, trong khi lòng giếng đá ong không vữa vẫn giữ nguyên.
- 1998 tới 2004Tái thiết Điện Tây Sơn và an vị chín pho tượngTháng 4 năm 1998, Điện Tây Sơn được khởi công xây mới trên nền cũ với quy mô lớn gấp ba lần, hoàn thành đầu năm 1999. Năm 2004, chín pho tượng thờ Tây Sơn Tam Kiệt và sáu vị văn thần võ tướng được đưa vào an vị trong điện.
- 2011 và 2014Cây Di sản Việt Nam và Di tích quốc gia đặc biệtTháng 11 năm 2011, cây me cổ thụ trong vườn nhà Tây Sơn được công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Ngày 31 tháng 12 năm 2014, Khu đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg.
- 2022Khánh thành công trình mở rộng khu đền thờCác hạng mục mở rộng và nâng cấp trong khuôn viên khu đền thờ được khánh thành vào dịp rằm tháng Giêng năm Nhâm Dần 2022.
Hai điểm tư liệu cần ghi rõ để người đọc tiện đối chiếu. Thứ nhất là mốc năm dựng trên nền cũ. Các bài khảo cứu trên báo Nhân Dân, báo Văn Hóa và tư liệu địa phương cho biết chuỗi niên đại khá mạch lạc, từ việc dựng từ đường họ Hồ sau năm 1778, dựng đình Kiên Mỹ năm 1823, dựng lại thành Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt năm 1958, cho tới đợt tái thiết quy mô lớn năm 1998 và 1999. Trong khi đó, bản giới thiệu tóm tắt trên cổng thông tin di sản chỉ mô tả chung kiến trúc Điện Tây Sơn hiện tại mà không liệt kê từng mốc năm trước đó. Thư viện tổng hợp đầy đủ các mốc từ nguồn báo chí chính thống để mạch lịch sử không bị đứt quãng.
Thứ hai là năm dựng nhà mái che hình lục giác của giếng cổ, khi bài viết dẫn lời chuyên viên Bảo tàng Quang Trung trên báo Thanh Niên ghi năm 1988, còn một số tài liệu tổng hợp khác ghi năm 1998. Chúng tôi ghi nhận cả hai mốc năm này.
IIIĐiện Thờ, Cây Me Và Giếng Nước
Khu thờ tự gốc ở đây gọn và ấm, nằm trong khu vườn cũ rộng hơn hai nghìn ba trăm mét vuông. Từ ngoài vào là cổng tam quan có tấm bảng đúc ba chữ Điện Tây Sơn trên trán cổng, rồi sân gạch, rồi điện thờ. Cây me đứng bên trái sân, giếng nước ở bên phải sân. Cách bố trí ấy không phải do người dựng đền tính toán mới, mà là do nếp nhà ở cũ của ông Hồ Phi Phúc để lại và được giữ nguyên qua các đời trùng tu.
Dựng trên nền đình Kiên Mỹ cũ, tái thiết năm 1998 và 1999 với mái đắp lưỡng long chầu nguyệt. Trong điện bài trí mười án thờ bằng gỗ chạm và chín pho tượng thờ cao từ 2,50 đến 2,55 mét đặt từ năm 2004, hậu điện thờ ba anh em Tây Sơn, tả hữu thờ tổ tiên và các văn thần võ tướng.
Đứng bên trái khu thờ, tuổi đời ước khoảng 250 đến 300 năm. Gốc có chu vi 3,9 mét, còn độ rộng tán cây được hồ sơ di tích ghi đường kính tới 30 mét và báo chí ghi diện tích tán che hơn 600 mét vuông. Cây được công nhận Cây Di sản Việt Nam năm 2011.
Ở bên phải khu thờ, ghép hoàn toàn bằng đá ong đỏ không dùng vôi vữa. Hồ sơ di tích ghi đường kính miệng giếng 0,9 mét và thành cao 0,8 mét, báo chí ghi miệng rộng gần 1 mét và sâu khoảng 8 đến 8,5 mét. Bên trên có nhà mái che cổ lầu hình lục giác dựng năm 1988 hoặc 1998.
Các hạng mục mở rộng và tôn tạo khánh thành đầu năm 2022 trong dự án nâng cấp tổng thể khu di tích, đáp ứng không gian hành lễ khi số người về dự các kỳ giỗ và lễ hội đầu xuân ngày càng đông.
Bến sông cổ nằm ở ngã ba sông Kút và sông Côn, cách khu đền chừng hai trăm mét, nơi gia đình ông Hồ Phi Phúc từng buôn trầu cau và nơi Nguyễn Nhạc giao thương với vùng thượng đạo. Bến thuộc quần thể di tích và luôn được nhắc trong các bài cúng như gốc tích của đất.
Có một thứ trong khuôn viên này không phải kiến trúc mà vẫn thuộc về phần lễ, đó là bộ trống trận Tây Sơn. Nhạc võ Tây Sơn là lối đánh trống riêng của vùng đất võ, dùng dàn mười hai mặt trống tượng trưng cho mười hai con giáp do một người điều khiển, và ở đây nó không chỉ được biểu diễn cho khách tham quan. Trong các kỳ giỗ và lễ hội, tiếng trống được dâng trước án thờ như một thứ lễ vật, giống như hát văn dâng ở cửa đền hay hát chầu dâng ở cửa đình. Đó là chỗ khiến nơi này giữ nguyên hồn cốt của một điện thờ sống.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Chỗ đặc biệt của mảnh đất này là nó không được chọn để làm nơi thờ. Nó được chọn để làm nhà ở, rồi việc thờ tự đến sau và phải nhận lấy thế đất có sẵn. Vì vậy đọc thế đất ở đây là đọc con mắt của một người buôn bán thời trước, chứ không phải con mắt của một thầy địa lý dựng đền.
Xét theo lối cũ thì người xưa chọn chỗ này trước hết vì cận thủy cận lộ. Nhà dựng ở bờ bắc sông Côn gần bến Trường Trầu, tức bám ngay vào mạch đi lại và buôn bán giữa vùng cao An Khê và vùng đồng bằng Tuy Viễn. Trong phép xem đất, nước vừa là thứ tụ khí vừa là đường đi của tài, và một nếp nhà buôn đặt sát bến sông là đặt đúng vào cả hai nghĩa ấy.
Đáng đọc hơn cả là cách bố trí tả mộc hữu thủy. Cây me trồng bên trái nhà, giếng đào bên phải nhà, nếp nhà nằm giữa. Theo lối đọc cổ truyền thì bên trái ứng với thanh long, ưa cái sinh trưởng và vươn lên, nên đặt một thân cây lâu năm vào đó là hợp. Bên phải ứng với bạch hổ, ưa cái tĩnh và cái thấp, nên đặt một mạch nước chìm dưới đất vào đó cũng là hợp. Hai vật ấy giữ hai bên cho nếp nhà ở giữa, và khi nhà thành đền thì chúng thành hai vật thiêng canh hai bên sân. Người xưa có tính đến mức ấy hay không thì không có văn bản nào chép lại, nhưng thế đất đã thành hình đúng như vậy.
Về hướng, khu đền nhìn về phía nam hướng ra dòng sông Côn, lấy gió mát từ mặt sông và tránh nắng gắt buổi chiều, đúng lối chuộng chung của đình miếu người Việt. Cần nói ngay rằng không văn bia nào ở đây chép việc chọn đất hay chọn hướng theo một phép xem cụ thể, nên cả đoạn trên chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị nào quen lối đọc cổ truyền.
VBa Kỳ Giỗ Trong Năm
Khác với phần lớn đền miếu chỉ có một ngày lễ trọng, nơi này giữ ba kỳ giỗ trong một năm, và ba kỳ ấy ứng với ba lớp nghĩa khác nhau. Tất cả đều tính theo âm lịch.
| Ngày âm lịch | Kỳ lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 4 và mùng 5 tháng Giêng | Hội xuân và giỗ trận Ngọc Hồi - Đống Đa | Kỳ lễ đông người nhất trong năm, có lễ tế và dâng hương tại điện thờ, rước và biểu diễn nhạc võ Tây Sơn. Ngày này cũng là ngày hội lớn của cả vùng. |
| 29 tháng Bảy | Giỗ Hoàng đế Quang Trung | Lễ giỗ riêng của vị được thờ ở án giữa hậu điện. Phần lễ gọn hơn kỳ tháng Giêng, nặng phần tế cổ truyền và dâng hương. |
| Rằm tháng Mười Một | Lễ hiệp kỵ Tây Sơn Tam Kiệt | Kỳ giỗ chung cho cả ba anh em cùng tổ tiên và các văn thần võ tướng được thờ trong điện. Đây là kỳ lễ mang tính gia tộc rõ nhất, gần với một đám giỗ họ hơn là một lễ hội. |
| Rằm và mùng một hằng tháng | Lệ hương khói thường kỳ | Dâng hương tại điện thờ theo lệ chung của nơi thờ tự, không có phần hội. |
Về ngày giỗ Hoàng đế Quang Trung, xin nói thẳng chỗ nguồn vênh nhau. Tư liệu tại Kiên Mỹ ghi ngày 29 tháng Bảy âm lịch, trong khi tư liệu về nghi lễ cúng đình ở vùng An Khê trên thượng đạo lại ghi kỳ giỗ tổ chức ngày 28 tháng Bảy. Chúng tôi ghi cả hai. Hai nơi cùng thờ một người mà lệ ngày lệch nhau một hôm là chuyện không hiếm trong thờ cúng cổ truyền, thường do lệ cúng tiên thường và chính kỵ của từng nơi.
Điểm riêng của lễ tiết ở đây là tiếng trống. Trong các kỳ giỗ lớn, sau phần tế là phần dâng nhạc võ, gồm bài trống trận đánh trên dàn mười hai mặt trống. Người vùng này coi tiếng trống ấy là thứ mà các vị được thờ quen nghe lúc sinh thời, nên dâng tiếng trống cũng là một cách dâng lễ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Kiên Mỹ, thị trấn Phú Phong cũ, nay là xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai
- Đường tới
- Khu đền nằm ở khối 1, làng Kiên Mỹ, thị trấn Phú Phong cũ, nay là xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai, ở bờ bắc sông Côn, cách phường Quy Nhơn khoảng ba mươi lăm cây số về phía tây bắc. Bến Trường Trầu cách khu đền chừng hai trăm mét, thường được đi liền một chuyến.
- Toạ độ
- 13.9206, 108.9208
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải một khu trưng bày đơn thuần, nên lệ của nơi ấy cần được giữ, gồm việc ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong điện, đi nhẹ nói khẽ trước các án thờ, không chạm tay vào án thờ và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên án. Cây me và giếng nước được dân trong vùng coi là vật thiêng, xin quý vị không trèo, không khắc chữ lên thân cây và không thả vật gì xuống giếng. Việc xin nước giếng tùy lệ từng lúc, hỏi người trông coi trước là chắc nhất.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt thờ ai
Thờ ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cùng tiên tổ dòng họ, thân phụ thân mẫu Hồ Phi Phúc và các văn thần võ tướng nhà Tây Sơn. Trong điện có mười án thờ bằng gỗ chạm và chín pho tượng đặt từ năm 2004, hậu điện đặt ba án chính, ở giữa là Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ, bên phải là Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc, bên trái là Đông Định Vương Nguyễn Lữ.
Vì sao nơi này từng gọi là đình Kiên Mỹ
Sau khi ngôi từ đường họ Hồ trên nền nhà cũ bị triệt hạ năm 1802, đến năm 1823 dân làng dựng đình Kiên Mỹ ngay trên nền đất ấy, đem sắc phong Thành hoàng của triều Nguyễn ra thờ ở miếu Vĩnh An nhỏ hơn và thờ kín ba anh em Tây Sơn trong đình. Năm 1946 đình bị cháy, đến năm 1958 nhân dân dựng lại trên nền cũ và trả lại tên là Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt.
Cây me và giếng nước ở đền có từ bao giờ
Theo tư liệu vùng Tây Sơn, cả hai gắn với đời người cha của ba ông là ông Hồ Phi Phúc, tức có trước ba anh em, tuổi đời được các nguồn ghi khoảng 250 đến 300 năm. Cây me có chu vi gốc 3,9 mét, tán rộng khoảng 30 mét, được công nhận Cây Di sản Việt Nam năm 2011. Giếng nước ghép bằng đá ong không dùng vữa, sâu khoảng 8 đến 8,5 mét.
Khu đền thờ và Bảo tàng Quang Trung có phải một không
Không. Hai nơi nằm cùng một khuôn viên nhưng khác tính chất. Nhà bảo tàng là cơ sở trưng bày hiện vật lịch sử, khánh thành năm 1979. Nơi thờ tự là Điện Tây Sơn dựng trên nền đình Kiên Mỹ cũ năm 1958 và tái thiết năm 1998-1999, cùng các hạng mục mở rộng khánh thành năm 2022. Hương khói chỉ diễn ra ở phần thờ tự.
Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt có mấy kỳ giỗ trong năm
Có ba kỳ giỗ chính đều tính theo âm lịch, gồm hội xuân và giỗ trận Ngọc Hồi - Đống Đa vào mùng 4 và mùng 5 tháng Giêng, giỗ Hoàng đế Quang Trung ngày 29 tháng Bảy, và lễ hiệp kỵ chung cho cả ba anh em vào rằm tháng Mười Một. Trong các kỳ giỗ lớn có phần dâng nhạc võ Tây Sơn trước án thờ.