Leo hết bậc đá lên đỉnh núi An Phụ, quý vị đứng ở chỗ cao chừng hai trăm bốn mươi sáu mét, gió thổi thông thống bốn bề, phía dưới là đồng bãi và những dãy núi đá vôi thấp chạy về phía sông Kinh Thầy. Trên đỉnh ấy có hai nếp mái kề nhau: một ngôi đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, và cách chừng ba chục bước chân là một ngôi chùa thờ Phật, chùa Tường Vân. Trước chùa có hai giếng nước không cạn, người trong vùng gọi là giếng Mắt Rồng và giếng Ngọc.
Nhưng đền Cao mới chỉ là một cụm. Trong lòng núi đá Dương Nham cách đó không xa là động Kính Chủ, nơi các đời người khắc chữ thẳng vào vách đá. Xa hơn nữa, bên phường Nhị Chiểu, là chùa Nhẫm Dương. Ba cụm ấy nằm chung một hồ sơ di tích, và cụm thứ ba mới là chỗ nặng nhất về mặt tông phái: đó là chốn tổ của thiền phái Tào Động Việt Nam.
IBa Cụm Di Tích Và Chốn Tổ Tào Động
Đọc quần thể này phải đọc làm ba, vì ba cụm không cùng một lớp thờ và cũng không cùng một lối dựng. Cụm thứ nhất là đền Cao trên núi An Phụ cùng chùa Tường Vân đứng kề bên, một bên thờ người, một bên thờ Phật. Cụm thứ hai là động Kính Chủ trong lòng núi Dương Nham, vừa là chùa trong hang vừa là một kho bia đá. Cụm thứ ba là chùa Nhẫm Dương bên phường Nhị Chiểu, tên chữ là Thánh Quang tự, và đây là chốn tổ của một dòng thiền.
Chữ Hán ghi ở đầu trang này là tên chữ của chùa Nhẫm Dương, vì cả quần thể không có một tên chữ chung. Đền Cao mang tên chữ riêng là An Phụ sơn từ, tức đền trên núi An Phụ.
Đền Cao thờ An Sinh Vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông được phong tước An Sinh Vương và được ban vùng đất An Sinh để trông coi việc mồ mả và thờ tự của họ Trần. Ông mất năm 1251, thọ bốn mươi tuổi, và theo tư liệu di tích thì ngôi đền trên đỉnh An Phụ được dựng từ thời Trần, sau khi ông mất. Đây là lớp thờ người, tức thờ một nhân vật lịch sử có thật, khác hẳn lớp thờ Phật ở ngôi chùa bên cạnh.
Chùa Tường Vân, dân trong vùng quen gọi là chùa Cao, đứng ngay cạnh đền và thờ Phật theo lối Bắc Tông. Quý vị bước từ ban này sang ban kia là bước từ một hệ thờ tự sang một hệ khác, và hai hệ ấy không lẫn vào nhau.
Động Kính Chủ thì khác nữa. Trong lòng động có ban thờ Phật, đồng thời có ban thờ vua Lý Thần Tông, thờ Thiền sư Minh Không, thờ Huyền Quang và thờ Phạm Sư Mạnh. Một lòng hang chứa cùng lúc Phật, vua, thiền sư và một vị quan văn thời Trần, ấy là lớp thờ hỗn dung rất riêng của các hang động vùng đá vôi.
Chốn Tổ Của Thiền Phái Tào Động Việt Nam
Tào Động là một trong năm nhà lớn của Thiền Tông Trung Hoa, hình thành đời Đường, lấy tên ghép từ hai vị khai tổ là Động Sơn Lương Giới và người nối pháp là Tào Sơn Bản Tịch. Dòng này nổi tiếng với phép ngũ vị quân thần, tức năm bậc luận về quan hệ giữa cái chân thật và cái hiện tượng, dùng hình ảnh vua và tôi để chỉ chỗ thể và dụng không rời nhau. Đường lối tu tập thiên về lặng lẽ mà soi, tức ngồi thiền cho tâm lắng rồi để cái sáng tự hiện, khác với lối dùng công án và tiếng hét của dòng Lâm Tế. Hai dòng cùng là Thiền Tông, chỉ khác ở phương tiện dẫn người vào cửa.
Người đưa dòng thiền ấy về đất Việt là Thiền sư Thủy Nguyệt, hiệu Thông Giác Đạo Nam, sinh năm 1637 tại làng Thanh Triều. Ngài xuất gia từ sớm, rồi vào khoảng năm 1664 cùng đệ tử sang phương Bắc tìm thầy, tới núi Phượng Hoàng vùng Hồ Châu và thọ pháp với Thiền sư Nhất Cú Trí Giáo, vị được chép là tổ đời thứ ba mươi lăm của dòng Tào Động. Trở về nước, ngài truyền dòng thiền này ra Bắc và lấy vùng núi Nhẫm Dương làm nơi trụ lại.
Ngài viên tịch trong hang núi ở Nhẫm Dương năm 1704, thọ sáu mươi tám tuổi, và hang ấy từ đó mang tên hang Thánh Hóa. Người nối pháp là Thiền sư Tông Diễn, hiệu Chân Dung, và từ hai đời tổ ấy dòng Tào Động Việt Nam lan ra các tổ đình phía Bắc. Về ngày viên tịch, phần lớn tư liệu nhà chùa ghi ngày mùng sáu tháng ba âm lịch, nhưng cũng có bản chép sang tháng sáu, chúng tôi ghi cả hai.
Chỗ hay hiểu lầm nhất ở đây là về vị được thờ trong đền Cao. Trên sườn núi có một pho tượng đài lớn tạc Hưng Đạo Đại Vương, dựng năm 1998, cùng bức phù điêu đất nung dài bốn mươi lăm mét ghép từ năm trăm hai mươi sáu viên gạch. Vì pho tượng ấy dễ thấy hơn nên nhiều người tưởng ngôi đền trên đỉnh là đền thờ Hưng Đạo Đại Vương. Không phải. Đền Cao thờ An Sinh Vương Trần Liễu, là thân phụ, còn tượng đài trên sườn núi là công trình dựng về sau, thờ người con.
IINiên Đại Của Ba Cụm
Ba cụm không cùng một mốc khởi dựng. Cách gọn nhất để nắm là đọc theo lớp: lớp Trần ở đền Cao và chùa Nhẫm Dương, lớp bia đá Trần Lê ở động Kính Chủ, rồi lớp thế kỷ 17 khi Nhẫm Dương thành chốn tổ.
- 1251An Sinh Vương Trần Liễu mấtÔng mất khi bốn mươi tuổi. Đền trên đỉnh núi An Phụ được dựng từ thời Trần để thờ ông, và đó là mốc mở đầu của cụm thứ nhất.
- Thế kỷ 13Chùa Nhẫm Dương khởi dựngTư liệu nhà chùa và các nghiên cứu Phật học ghi chùa Nhẫm Dương, tên chữ Thánh Quang tự, khởi dựng từ thời Trần. Chùa Tường Vân trên núi An Phụ cũng thuộc lớp niên đại này.
- 1368Tấm bia ma nhai sớm nhất ở Kính ChủBia có niên đại sớm nhất trong động do Phạm Sư Mạnh, vị quan và nhà thơ thời Trần, cho khắc vào vách đá. Từ đó việc khắc bia trong động thành một lệ kéo dài nhiều đời.
- 1487Tên gọi Nam Thiên đệ lục độngVua Lê Thánh Tông tới thăm động và đặt cho nơi này danh hiệu Nam Thiên đệ lục động, tức động đẹp thứ sáu trong trời Nam.
- Thế kỷ 17Tào Động về Nhẫm DươngThiền sư Thủy Nguyệt Thông Giác từ phương Bắc trở về, đưa dòng Tào Động vào đất Việt và lấy vùng núi Nhẫm Dương làm nơi hoằng hóa.
- 1704Tổ Thủy Nguyệt viên tịchNgài viên tịch trong hang núi ở Nhẫm Dương. Hang mang tên hang Thánh Hóa từ đó, và chùa Nhẫm Dương thành chốn tổ của cả dòng.
- 2016Di tích quốc gia đặc biệtQuyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho quần thể. Lễ đón bằng tổ chức ngày 10 tháng 12 năm 2017.
- 2017Bia ma nhai thành bảo vật quốc giaHệ thống bia ma nhai động Kính Chủ được công nhận bảo vật quốc gia. Hồ sơ ghi động vốn có năm mươi tư bia, nay còn bốn mươi bảy tấm.
Một lớp niên đại nữa ở đây không thuộc lịch sử mà thuộc khảo cổ. Từ các đợt khảo sát hang động quanh chùa Nhẫm Dương, người ta thu được hóa thạch xương và răng động vật cổ, trong đó hang Thánh Hóa cho số mẫu nhiều nhất, cùng dấu vết cư trú của người thời tiền sử. Niên đại cụ thể các nguồn ghi không thống nhất, từ khoảng ba vạn năm tới khoảng năm vạn năm, nên chúng tôi ghi khoảng rộng ấy thay vì chọn một con số. Ngoài hóa thạch, chùa còn giữ rìu đá, cuốc đá, đồ đồng và một sưu tập tiền cổ được đánh giá là rất phong phú.
IIINúi, Hang Và Nếp Chùa
Điều làm quần thể này khác các di tích đồng bằng là đá. Mỗi cụm dùng đá một cách: cụm thứ nhất dựng nhà trên đỉnh đá, cụm thứ hai đưa thờ tự vào lòng đá, cụm thứ ba dựng chùa dưới chân đá và giữ hang làm nơi thiêng.
Dựng trên đỉnh cao nhất của dãy An Phụ, bố cục gồm tiền tế, trung từ và hậu cung. Đền được trùng tu tôn tạo từ năm 2005 và hoàn thành năm 2007, giữ lối kiến trúc cổ truyền.
Chùa thờ Phật, đứng cách đền chừng ba chục bước chân. Trước chùa là giếng Mắt Rồng và giếng Ngọc, hai giếng nước trên đỉnh núi đá mà theo lệ vùng thì không bao giờ cạn.
Hang lớn trong núi Dương Nham. Trong động vừa có ban thờ vừa có bia khắc, nên vách đá ở đây làm cùng lúc hai việc: làm tường của một ngôi chùa và làm mặt của một tấm bia.
Bốn mươi bảy tấm còn lại, khắc thẳng vào vách đá chứ không dựng trên bệ như bia thường, niên đại trải từ thế kỷ 14 tới thế kỷ 20. Đây là bảo vật quốc gia.
Tên chữ Thánh Quang tự, nằm trong thung lũng đá vôi bên phường Nhị Chiểu. Chùa giữ vai chốn tổ, nên phần nhà tổ và tháp tổ có vị trí trọng hơn ở nhiều chùa khác.
Hang trong núi sau chùa Nhẫm Dương, nơi tổ Thủy Nguyệt viên tịch. Cũng chính hang này cho số hóa thạch xương răng động vật cổ nhiều nhất vùng, nên nó vừa là chỗ thiêng vừa là một điểm khảo cổ.
Chữ ma nhai nghĩa là mài vách đá rồi khắc chữ lên chỗ mài ấy. Bia loại này không thể di dời và cũng không thể dựng lại chỗ khác. Vì vậy một vách bia kéo dài bảy thế kỷ như ở Kính Chủ là thứ tư liệu đặc biệt: nó buộc phải nằm đúng chỗ người xưa khắc, và mỗi lớp chữ mới lại chen vào giữa các lớp chữ cũ.
Một chỗ hay bị gộp nhầm: quần thể này thường được gọi gọn bằng một cái tên, nên người mới nghe dễ tưởng đây là một khu liền mạch. Thực ra ba cụm nằm cách nhau, thuộc hai phường khác nhau, và mỗi cụm có lệ thờ riêng. Hồ sơ di tích gộp chung là gộp theo giá trị tổng thể của một vùng núi đá, không phải vì ba nơi cùng một khuôn viên.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trước hết là thế núi. Cả vùng là một dải núi đá vôi thấp nổi lên giữa đồng bằng, có sông Kinh Thầy và các nhánh bao lấy. Trong phép xem đất, châu thổ vốn thiếu chỗ tựa, nên một dải đá nổi giữa ruộng được coi là cốt của cả vùng. Người xưa đặt cả ba cụm thờ tự vào đúng dải cốt ấy.
Thứ hai là chỗ đứng của đền Cao. Đền đặt trên đỉnh cao nhất, bốn bề trống, không có ngọn nào che chắn. Theo lối đọc cũ thì đây là thế độc tôn, hợp với nơi thờ bậc vương, nhưng cũng là thế lộ, đón trọn gió nắng và không có chỗ núp, nên ngôi đền phải làm thấp, mái nặng và tường dày. Hai giếng trên đỉnh là chỗ tụ Thủy giữa một đỉnh toàn Kim và Thổ, mà nước trên cao không cạn thì phép cũ coi là điềm lành của đất.
Thứ ba là lòng động Kính Chủ. Hang trong núi đá được phép xưa xem như một thứ huyệt tự nhiên: núi làm hậu chẩm, vách hang làm tay long tay hổ, cửa hang làm minh đường. Không cần dựng nhà mà vẫn đủ hình thế, nên các hang lớn thường được người xưa chọn làm chùa sớm hơn cả các chùa xây.
Thứ tư là thung lũng Nhẫm Dương. Chùa nằm lọt giữa các ngọn đá vôi vây quanh, chỉ hở một lối ra. Trong phép cũ, thế đất kín như vậy gọi là tàng phong tụ khí, tức giấu gió mà giữ khí, và đó đúng là thế đất người tu chọn: kín để tĩnh, có hang để nhập thất, có nước ngầm trong núi để ở lâu được. Cần nói ngay rằng tư liệu nhà chùa không chép gì về việc chọn đất theo một phép xem nào, nên đoạn trên vẫn chỉ là chỗ đối chiếu, không phải kết luận.
VLễ Hội Và Ngày Giỗ Tổ
Ba cụm có ba lịch lễ riêng, là hệ quả của việc ba nơi thờ ba lớp khác nhau. Đền Cao lấy ngày giỗ của vị được thờ làm lễ chính, chùa Nhẫm Dương lấy ngày viên tịch của vị tổ khai dòng. Các ngày lễ Phật chung thì cả hai ngôi chùa đều giữ.
| Ngày âm lịch | Nơi | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 tháng Tư | Đền Cao An Phụ | Ngày giỗ An Sinh Vương Trần Liễu, lễ trọng nhất trong năm của đền, có lễ tế và dâng hương của các thôn trong vùng. |
| Ba tháng mùa xuân | Đền Cao và chùa Tường Vân | Mùa lễ kéo dài, người đi lễ thường lên đền trước rồi sang lễ Phật ở chùa Tường Vân ngay cạnh. |
| Trung tuần tháng Tám | Đền Cao An Phụ | Lệ lễ mùa thu của đền, quy mô gọn hơn lễ mùng một tháng tư nhưng giữ đủ phần tế. |
| Mùng 5 tới mùng 7 tháng Ba | Chùa Nhẫm Dương | Hội chùa và lễ tưởng niệm ngày viên tịch của tổ Thủy Nguyệt Thông Giác, có lễ giỗ tổ theo nghi thức của dòng Tào Động. |
| Rằm tháng Giêng và rằm tháng Bảy | Chùa Nhẫm Dương và chùa Tường Vân | Các ngày lễ Phật theo lệ chung của chùa Bắc Bộ, không phải hội riêng của quần thể. |
Lễ giỗ tổ ở Nhẫm Dương không chỉ là việc của một ngôi chùa. Tăng ni các tổ đình thuộc dòng Tào Động ở phía Bắc thường về dự, nên ngày mùng sáu tháng ba ở đây mang tính một cuộc họp mặt của cả tông phái chứ không phải một hội làng. Đó là điều phân biệt rõ nhất giữa chốn tổ và một ngôi chùa thường.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phường Phạm Sư Mạnh, thành phố Hải Phòng, quần thể trải rộng sang phường Nhị Chiểu nơi có chùa Nhẫm Dương
- Đường tới
- Cụm đền Cao và động Kính Chủ nằm ở phường Phạm Sư Mạnh, thành phố Hải Phòng, thuộc thị xã Kinh Môn tỉnh Hải Dương cũ. Chùa Nhẫm Dương ở phường Nhị Chiểu kề bên, nên đi trọn quần thể cần tính hai chặng chứ không đi gọn một điểm.
- Toạ độ
- 20.9894, 106.5161
Cả ba cụm đều là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung và trong hang. Riêng ở động Kính Chủ, xin không chạm tay và không tựa lưng vào mặt bia ma nhai, vì bia khắc thẳng vào vách đá và không thể phục chế. Ở chùa Nhẫm Dương, hang Thánh Hóa vừa là chỗ thiêng vừa là điểm khảo cổ, xin đi theo lối đã mở và không nhặt mang các mảnh xương đá.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể An Phụ, Kính Chủ, Nhẫm Dương
Contribute photos, information or video for An Phu, Kinh Chu and Nham Duong ComplexThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Cao An Phụ thờ ai
Thờ An Sinh Vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông mất năm 1251 và đền trên đỉnh núi An Phụ được dựng từ thời Trần để thờ ông. Pho tượng đài lớn trên sườn núi là tượng Hưng Đạo Đại Vương, dựng năm 1998, không phải vị được thờ trong đền.
Chùa Nhẫm Dương là chốn tổ của dòng thiền nào
Là chốn tổ của thiền phái Tào Động Việt Nam. Thiền sư Thủy Nguyệt hiệu Thông Giác Đạo Nam sang phương Bắc thọ pháp với Thiền sư Nhất Cú Trí Giáo ở núi Phượng Hoàng rồi trở về truyền dòng này ra Bắc. Ngài viên tịch tại hang trong núi Nhẫm Dương năm 1704, và hang ấy mang tên hang Thánh Hóa.
Thiền Tào Động khác thiền Lâm Tế ở chỗ nào
Cả hai cùng là Thiền Tông, chỉ khác ở phương tiện dẫn người vào cửa. Tào Động thiên về lối lặng lẽ mà soi, tức ngồi thiền cho tâm lắng rồi để cái sáng tự hiện, và có phép ngũ vị quân thần luận về thể và dụng. Lâm Tế thiên về công án và tiếng hét để dồn người tới chỗ bừng ngộ.
Bia ma nhai động Kính Chủ có bao nhiêu tấm
Hồ sơ ghi động vốn có năm mươi tư bia, nay còn bốn mươi bảy tấm, niên đại trải từ thế kỷ 14 tới thế kỷ 20. Tấm sớm nhất mang niên đại 1368 do Phạm Sư Mạnh cho khắc. Hệ thống bia này được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2017. Chữ ma nhai nghĩa là mài vách đá rồi khắc chữ lên chỗ mài ấy.
Vì sao động Kính Chủ được gọi là Nam Thiên đệ lục động
Danh hiệu này do vua Lê Thánh Tông đặt khi tới thăm động năm 1487, nghĩa là động đẹp thứ sáu trong trời Nam. Đây là cách xếp hạng thắng cảnh của người xưa chứ không phải một danh mục hành chính, và các động khác cũng mang những thứ hạng tương tự theo lối gọi ấy.