VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tháp Bình Sơn

Tháp Then, tháp chùa Vĩnh Khánh

Ngọn tháp đất nung cao nhất còn lại của kiến trúc Phật giáo cổ miền Bắc, đứng trước cửa một ngôi chùa làng và giữ nguyên lối chạm gạch thời Lý Trần.

Chiều cao
16,5 m
11 tầng cùng một tầng bệ, phần chóp đã hỏng
Niên đại quy ước
khoảng 1350
giữa thế kỷ 14, nhưng các nguồn ghi vênh nhau
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2367 ngày 23 tháng 12 năm 2015

Từ đường làng rẽ vào khoảng sân gạch trước chùa, quý vị gặp ngay một khối tháp vuông màu đỏ sẫm dựng thẳng lên trời, thu nhỏ dần theo từng tầng, cao hơn mọi mái nhà chung quanh. Lại gần thì thấy mặt tháp không trơn: từng viên gạch đều có hình, chỗ là rồng uốn, chỗ là sư tử vờn quả cầu, chỗ là lá đề và cánh sen.

Phía sau tháp là chùa Vĩnh Khánh, dân trong vùng quen gọi là chùa Then, nên ngọn tháp cũng mang luôn tên tháp Then. Đây là ngọn tháp đất nung cao nhất còn lại của kiến trúc Phật giáo cổ ở miền Bắc, và cũng là một trong số rất ít công trình còn giữ được nguyên vẹn lối chạm gạch của thời Lý Trần. Bài này nói về ba việc: tháp ấy để làm gì, dựng vào lúc nào, và vì sao câu hỏi thứ hai tới nay vẫn chưa có một đáp án duy nhất.

IMột Ngọn Tháp Thờ, Không Phải Tháp Mộ

Điều cần nắm trước tiên, trước cả niên đại và kích thước, là công năng của ngọn tháp này. Tháp Bình Sơn là một tháp thờ, dựng ngay trên trục chính trước cửa chùa, chứ không phải một ngôi mộ tháp đặt hài cốt của một vị sư.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa nhà Phật, tháp là dạng thức Việt hóa của chữ stupa trong tiếng Phạn, vốn là gò đất đắp trên xá lợi của Đức Phật. Từ cái gốc ấy, tháp ở Việt Nam chia ra mấy dạng theo công năng. Dạng thứ nhất là tháp thờ, dựng như một vật thờ của cả ngôi chùa, đặt ở chỗ trọng trên trục chính, có khi an trí xá lợi hoặc tượng Phật. Dạng thứ hai là tháp mộ, còn gọi là tháp tổ, dựng trên phần mộ các vị sư đã viên tịch, đặt trong vườn tháp ở chỗ khuất, quy mô nhỏ và đứng thành hàng.

Tháp thờ đứng một mình ở chỗ trang trọng nhất, tháp mộ đứng thành cụm ở chỗ khuất. Tháp Bình Sơn thuộc dạng thứ nhất.

Số tầng cũng mang nghĩa. Tháp Phật giáo thường lấy số lẻ, và theo cách hiểu quen thuộc trong giới nghiên cứu kiến trúc chùa Việt thì tháp mười một tầng ứng với hàng Bích Chi Phật, tức bậc tự mình giác ngộ, ở dưới quả vị Phật. Cách đọc theo số tầng này không phải điều khắc trên bia, mà là quy ước được các nhà nghiên cứu ghi lại từ lối dựng tháp cổ truyền, nên xin quý vị nhận nó như một quy ước chứ không phải một kết luận dứt khoát.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm: nhiều người quen thấy vườn tháp trong chùa nên vào đây liền cho rằng ngọn tháp này là mộ của một vị sư. Cách hiểu ấy không đúng với vị trí của tháp. Một mộ tháp không bao giờ được dựng chắn giữa lối vào chính điện, vì như thế là đặt phần mộ chặn trước ban thờ Phật. Ngọn tháp đứng ngay trục chính, cao vượt hẳn các nếp nhà, là dấu hiệu rõ nhất rằng đây là vật thờ của cả ngôi chùa.

IINiên Đại Và Chỗ Nguồn Vênh Nhau

Tháp Bình Sơn không có bia dựng tháp, không có minh văn khắc năm, và tên người dựng cũng không còn. Vì vậy niên đại của nó phải suy từ phong cách chạm khắc và từ chất gạch, mà suy thì mỗi người suy một cách. Đây là chỗ các nguồn ghi vênh nhau rõ nhất, xin nói thẳng.

Theo sử liệu

Cách ghi thứ nhất, của hồ sơ di tích do cơ quan quản lý di sản công bố, đặt niên đại tháp trong khoảng thế kỷ 14 tới thế kỷ 16. Đây là một khoảng rộng, và sự rộng ấy là cố ý: hồ sơ không khẳng định một triều đại, mà chỉ khoanh vùng thời gian mà các đặc điểm vật liệu và trang trí có thể thuộc về.

Cách ghi thứ hai, phổ biến hơn trong sách phổ thông, trên cổng thông tin địa phương và trong phần lớn bài báo, xếp tháp vào thời Trần, thế kỷ 14. Cách ghi này dựa vào phong cách chạm rồng, sư tử hí cầu và lá đề trên gạch, vốn được coi là đặc trưng của nghệ thuật Lý Trần.

Cách ghi thứ ba là các ý kiến lẻ đẩy niên đại lùi xa hơn. Một nhà nghiên cứu người Pháp cho rằng hoa văn ở đây mang dấu ấn phong cách Đại La và đặt tháp vào khoảng thế kỷ 7, trong khi một số nhà nghiên cứu trong nước nghiêng về lớp Lý, tức thế kỷ 12.

Ba cách ghi ấy vênh nhau, chúng tôi ghi cả ba thay vì chọn bừa một con số. Con số giữa thế kỷ 14 dùng ở đầu bài là một niên đại quy ước để tiện xếp chỗ trong thư viện, không phải một mốc có văn bản bảo chứng.

  • Thế kỷ 14Cách ghi phổ biến nhất
    Phần lớn nguồn xếp tháp vào thời Trần, thế kỷ 14, căn cứ trên phong cách chạm rồng, sư tử hí cầu và lá đề trên mặt gạch.
  • Thế kỷ 14 tới 16Cách ghi của hồ sơ di tích
    Hồ sơ của cơ quan quản lý di sản ghi khoảng niên đại rộng hơn và không khẳng định một triều đại cụ thể.
  • Thời Lê và thời NguyễnCác lớp chùa về sau
    Bản thân ngôi chùa Vĩnh Khánh đứng sau tháp đã qua nhiều lần dựng lại, và bộ khung của các tòa nhà hiện còn thuộc lớp niên đại muộn hơn ngọn tháp rất nhiều.
  • 1972Hạ giải tháp và lập xưởng phục chế gạch
    Tháp đã nghiêng và có nguy cơ đổ. Người ta tháo dỡ tháp, đánh số từng viên gạch, đồng thời lập xưởng phục chế gạch ở vùng gốm Hương Canh với sự phối hợp của cơ quan văn hóa, nhà trường và hợp tác xã địa phương.
  • Giữa thập niên 1970Dựng lại ngọn tháp
    Riêng việc làm ra loại gạch thay thế đạt yêu cầu đã mất khoảng hai năm, với tỷ lệ chọn rất ngặt. Tháp sau đó được dựng lại theo số thứ tự đã đánh dấu, và khối tháp quý vị thấy hôm nay là kết quả của lần dựng lại ấy.
  • 1976Đại trùng tu tòa Tam bảo
    Theo hồ sơ di tích, tòa Tam bảo cũ của chùa được đại trùng tu và lùi lại khoảng hai mươi mét so với vị trí cũ, làm thoáng thêm khoảng sân trước tháp.
  • 2015Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 2367 ngày 23 tháng 12 năm 2015. Khu vực khoanh vùng bảo vệ rộng khoảng mười bảy nghìn hai trăm mét vuông, gồm tháp, hai tòa tam bảo cũ và mới, giếng, ao sen và các công trình phụ trợ.
Chỗ hay hiểu lầm

Về lần trùng tu thập niên 1970, xin nói thẳng một điều mà nhiều bài viết bỏ qua: tháp đã được hạ giải rồi dựng lại, chứ không phải chỉ gia cố tại chỗ. Điều đó có nghĩa là khối tháp hiện nay tuy dùng phần lớn gạch cũ nhưng là một công trình đã qua tay người thời sau xếp lại, có bổ sung gạch phục chế. Số tầng cũng là chỗ còn tranh luận: có nguồn ghi tháp gốc mười ba tầng, có nguồn ghi mười lăm tầng, và đã có người đặt câu hỏi liệu phần thiếu là do hư hỏng tự nhiên hay do quyết định khi dựng lại. Chúng tôi ghi lại câu hỏi ấy đúng như nó đang tồn tại, không kết luận thay.

IIIKhối Tháp Và Cách Xếp Gạch

Tháp có mặt bằng vuông, thu nhỏ dần lên trên, hiện cao 16,5 mét gồm mười một tầng cùng một tầng bệ, phần chóp đã hỏng. Cạnh của tầng dưới cùng là 4,45 mét, cạnh của tầng thứ mười một chỉ còn 1,55 mét. Toàn bộ xây bằng gạch nung không tráng men. Nhìn từ xa thì đó là một khối đặc, nhưng thực ra lòng tháp rỗng, có một khoảng trống nhỏ chạy suốt từ chân lên ngọn.

Gạch khẩu

Gạch trơn hình khối chữ nhật, xây phần cốt và phần chịu lực của thân tháp, không lộ ra ngoài mặt.

Gạch hộp trang trí

Gạch có mặt ngoài chạm hình, ốp ở các tầng dưới và ở phần gờ mái. Hai tầng dưới cùng là nơi hoa văn dày và kỹ nhất, vì đó là tầm mắt người đứng dưới sân nhìn lên.

Gạch cho các tầng trên

Gạch cho phần cao, kích thước và độ dày khác lớp dưới để giảm tải. Hoa văn ở các tầng này thưa dần theo chiều cao.

Rồng và sư tử hí cầu

Hai đề tài chạm nổi bật nhất trên mặt gạch. Rồng uốn khúc theo lối thời Lý Trần, sư tử vờn quả cầu là đề tài quen của điêu khắc Phật giáo cùng lớp niên đại. Đây chính là căn cứ chính khiến phần lớn nguồn xếp tháp vào thời Trần.

Lá đề, cánh sen và cúc dây

Lá đề nhắc cây bồ đề nơi Đức Phật thành đạo, cánh sen là mô típ nền của mọi bệ thờ, cúc dây chạy thành băng viền nối các ô hình.

Chùa Vĩnh Khánh

Ngôi chùa đứng sau tháp, dân quen gọi là chùa Then. Bộ khung các tòa nhà hiện còn muộn hơn tháp nhiều, và tòa Tam bảo cũ đã lùi về sau trong lần đại trùng tu năm 1976.

Xếp Gạch Bằng Mộng, Không Trông Vào Vữa

Điều làm giới nghiên cứu chú ý nhất ở tháp này là cách liên kết các viên gạch. Gạch được tạo mộng và tạo gờ ngay từ khi đóng khuôn, để khi xếp lên nhau thì viên nọ ngoạm vào viên kia, giữ được khối mà không phải trông cậy vào lớp vữa dày. Con số thường được nhắc là khoảng mười ba nghìn hai trăm viên cho cả ngọn tháp, tức mười ba nghìn mảnh ghép phải khớp với nhau theo đúng vị trí đã định trước.

Lối làm ấy giải thích vì sao lần trùng tu thập niên 1970 lại khó đến thế. Muốn thay một viên gạch hỏng thì không thể lấy gạch thường đắp vào, mà phải làm ra một viên đúng kích thước, đúng độ co khi nung, đúng cả hình chạm trên mặt. Xưởng phục chế sàng lọc rất ngặt mới chọn được số gạch đạt yêu cầu.

Một chi tiết nữa: trong lòng tháp từng có người đặt mấy cọng thép làm thang để trèo lên. Việc ấy bị nhắc tới như một nguy cơ cho cả người trèo lẫn khối gạch, và đó là lý do lòng tháp nay không còn là chỗ để vào.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Tháp Bình Sơn không có minh văn, nên lại càng phải nói rõ: những gì viết dưới đây là kiến giải, không phải tư liệu.

Thế đất và hướng

Trước hết là thế đất chung. Chùa và tháp nằm trên một gò đất cao hơn ruộng chung quanh, trong vùng trung du nơi các dải đồi thấp bắt đầu nhường chỗ cho đồng bằng, không xa dòng sông Lô. Trong phép xem đất, đây là chỗ giao của hai thể: đồi làm hậu chẩm, đồng làm minh đường, sông lớn ở xa làm mạch nước. Một gò nổi giữa chỗ giao như vậy được coi là đất kết, và các làng cổ vùng này phần lớn đều dựng đình chùa trên những gò tương tự.

Thứ hai là vị trí của ngọn tháp trong khuôn viên. Tháp đứng trước cửa chùa, ngay trên trục chính. Đọc theo phép cũ thì một khối cao dựng chắn giữa minh đường có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là trấn, giống vai trò bình phong trong nhà ở cổ truyền, giữ cho khí không xổ thẳng ra ngoài mà phải vòng quanh. Nghĩa thứ hai là lập trục, tức lấy khối tháp làm mốc định tâm cho cả khu đất, khiến mọi lối đi và mọi nếp nhà đều phải quy chiếu về nó. Với một ngôi chùa làng nhỏ, một ngọn tháp cao mười sáu mét rưỡi đứng ở đó thì nghĩa thứ hai lấn hẳn nghĩa thứ nhất.

Thứ ba là hình khối và ngũ hành. Theo phép cũ, khối vuông thuộc Thổ, khối nhọn vươn lên thuộc Hỏa. Tháp Bình Sơn có mặt bằng vuông mà dáng chung thu nhọn dần lên trời, nên đọc theo lối này thì đó là Thổ mang thế Hỏa, lấy sự vững chãi làm nền cho một dáng bốc lên. Vật liệu cũng hợp với cách đọc ấy: đất là Thổ, qua lửa nung mà thành gạch. Xin nhắc lại rằng người dựng tháp có nghĩ như vậy hay không thì không văn bản nào cho biết.

Cuối cùng là hướng. Chùa và tháp cùng quay mặt ra khoảng sân rộng phía trước, theo lối chùa Bắc Bộ vốn chuộng hướng nam và các hướng lệch nam, vì hướng ấy đón nắng ấm và tránh gió lạnh mùa đông. Lòng tháp rỗng suốt từ chân lên ngọn thì vừa nhẹ tải vừa thông hơi, khiến gạch bên trong không bị hầm ẩm. Người xưa làm vậy hẳn vì lý do kỹ thuật, nhưng theo lối đọc cũ thì một trục rỗng chạy giữa lòng một khối đặc cũng chính là hình ảnh nhà Phật hay dùng để nói về cái tâm.

VLễ Và Ngày Lễ Ở Chùa Vĩnh Khánh

Tháp Bình Sơn không có lễ riêng của ngọn tháp. Mọi sinh hoạt tín ngưỡng ở đây đều là sinh hoạt của chùa Vĩnh Khánh và của làng, còn ngọn tháp giữ vai vật thờ đứng giữa sân. Dưới đây là các ngày lễ tính theo âm lịch, tức những mốc không đổi theo năm tháng.

Các ngày lễ tính theo âm lịch tại chùa Vĩnh Khánh. Nguồn: Hồ sơ di tích tháp Bình Sơn và lệ lễ chung của chùa Bắc Bộ..
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngHội làng và lễ Thượng nguyênHội truyền thống gắn với chùa, có phần rước, phần lễ cầu an và các trò diễn dân gian của làng.
Mùng 8 tháng TưLễ Phật đảnLễ theo lệ chung của chùa Bắc Bộ, có tắm Phật và tụng kinh. Ngày này người trong vùng thường tới lễ rồi đi vòng quanh chân tháp.
Rằm tháng BảyLễ Vu Lan và xá tội vong nhânLễ lớn thứ hai trong năm của chùa, có cúng cầu siêu và lễ cúng chúng sinh ngoài sân.
Mùng 1 và ngày rằm hằng thángLễ sóc vọngLệ lễ thường kỳ của chùa làng, không có phần hội.
Mùng 8 tháng ChạpLễ Phật thành đạoNgày kỷ niệm Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề, có ý nghĩa riêng ở nơi mà lá đề được chạm kín mặt tháp.

Cần nói rõ để quý vị khỏi trông đợi nhầm: đây là một ngôi chùa làng, không phải trung tâm hành hương. Phần lớn thời gian trong năm ngọn tháp đứng một mình giữa sân gạch, và chính sự vắng ấy lại là điều kiện tốt nhất để nhìn kỹ từng viên gạch chạm.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ
Đường tới
Tháp và chùa Vĩnh Khánh nằm ở xã Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ, thuộc huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc cũ, gần dòng sông Lô. Tháp đứng ngay trong khuôn viên chùa nên tới chùa là thấy tháp, không phải tìm thêm.
Toạ độ
21.4196, 105.4066
Khi tới nơi

Lệ ở đây là lệ giữ gạch. Xin quý vị không chạm tay, không tựa lưng và không chà xát lên mặt gạch chạm, vì đất nung không tráng men rất dễ mòn và mỗi viên đều là một mảnh ghép không thay thế được. Không trèo lên tháp và không vào lòng tháp. Khoảng sân trước tháp là sân lễ của chùa, nên không bày đồ ăn uống và không đặt lễ vật lên bậc chân tháp. Vào các lớp nhà trong thì bỏ mũ, ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Bình Sơn

Contribute photos, information or video for Binh Son Tower

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tháp Bình Sơn là tháp mộ hay tháp thờ

Là tháp thờ. Tháp dựng ngay trên trục chính trước cửa chùa, giữ vai vật thờ của cả ngôi chùa. Mộ tháp của các vị sư thì quy mô nhỏ, đứng thành cụm trong vườn tháp ở chỗ khuất, và không bao giờ được dựng chắn giữa lối vào chính điện, vì như thế là đặt phần mộ chặn trước ban thờ Phật.

Tháp Bình Sơn xây từ thời nào

Các nguồn ghi vênh nhau. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý ghi khoảng thế kỷ 14 tới thế kỷ 16. Phần lớn nguồn khác xếp tháp vào thời Trần, thế kỷ 14, căn cứ trên phong cách chạm rồng và sư tử hí cầu. Ngoài ra còn ý kiến lẻ đẩy niên đại về thời Lý hoặc xa hơn. Tháp không có bia dựng tháp nên chưa có mốc dứt điểm.

Tháp Bình Sơn cao bao nhiêu và có mấy tầng

Hiện cao 16,5 mét, gồm mười một tầng cùng một tầng bệ, phần chóp đã hỏng. Cạnh tầng dưới cùng là 4,45 mét, cạnh tầng thứ mười một là 1,55 mét. Số tầng gốc còn tranh luận, có nguồn ghi mười ba tầng, có nguồn ghi mười lăm tầng.

Tháp có phải là nguyên bản không hay đã dựng lại

Tháp đã được hạ giải rồi dựng lại trong lần trùng tu lớn thập niên 1970. Từ năm 1972 người ta tháo dỡ tháp và đánh số từng viên gạch, đồng thời lập xưởng phục chế gạch ở vùng gốm Hương Canh. Khối tháp hiện nay dùng phần lớn gạch cũ nhưng là công trình đã qua tay người thời sau xếp lại, có bổ sung gạch phục chế.

Vì sao tháp còn gọi là tháp Then

Vì ngôi chùa đứng sau tháp là chùa Vĩnh Khánh, dân trong vùng quen gọi là chùa Then, nên ngọn tháp mang luôn tên ấy. Tên Bình Sơn thì gọi theo tên thôn nơi tháp đứng. Cả hai đều là tên dân gian, còn Vĩnh Khánh là tên chữ của ngôi chùa.

Đọc Tiếp