Đi trên con đường thiên lý cũ chạy dọc vùng khô hạn phía nam, tới thôn Ba Tháp thì quý vị thấy hai khối gạch nâu đỏ đứng cách nhau một quãng đồng, giữa hai khối ấy là một nền đất vuông đã bạt phẳng. Không có bậc thang, không có tường bao còn nguyên, không có cây lớn che. Nắng đổ thẳng xuống mặt tường và làm nổi rõ từng dải hoa văn chạm sâu vào gạch.
Đây là tháp Hòa Lai, cụm đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm thuộc lớp sớm nhất còn lại trên đất Chăm cũ. Người trong vùng gọi là Ba Tháp theo số lượng công trình ban đầu, người Chăm gọi là Yang Hakral. Khối ở giữa đã đổ từ lâu, chỉ còn nền, nên cái tên Ba Tháp hôm nay kể một con số mà mắt không còn thấy đủ.
IBa Tháp, Hòa Lai Và Yang Hakral
Cụm tháp này mang ba lớp tên, và mỗi lớp tên đến từ một phía khác nhau. Ba Tháp là tên người Việt trong vùng đặt theo số công trình, lâu ngày thành luôn tên thôn. Yang Hakral là tên gọi của người Chăm. Hòa Lai là tên đất, và về sau thành tên của cả một phong cách kiến trúc trong nghiên cứu Chăm Pa.
Lớp tên thứ ba mới là lớp có sức nặng trong học thuật. Khi phân kỳ nghệ thuật Chăm Pa, giới nghiên cứu lấy tên những di tích tiêu biểu để gọi tên từng giai đoạn, và cụm tháp này được chọn làm mốc cho phong cách Hòa Lai. Theo hồ sơ di tích, đây là giai đoạn chuyển tiếp đi ra từ phong cách Mỹ Sơn E1, với những đặc trưng riêng về cách tạo vòm cuốn, cách bố trí trụ ốp và nhất là lối chạm hoa văn.
Vì vậy chữ Hòa Lai hôm nay có hai nghĩa. Một nghĩa là tên một cụm di tích cụ thể ở thôn Ba Tháp. Một nghĩa là tên một giai đoạn nghệ thuật, dùng để xếp cả những công trình ở nơi khác. Quý vị đọc sách nghiên cứu mà gặp chữ ấy thì nên xem trước sau để biết đang nói tới nghĩa nào.
Về vị được thờ, phải nói cho đúng mức: không còn vật thờ nguyên vẹn tại chỗ trong hai ngọn tháp còn đứng. Năm 1989, trong khu vực di tích tìm được bộ Linga và Yoni, hiện lưu giữ tại bảo tàng tỉnh. Bộ Linga và Yoni là vật thờ đặc trưng của Shiva trong Ấn Độ Giáo, biểu tượng của nguyên lý sinh thành, nên căn cứ ấy cho biết đây là đền thờ theo dòng Shiva chứ không phải đền thờ Phật hay thờ nhân thần.
Trong giáo nghĩa Ấn Độ Giáo, mỗi ngọn tháp là một kalan, tức một ngôi đền kín chỉ có một cửa thật quay về hướng Đông. Khối tháp với mái thu nhỏ dần là hình ảnh của ngọn núi thiêng ở trung tâm vũ trụ, nên lòng tháp hẹp và tối, tính cho một người chủ tế đứng trước vật thờ chứ không tính cho đám đông ngồi lại.
Có một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không chê trách ai. Trong vùng lưu truyền một truyền thuyết về cuộc thi xây tháp giữa vua Chăm là Pô Klong Garai và một nhân vật người Khmer tên Hakral, ai xây xong trước trong ba ngày thì thắng. Truyện ấy được kể để giải thích cả cái tên Yang Hakral lẫn lý do cụm tháp còn dang dở.
Chỗ không khớp nằm ở niên đại. Phân tích kiểu thức kiến trúc xếp cụm tháp này vào quãng cuối thế kỷ 8 đầu thế kỷ 9, trong khi Pô Klong Garai là nhân vật của quãng thế kỷ 12 và 13, tức sau đó ba bốn trăm năm. Truyền thuyết vì thế không thể là ký ức về việc dựng tháp. Nó thuộc lớp giải thích đến sau, khi người đời sau đứng trước một công trình không còn ai nhớ gốc và tìm cách kể lại cho có đầu có cuối. Giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy trí nhớ dân gian làm việc ra sao, không nằm ở chỗ ghi đúng niên đại.
IIBa Ngọn Tháp Dựng Cách Nhau Cả Trăm Năm
Hồ sơ của Cục Di sản văn hóa ghi niên đại cụm tháp khoảng thế kỷ 8 tới thế kỷ 9. Con số ấy là một khoảng chứ không phải một năm, vì ba ngọn tháp không dựng cùng lúc. Theo bản mô tả chi tiết hơn của báo Văn Hóa, tháp Nam thuộc quãng đầu tới giữa thế kỷ 8, tháp Giữa thuộc cuối thế kỷ 8, tháp Bắc thuộc đầu thế kỷ 9. Nói cách khác, cả cụm là công việc của mấy đời chứ không phải một lần khởi công.
- Đầu tới giữa thế kỷ 8Dựng tháp NamNgọn sớm nhất trong cụm, cũng là ngọn có mặt bằng lớn hơn cả, mỗi cạnh 9,2 mét theo hồ sơ di tích.
- Cuối thế kỷ 8Dựng tháp GiữaDựng dưới triều vua Satyavarman, trị vì trong quãng 774 tới 784. Đây là ngọn đã đổ, nay chỉ còn phần nền móng.
- Đầu thế kỷ 9Dựng tháp BắcNgọn muộn nhất trong cụm, mỗi cạnh 8,4 mét. Đây cũng là ngọn giữ được nhiều mảng hoa văn nguyên vẹn nhất.
- 1989Tìm được bộ Linga và YoniBộ vật thờ tìm được trong khu vực di tích, nay lưu giữ tại bảo tàng tỉnh. Đây là căn cứ cho biết cụm tháp thờ theo dòng Shiva.
- 2005 tới 2016Các đợt khai quật khảo cổKhai quật tiến hành trong các năm 2005, 2012 tới 2013 và 2016, thu được tổng cộng 405 hiện vật gồm tượng thờ, vật thờ, bia ký và vật liệu kiến trúc có trang trí.
- 2016Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng theo Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, với tên gọi di tích kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Tháp Hòa Lai.
- 2020Bia Hòa Lai thành bảo vật quốc giaTấm bia đá cổ tìm được tại di tích, nội dung ca tụng thần linh Ấn Độ Giáo và ghi việc dựng cùng việc sửa đền tháp, được công nhận bảo vật quốc gia.
Hai chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nói rõ.
Địa danh. Hồ sơ di tích ghi cụm tháp thuộc huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Một số bài báo lại ghi thôn Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Cả hai đều là đơn vị cũ và khác nhau do ranh giới huyện đã đổi mấy lần. Theo địa giới hiện nay, di tích nằm ở thôn Ba Tháp, xã Thuận Bắc, tỉnh Khánh Hòa.
Quy mô khu đất. Hồ sơ di tích ghi tổng diện tích 49.294,9 mét vuông. Một số bài mô tả lại nói tới một khuôn viên hình chữ nhật chừng 200 mét nhân 125 mét bao quanh ba ngọn tháp. Hai con số không mâu thuẫn, chúng đo hai thứ khác nhau là phạm vi bảo vệ di tích và phạm vi nền tường bao cũ, nhưng chúng tôi ghi cả hai để quý vị khỏi phải chọn bừa.
IIIHoa Văn Lá Móc Và Lối Xây Sớm
Điều làm cụm Hòa Lai khác với các nhóm tháp Chăm đời sau nằm ở chỗ nó còn thoáng. Thân tháp chưa bị phủ kín hoa văn, các trụ ốp còn thưa và rộng bản, khối tháp vì thế trông chắc và ít rườm. Đây là đặc điểm của lớp kiến trúc sớm, trước khi điêu khắc Chăm đi vào giai đoạn chạm dày đặc.
Mặt bằng 8,4 mét nhân 8,4 mét. Ngọn giữ được trang trí nguyên vẹn hơn cả, các mảng hoa văn trên vòm cửa giả và trên thân tường còn đọc được gần đủ.
Mặt bằng 9,2 mét nhân 9,2 mét, lớn hơn tháp Bắc và dựng sớm hơn. Phần thân còn tương đối nguyên, phần mái đã mất nhiều.
Ngọn đã đổ từ nhiều thế kỷ trước, nay chỉ còn nền móng lộ trên mặt đất. Chính đây là chỗ khiến cái tên Ba Tháp không còn khớp với cảnh thật.
Mô típ riêng có của phong cách Hòa Lai. Những dải lá uốn cong móc vào nhau chạy quanh vòm cửa và diềm tường, chạm sâu thẳng vào mặt gạch đã xây xong.
Mỗi tháp chỉ một cửa thật mở về hướng Đông, ba mặt còn lại là cửa giả có đủ khuôn và vòm trang trí nhưng xây bít. Vòm cuốn xếp lớp chồng lên nhau là nét dễ nhận của lớp tháp sớm.
Hình chim thần Garuda, vật cưỡi của Vishnu trong Ấn Độ Giáo, chạm trên một số cấu kiện của cụm tháp. Đây là một trong những mô típ được nhắc tới nhiều khi mô tả trang trí ở đây.
Chạm Vào Gạch Đã Xây Xong
Tường tháp xây bằng gạch xếp khít tới mức mắt thường khó tìm ra mạch vữa, và phần lớn hoa văn được chạm thẳng lên mặt tường sau khi đã xây, tức một dải hoa văn có thể cắt ngang qua nhiều viên gạch liền nhau. Cách làm ấy đòi hỏi người thợ chạm phải làm việc trên một khối đã dựng, không sửa lại được, mỗi nhát đục là một quyết định dứt khoát.
Chất kết dính của người Chăm tới nay vẫn chưa có lời đáp dứt điểm. Các giả thiết thường được nhắc gồm mài chập hai mặt gạch rồi gắn bằng một lớp keo nhựa cây rất mỏng, xây bằng gạch chưa nung hẳn rồi nung lại cả khối, hoặc dùng vữa làm từ chính bột gạch. Ở Hòa Lai, nơi nắng gắt và gió khô quanh năm, câu hỏi ấy càng đáng chú ý, vì hai ngọn tháp đã đứng qua mười hai thế kỷ mà mặt chạm vẫn còn đọc được.
Hồ sơ di tích xếp phong cách Hòa Lai vào thế chuyển tiếp đi ra từ phong cách Mỹ Sơn E1. Nói gọn thì đây là lúc kiến trúc Chăm đang định hình những quy ước sẽ theo mình suốt gần một nghìn năm sau: khối ba phần đế thân mái, một cửa thật hướng Đông, ba cửa giả, mái nhiều tầng thu nhỏ dần. Đứng ở đây là đứng ở chỗ các quy ước ấy vừa mới thành hình.
IVThế Đất Và Hướng
Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Phong thủy là một hệ thuật số của vùng Đông Á, người Chăm khi chọn đất dựng tháp không dùng nó. Việc cửa thật của các tháp mở về hướng Đông là theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp Ấn Độ Giáo, trong đó hướng Đông là hướng mặt trời mọc, hướng mà ánh sáng đầu ngày phải rọi qua cửa tới được vật thờ. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều chép trong bia ký và cũng không phải điều người dựng tháp tính tới.
Đọc theo lối cũ của người Việt thì trước hết là cuộc đất khô. Cụm tháp đặt trên một dải đất cao giữa vùng nắng gió khắc nghiệt nhất của dải đồng bằng ven biển, chung quanh là đồng cỏ thấp và bụi cây chịu hạn, không có sông lớn kề bên, không có dãy núi nào tựa sát sau lưng. Theo phép xem đất của người Việt, một cuộc đất như thế thường bị chê là khí tán, vì thiếu cả chỗ dựa lẫn chỗ tụ nước.
Nhưng đó là chê theo một hệ không phải hệ của người dựng. Người Chăm ở vùng này sống bằng nghề nông dựa vào hệ thống dẫn nước và bằng nghề biển, và họ đặt đền tháp ở nơi đông người qua lại trên trục đường dọc bờ biển chứ không đi tìm một cuộc đất kín. Vị trí ấy nói rằng ngôi đền được dựng để cả vùng nhìn thấy, không phải để giấu vào một góc tụ khí.
Thứ hai là hướng Đông. Trong phép cũ của người Việt, hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với khí sinh phát của buổi sáng, nên đền miếu quay về hướng ấy được coi là đón được khí lên. Kiến trúc đền tháp Ấn Độ chọn hướng Đông vì một lý khác hẳn: ánh sáng đầu ngày phải chạm tới vật thờ trong lòng tháp. Hai hệ đi tới cùng một hướng bằng hai đường lý giải riêng, và chỗ đáng học nằm đúng ở sự khác nhau ấy chứ không nằm ở sự trùng nhau.
Thứ ba là ba ngọn đứng hàng. Con mắt cổ truyền quen đọc một cụm ba theo lối tam sơn, khối giữa cao, hai khối hai bên thấp. Ở Hòa Lai, ba ngọn dựng cách nhau cả trăm năm, nên bố cục ấy là kết quả của việc mỗi đời thêm một ngôi đền, không phải một sơ đồ vẽ sẵn từ đầu. Đây là điểm đáng nhớ: một hình dáng trông rất có ý đồ vẫn có thể là kết quả của thời gian chứ không của một bản vẽ.
Cuối cùng là ngọn núi bên trong. Người Việt đọc thế đất từ ngoài vào, lấy núi thật làm chỗ dựa cho công trình. Kiến trúc Ấn Độ Giáo làm ngược lại: khối tháp với mái thu nhỏ dần chính là hình ảnh ngọn núi thiêng, tức công trình dựng lại ngọn núi ngay trong mình nó. Hiểu điểm này thì thôi không còn thấy lạ vì sao cụm tháp lại được đặt giữa một vùng đồng trống.
VNghi Thức Tế Tự Trong Đền Tháp
Cần nói rõ ngay: tại Hòa Lai hiện không còn nghi thức tế tự của người Chăm diễn ra theo lệ. Cụm tháp này thuộc lớp di tích đã ngừng chức năng đền thờ từ lâu, khác với tháp Pô Klong Garai và tháp Pô Rome trong cùng vùng, nơi lễ Katê vẫn được cộng đồng Chăm Bàlamôn tổ chức hằng năm vào đầu tháng Bảy theo lịch Chăm. Bảng dưới đây dựng lại các nghi thức vốn có trong một ngôi kalan, căn cứ vào hiện vật, vào cấu tạo công trình và vào bia ký Chăm Pa nói chung, chứ không phải lịch lễ đang hành ở đây.
| Nghi thức | Nội dung | Dấu vết còn thấy |
|---|---|---|
| Tắm Linga | Chủ tế rót nước, sữa hoặc dầu thơm lên đỉnh Linga, nước chảy xuống mặt Yoni rồi thoát ra theo vòi. | Bộ Linga và Yoni tìm được tại di tích năm 1989, nay lưu giữ tại bảo tàng tỉnh. |
| Dâng hoa, hương và lửa | Nghi thức cúng thường ngày của đền Ấn Độ Giáo, dâng trước vật thờ chứ không dâng cho đám đông. | Lòng kalan hẹp và tối, chỉ một cửa thật, tính cho một người chủ tế đứng trước bệ thờ. |
| Đi vòng quanh đền | Người hành lễ đi vòng quanh khối tháp theo chiều kim đồng hồ, giữ đền ở bên tay phải. | Nền sân quanh chân hai ngọn tháp còn đứng, đủ rộng cho một vòng đi khép kín. |
| Dâng cúng và khắc bia | Vua và quý tộc dâng đền ruộng đất, người phục dịch và vật quý, rồi cho khắc bia ghi lại việc dựng và việc sửa. | Tấm bia đá cổ tìm được tại di tích, nội dung ca tụng thần linh và ghi việc dựng cùng việc sửa đền tháp. |
| Thờ theo dòng Shiva | Vật thờ chính là bộ Linga trên bệ Yoni, biểu tượng của nguyên lý sinh thành. | Bộ Linga và Yoni tìm được trong khu vực tháp Giữa, cùng các tượng thờ trong số 405 hiện vật khai quật. |
| Tu bổ đền như một công đức | Việc sửa đền được ghi nhận ngang với việc dựng đền, nên một ngôi đền có thể mang nhiều lớp niên đại. | Ba ngọn tháp dựng cách nhau cả trăm năm, và bia ký nhắc tới cả việc dựng lẫn việc sửa. |
Người trong vùng, cả người Việt lẫn người Chăm, vẫn có lệ tới thắp hương ở chân tháp vào dịp đầu năm. Đó là một lớp thực hành muộn, mọc lên bên cạnh di tích chứ không nối tiếp nghi thức đền tháp, và chúng tôi ghi lại đúng như vậy, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- thôn Ba Tháp, xã Thuận Bắc, tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Cụm tháp nằm ở thôn Ba Tháp, xã Thuận Bắc, tỉnh Khánh Hòa, ngay bên trục đường bộ dọc ven biển phía bắc vùng Phan Rang cũ, cách trung tâm Phan Rang chừng mười lăm cây số về phía bắc.
- Toạ độ
- 11.676, 109.0355
Đây là di tích kiến trúc và khảo cổ nằm giữa đồng trống, lệ của nơi này là lệ giữ hiện vật. Không chạm tay và không tựa vào các mảng hoa văn lá móc, vì mặt gạch chạm đã mủn và một dấu tay để lại lâu hơn quý vị tưởng. Không trèo lên nền tháp Giữa đã lộ, không đặt đồ lễ lên các cấu kiện rời xếp quanh sân. Nắng ở vùng này gắt và không có bóng cây trong khuôn viên, xin quý vị liệu sức khi đi vòng quanh hai ngọn tháp.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Hòa Lai
Contribute photos, information or video for Hoa Lai Cham TowersThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Hòa Lai ở đâu
Cụm tháp nằm ở thôn Ba Tháp, xã Thuận Bắc, tỉnh Khánh Hòa, ngay bên trục đường bộ ven biển. Hồ sơ di tích ghi theo đơn vị cũ là huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, một số bài báo lại ghi xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, đều là địa danh trước khi đổi địa giới.
Vì sao tháp Hòa Lai còn gọi là Ba Tháp
Vì cụm này vốn có ba ngọn tháp, và người trong vùng gọi theo số lượng ấy, lâu ngày thành luôn tên thôn. Tháp Giữa đã đổ từ nhiều thế kỷ trước và nay chỉ còn nền, nên tại chỗ quý vị chỉ thấy hai ngọn là tháp Bắc và tháp Nam.
Tháp Hòa Lai thờ ai
Không còn vật thờ nguyên vẹn tại chỗ. Năm 1989 trong khu vực di tích tìm được bộ Linga và Yoni, vật thờ đặc trưng của Shiva trong Ấn Độ Giáo, nên đây là đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm thờ theo dòng Shiva chứ không phải đền thờ Phật hay thờ nhân thần.
Phong cách Hòa Lai nghĩa là gì
Là tên một giai đoạn nghệ thuật Chăm Pa, đặt theo chính cụm tháp này. Hồ sơ di tích xếp đây là thế chuyển tiếp đi ra từ phong cách Mỹ Sơn E1, nhận ra qua cách tạo vòm cuốn, cách bố trí trụ ốp và nhất là mô típ hoa văn lá móc riêng có.
Truyền thuyết thi xây tháp ở Hòa Lai có thật không
Truyện kể cuộc thi xây tháp giữa vua Pô Klong Garai và một nhân vật người Khmer tên Hakral thuộc lớp giải thích của đời sau. Niên đại không khớp, vì cụm tháp thuộc quãng cuối thế kỷ 8 đầu thế kỷ 9, còn Pô Klong Garai là nhân vật của thế kỷ 12 và 13.