VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Khu di tích lịch sử nhà Trần ở Đông Triều

Chùa Quỳnh Lâm, am và chùa Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên, đền Thái, đền An Sinh

Quê gốc của họ Trần và một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm, nơi có ngọn núi mà vị vua đi tu đã chọn làm chỗ nằm lại sau cùng.

Chùa Quỳnh Lâm
khoảng 1132
khởi dựng thời Lý, các nguồn ghi vênh nhau về năm
Am Ngọa Vân
1308
năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2383 ngày 9 tháng 12 năm 2013

Leo hết con dốc trên sườn núi Bảo Đài, quý vị tới một khoảnh đất bằng lưng chừng mây, chỉ vừa đủ cho mấy nếp nhà nhỏ và một ngọn tháp đá. Nếu đến vào buổi sáng thì mây thường phủ kín phía dưới, và cái tên Ngọa Vân, nghĩa là nằm trong mây, hiện ra đúng nghĩa đen của nó. Chính trên khoảnh đất này, đêm mùng một tháng mười một năm 1308, Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn.

Ngọa Vân chỉ là một điểm trong một khu di tích trải rộng khắp vùng đồi núi Đông Triều, gồm mười lăm điểm theo hồ sơ của cơ quan quản lý di sản: các lăng mộ vua Trần, đền Thái, đền An Sinh, chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên và mấy ngôi chùa am khác. Vùng đất này có hai lớp nghĩa chồng lên nhau, và bài viết sẽ đi lần lượt từng lớp: đây vừa là quê gốc của họ Trần, vừa là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm.

IQuê Gốc Họ Trần Và Một Trong Ba Trung Tâm Trúc Lâm

Đọc Đông Triều mà chỉ đọc một lớp thì hiểu sai nửa. Lớp thứ nhất thuộc về dòng họ: đây là quê gốc của họ Trần trước khi các chi phái chuyển về vùng Thái Bình và Nam Định. Lớp thứ hai thuộc về tông phái: đây là một trong ba trung tâm lớn nhất của thiền phái Trúc Lâm. Hai lớp ấy gặp nhau ở am Ngọa Vân.

Theo sử liệu

Về lớp dòng họ, tư liệu ghi rằng từ đời Trần Thái Tông, vùng đất An Sinh được ban cho anh của vua là An Sinh Vương Trần Liễu để trông coi việc mồ mả và thờ tự của cả họ. Từ đó Đông Triều thành nơi đặt phần mộ các vua Trần, với bảy khu lăng cùng đền Thái và đền An Sinh là hai nơi thờ tự chính.

Đền Thái, tức Thái Miếu nhà Trần, dựng trên đồi Đình ở thôn Trại Lốc vào khoảng nửa đầu thế kỷ 13, được phục dựng năm 2014 ngay trên nền móng cũ tìm được qua khai quật. Hồ sơ di tích ghi đền thờ tổ tiên nhà Trần, các vua Trần, Trần Thừa cùng Thành hoàng làng Đốc Trại, trong khi nhiều bài phổ thông nhấn vào ba vị vua đầu triều là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Hai cách ghi chỉ khác ở chỗ ghi rộng hay ghi hẹp, và chúng tôi ghi cả hai.

Đền An Sinh dựng năm 1381, ban đầu thờ năm vị vua Trần, về sau mở rộng thành tám vị.

Ba Trung Tâm Của Thiền Phái Trúc Lâm

Theo giáo nghĩa

Trúc Lâm là thiền phái do Trần Nhân Tông sáng lập, và điều làm nó khác các dòng thiền trước đó là chỗ nhập thế. Giáo nghĩa Trúc Lâm không đặt việc tu ở ngoài đời sống mà chủ trương tu ngay giữa việc đời, lấy tâm làm cốt chứ không lấy hình thức làm cốt, với ý thường được dẫn rằng Phật ở trong lòng mình, chớ tìm đâu xa. Dòng này nhận ba vị tổ nối nhau: Trần Nhân Tông, Pháp LoaHuyền Quang.

Về mặt địa lý, Trúc Lâm có ba trung tâm lớn. Yên Tử là nơi tu hành và hành đạo. Đông Triều có am Ngọa Vân nơi Đệ nhất tổ nhập niết bàn, có viện Quỳnh Lâm là học viện của dòng, và có phần mộ các vua. Côn Sơn và Kiếp Bạc gắn với Đệ tam tổ Huyền Quang. Ba nơi ấy là ba phần việc của cùng một dòng thiền.

Trong ba trung tâm, phần việc của Đông Triều nặng nhất về hai đầu của một đời người tu: chỗ học và chỗ hóa. Chữ Hán ghi ở đầu trang này là tên chữ của am Ngọa Vân, vì cả khu di tích không có tên chữ chung.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm: nhiều người quen gắn Trần Nhân Tông với Yên Tử tới mức tưởng ngài viên tịch ở Yên Tử. Theo tư liệu, ngài lên Ngọa Vân từ tháng năm năm 1307 và nhập niết bàn tại đây đêm mùng một tháng mười một năm 1308. Yên Tử là nơi ngài tu hành phần lớn thời gian sau khi xuất gia, còn Ngọa Vân là nơi ngài nằm lại sau cùng. Hai nơi cùng một dãy núi và cùng một dòng thiền, nên việc nhập làm một là dễ hiểu, nhưng tư liệu thì phân biệt rõ.

IINiên Đại Và Chỗ Nguồn Vênh Nhau

Khu di tích không có một mốc khởi dựng chung, vì mười lăm điểm thuộc nhiều lớp niên đại. Điểm xưa nhất là chùa Quỳnh Lâm có gốc thời Lý, còn phần lớn các điểm khác thuộc lớp Trần, thế kỷ 13 và 14.

Theo sử liệu

Về niên đại khởi dựng chùa Quỳnh Lâm, các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản chỉ ghi chùa khởi dựng từ thời Lý, mở mang vào thời Trần, không nêu năm nào. Nguồn nghiên cứu Phật học ghi cụ thể hơn: chùa do Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng dưới triều Lý Thần Tông, khoảng những năm 1127 tới 1138. Con số khoảng năm 1132 dùng ở đầu bài nằm trong khoảng ấy và là một niên đại quy ước, không phải mốc có văn bản đương thời bảo chứng.

  • Khoảng 1132Khởi dựng chùa Quỳnh Lâm
    Theo nguồn Phật học, Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng chùa dưới triều Lý Thần Tông. Hồ sơ di tích chỉ ghi khởi dựng thời Lý mà không nêu năm.
  • 1307Trần Nhân Tông lên Ngọa Vân
    Thượng hoàng đã xuất gia lên am Ngọa Vân trên núi Bảo Đài vào tháng năm năm này và ở lại đó.
  • 1308Phật hoàng nhập niết bàn tại am Ngọa Vân
    Đêm mùng một tháng mười một âm lịch, Đệ nhất tổ Trúc Lâm nhập niết bàn tại am Ngọa Vân, mốc thiêng nhất của cả khu di tích.
  • Đầu thế kỷ 14Viện Quỳnh Lâm thành học viện lớn nhất
    Đệ nhị tổ Pháp Loa mở mang chùa Quỳnh Lâm thành viện Quỳnh Lâm, nơi giảng kinh, in kinh và đào tạo tăng chúng, được coi là học viện Phật Giáo lớn nhất thời Trần.
  • 1322Dựng chùa Hồ Thiên
    Pháp Loa cho dựng chùa trên núi Trù Phong thuộc dãy Yên Tử, làm nơi cho tăng chúng đã học xong lên tu tập bậc cao hơn.
  • 1327Đúc pho tượng Di Lặc mới ở Quỳnh Lâm
    Pháp Loa cho đúc một pho tượng Di Lặc mới cho chùa Quỳnh Lâm, theo tư liệu Phật học thì pho tượng này được dát chín trăm lượng vàng.
  • 1381Dựng đền An Sinh
    Đền dựng để thờ các vua Trần, ban đầu năm vị, về sau mở rộng thành tám vị. Qua thời Lê và thời Nguyễn, dân xã An Sinh được miễn thuế và phu dịch để lo việc thờ tự.
  • 2013Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 2383 ngày 9 tháng 12 năm 2013, gồm trọn mười lăm điểm di tích.
Theo sử liệu

Về pho tượng Di Lặc thời Lý ở Quỳnh Lâm, tư liệu chép rằng Quốc sư Nguyễn Minh Không cho đúc một pho tượng đồng rất lớn ngay sau khi lập chùa, đặt trong tòa điện cao tương xứng. Các con số chép theo đơn vị trượng, khoảng sáu trượng cho tượng và bảy trượng cho tòa điện, quy ra mét thì mỗi nguồn quy một cách, dao động quanh hai chục mét. Pho tượng ấy được xếp vào nhóm An Nam tứ đại khí cùng tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh. Cả bốn nay đều không còn, nên mọi mô tả đều qua thư tịch chứ không qua hiện vật.

IIIMười Lăm Điểm Trên Một Vùng Đồi Núi

Điều cần hình dung trước tiên là quy mô trải rộng. Đây không phải một khuôn viên mà là một vùng, kéo từ chân đồi lên lưng chừng núi, gồm chùa, am, đền và lăng mộ cách nhau nhiều cây số. Nơi thờ dòng họ đặt ở vùng thấp gần làng, còn nơi tu hành đặt trên cao.

Am và chùa Ngọa Vân

Trên núi Bảo Đài. Am là khoảnh đất hẹp lưng chừng núi, nơi Phật hoàng nhập niết bàn, trong am có tượng Phật nằm thể hiện tướng niết bàn. Cạnh am có Phật Hoàng tháp do Pháp Loa dựng, an trí xá lợi của Đệ nhất tổ, và tháp Đoan Nghiêm thờ vị thiền sư đã trùng tu nơi này.

Chùa Quỳnh Lâm

Ở vùng đất bằng thuộc Đông Triều, nơi từng là viện Quỳnh Lâm. Chùa còn giữ bia đá cổ và chuông đồng, khuôn viên có hồ Quỳnh là nơi lấy nước trong nghi lễ ngày hội.

Chùa Hồ Thiên

Trên núi Trù Phong thuộc dãy Yên Tử, cao chừng năm trăm tới tám trăm mét. Nền chùa chính bố cục hình chữ công gồm tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Vườn tháp còn dấu tích sáu ngôi tháp, hai tháp đá mang dấu thời Trần và bốn tháp gạch pha đá thuộc lớp thời Lê.

Đền Thái

Tức Thái Miếu nhà Trần, trên đồi Đình ở thôn Trại Lốc, phục dựng năm 2014 trên chính nền móng cũ, làm năm gian hai mái theo lối thời Trần. Khai quật tại đây tìm được bệ thờ và chân tảng thời Trần.

Đền An Sinh

Trên một quả đồi thoai thoải, khuôn viên rộng chừng tám vạn mét vuông, bố cục hình chữ công gồm bái đường, trung đường và hậu cung. Trong vườn trồng mười bốn cây đại thụ ứng với mười bốn vị vua triều Trần.

Bảy khu lăng mộ

Lăng Tư Phúc, Thái Lăng, Mục Lăng, Ngải Sơn Lăng, Phụ Sơn Lăng, Nguyên Lăng và Hy Lăng, rải trong vùng đồi. Phần lớn nay chỉ còn nền móng và cấu kiện đá, biết tới qua khai quật khảo cổ.

Ngoài sáu nhóm trên, hồ sơ di tích còn kể thêm chùa Trung Tiết, chùa quán Ngọc Thanham Mộc Cảo, cho đủ con số mười lăm điểm.

Một đặc điểm chung của lớp kiến trúc Trần ở đây là đá. Các tháp mộ, chân tảng, bệ thờ và bia đều bằng đá, và chính nhờ vật liệu ấy mà sau bảy thế kỷ vẫn còn đủ dấu vết để đọc lại mặt bằng. Phần gỗ thì hầu như không còn gì, nên mọi nếp nhà quý vị thấy hôm nay đều thuộc các lớp trùng tu về sau.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm về viện Quỳnh Lâm: nhiều người nghe chữ viện rồi hình dung một quần thể tường cao cổng lớn kiểu tu viện phương Tây. Theo tư liệu thì đây là cơ sở của nhà chùa, nơi giảng kinh, in kinh, cất giữ kinh bản và nuôi tăng chúng đến học, tức chức năng của một học viện chứ không phải một kiến trúc riêng biệt. Toàn bộ quy mô thời Trần nay không còn trên mặt đất, nên hình dung về viện là hình dung qua thư tịch và qua khảo cổ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là thế của cả vùng. Đông Triều nằm ở chỗ dãy Yên Tử đổ xuống đồng bằng, lưng dựa cánh cung núi phía bắc, mặt mở ra vùng đất thấp phía nam. Trong phép xem đất, đó đúng là hình hậu chẩm có sơn, minh đường rộng thoáng, thế đất mà sách vở coi là trên hết.

Thứ hai là phân tầng theo độ cao, và đây là chỗ đáng học nhất ở Đông Triều. Đền Thái và đền An Sinh đặt trên đồi thấp gần làng, tiện cho việc tế lễ đông người. Chùa Quỳnh Lâm đặt ở vùng đất bằng, tiện cho tăng chúng tới lui. Chùa Hồ Thiên ở độ cao năm tới tám trăm mét. Am Ngọa Vân cao hơn nữa, chỗ hẹp và khó tới. Đọc theo lối cũ thì càng lên cao khí càng thanh, và việc xếp chức năng theo tầng cao như vậy trùng với thứ tự của một đời tu: học ở dưới, tu ở giữa, tĩnh ở trên cùng.

Thứ ba là chỗ đứng của am Ngọa Vân. Am nằm trên một khoảnh đất bằng hiếm hoi giữa sườn núi dốc, phía sau là vách núi che, phía trước là khoảng trống nhìn xuống thung lũng. Theo phép cũ đó là hình huyệt kết giữa sườn, tức chỗ mạch núi dừng lại mà tụ. Trong con mắt người xưa thì một nơi hay có mây quấn là nơi khí không tán.

Thứ tư là hướng. Các nếp nhà thờ tự ở vùng thấp phần lớn quay về hướng nam và các hướng lệch nam theo lối chuộng của đình chùa Bắc Bộ. Riêng các am và chùa trên núi thì hướng bị thế núi quyết định trước, cửa mở về phía sườn thoáng chứ không mở theo địa bàn. Cần nói ngay rằng không văn bia nào ở đây chép việc chọn đất theo một phép xem cụ thể, nên đoạn trên chỉ là chỗ đối chiếu.

VLễ Hội Và Ngày Giỗ Phật Hoàng

Vì khu di tích gồm nhiều điểm thuộc hai lớp khác nhau nên lịch lễ cũng chia hai: lớp dòng họ lấy ngày tưởng niệm làm lễ chính, lớp tông phái lấy ngày của thiền phái. Tất cả đều tính theo âm lịch.

Lịch lễ theo âm lịch của các điểm chính trong khu di tích. Nguồn: Bản tin khai hội xuân Ngọa Vân, bản tin khai hội chùa Quỳnh Lâm và tư liệu về lễ hội đền An Sinh..
Ngày âm lịchNơiNội dung
Mùng 9 tháng GiêngAm và chùa Ngọa VânKhai hội xuân Ngọa Vân, có lễ cầu quốc thái dân an, gióng trống thỉnh chuông khai hội và dâng hương tưởng niệm Phật hoàng. Mùa hội kéo dài tới hết tháng ba.
Mùng 1 tháng HaiChùa Quỳnh LâmKhai hội chùa Quỳnh Lâm, có nghi lễ rước kiệu và nghi lễ rước nước tại hồ Quỳnh.
20 tới 22 tháng TámĐền An SinhLễ hội đền An Sinh, tưởng niệm các vua Trần và tiền nhân, trùng dịp tưởng niệm Hưng Đạo Đại Vương.
Mùng 1 tháng Mười mộtAm Ngọa Vân và các chùa Trúc LâmNgày giỗ Phật hoàng Trần Nhân Tông, tức ngày ngài nhập niết bàn năm 1308. Đây là ngày trọng nhất trong năm về mặt tông phái.
Rằm tháng Giêng và rằm tháng BảyCác chùa trong khu di tíchLễ Thượng nguyên và lễ Vu Lan theo lệ chung của chùa Bắc Bộ, không phải hội riêng của khu di tích.

Nghi lễ rước nước ở hồ Quỳnh đáng được nhắc riêng. Lấy nước từ một mặt nước tự nhiên rồi rước về chùa là lệ cổ, gốc từ tín ngưỡng nông nghiệp chứ không phải nghi thức nhà Phật thuần túy. Việc một ngôi chùa từng là học viện lớn nhất của một dòng thiền vẫn giữ lệ ấy cho thấy hai lớp tín ngưỡng ở đây đã đan vào nhau từ lâu.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Bình Khê, tỉnh Quảng Ninh, quần thể trải rộng sang phường An Sinh và phường Đông Triều
Đường tới
Khu di tích trải trên vùng đồi núi Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: chùa Hồ Thiên thuộc phường Bình Khê, đền Thái, đền An Sinh và các lăng mộ bên phường An Sinh, chùa Quỳnh Lâm bên phường Đông Triều. Các điểm cách nhau nhiều cây số nên phải tính đi làm nhiều chặng.
Toạ độ
21.1045, 106.5367
Khi tới nơi

Các điểm ở đây đều là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ trong am và hậu cung, không chạm tay vào bia đá, tháp đá và các chân tảng cổ. Ở những điểm chỉ còn nền móng, xin đi theo lối đã mở và không bước lên mặt nền hay các khối đá đổ. Đường lên Ngọa Vân và Hồ Thiên là đường núi, nên đi giày thấp và liệu sức trước khi lên.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu di tích lịch sử nhà Trần ở Đông Triều

Contribute photos, information or video for Tran Dynasty Historical Site in Dong Trieu

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Phật hoàng Trần Nhân Tông viên tịch ở đâu

Tại am Ngọa Vân trên núi Bảo Đài thuộc Đông Triều, vào đêm mùng một tháng mười một âm lịch năm 1308. Ngài lên Ngọa Vân từ tháng năm năm 1307. Yên Tử là nơi ngài tu hành phần lớn thời gian sau khi xuất gia, còn Ngọa Vân là nơi ngài nằm lại sau cùng.

Ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm là những nơi nào

Yên Tử là nơi tu hành và hành đạo. Đông Triều có am Ngọa Vân nơi Đệ nhất tổ nhập niết bàn, có viện Quỳnh Lâm là học viện của dòng và có phần mộ các vua Trần. Côn Sơn và Kiếp Bạc gắn với Đệ tam tổ Huyền Quang, là ba phần việc của cùng một dòng thiền.

Chùa Quỳnh Lâm dựng năm nào

Các nguồn ghi vênh nhau. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý chỉ ghi chùa khởi dựng từ thời Lý và mở mang vào thời Trần, không nêu năm. Nguồn nghiên cứu Phật học ghi cụ thể hơn là do Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng dưới triều Lý Thần Tông, khoảng những năm 1127 tới 1138. Chúng tôi ghi cả hai cách ghi.

Viện Quỳnh Lâm là gì

Là cơ sở do Đệ nhị tổ Pháp Loa mở mang từ chùa Quỳnh Lâm vào đầu thế kỷ 14, nơi giảng kinh, in kinh và đào tạo tăng chúng, được coi là học viện Phật Giáo lớn nhất thời Trần. Quy mô thời Trần nay không còn trên mặt đất, nên hình dung về viện là qua thư tịch và khảo cổ.

Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều gồm những điểm nào

Theo hồ sơ di tích gồm mười lăm điểm: bảy khu lăng mộ là lăng Tư Phúc, Thái Lăng, Mục Lăng, Ngải Sơn Lăng, Phụ Sơn Lăng, Nguyên Lăng và Hy Lăng, cùng đền An Sinh, đền Thái, am và chùa Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên, chùa Quỳnh Lâm, chùa Trung Tiết, chùa quán Ngọc Thanh và am Mộc Cảo.

Đọc Tiếp