Đi hết một quãng đường đất giữa ruộng lúa và vườn dừa, quý vị tới một khoảnh đất cao có tường rào bao quanh, trong đó là một ngôi chùa nhỏ và một khối gạch cũ đứng lặng dưới bóng cây. Khối gạch ấy không có nhiều tầng mái thu nhỏ, không có cửa giả bốn mặt, mặt ngoài gần như trơn, không một dải hoa văn. Cửa vào là một khoảng trống lớn, và nó không quay về hướng Đông mà quay về hướng Tây Nam.
Đây là tháp Vĩnh Hưng, còn gọi là tháp Trà Long hoặc tháp Lục Hiền. Nếu quý vị vừa đi qua dải miền Trung và quen mắt với tháp Chăm thì ở đây mọi thứ sẽ thấy lệch, và cái lệch ấy là có lý do: đây không phải tháp Chăm. Đây là công trình của văn hóa Óc Eo hậu kỳ ở đồng bằng sông Cửu Long, mang dáng đền tháp gạch của vùng Khmer thời tiền Angkor, và là ngôi tháp cổ duy nhất thuộc lớp ấy còn đứng ở Tây Nam Bộ.
IVị Thần Được Thờ Và Lớp Văn Hóa Óc Eo
Vật thờ trong lòng tháp là bộ Linga đặt trên bệ Yoni, tức vật thờ đặc trưng của Shiva trong Ấn Độ Giáo. Cùng với khối hiện vật khai quật được quanh chân tháp, căn cứ ấy cho biết đây là một ngôi đền Ấn Độ Giáo chứ không phải chùa, và thờ theo dòng Shiva.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo, Linga và Yoni là cặp biểu tượng của nguyên lý sinh thành, phần dương và phần âm hợp lại làm nên sự sống. Nghi thức chính trước bộ vật thờ ấy là dội nước lên đỉnh Linga, nước chảy xuống mặt Yoni rồi thoát ra theo vòi. Ở Vĩnh Hưng, theo lời người trông coi di tích, nước tắm vật thờ được dẫn ra giếng trong khu tháp và người đi lễ xin lấy về.
Bên cạnh Shiva, bộ ba vị thần lớn của Ấn Độ Giáo còn có Brahma chủ việc sinh và Vishnu chủ việc giữ. Hiện vật tìm được ở đây cho thấy cả hai dòng thờ cùng có mặt trong vùng, và đó là điều hợp với những gì biết về đời sống tôn giáo của cư dân Óc Eo.
Năm pho hiện vật tìm được tại di tích đã được công nhận bảo vật quốc gia, gồm tượng Nữ thần Laksmi, tượng thần Sadashiva, đầu tượng thần Shiva, phù điêu Nữ thần Uma và tượng Nam thần. Hiện vật gốc được bảo quản trong kho, tại chỗ trưng bày bản sao. Các đợt khai quật còn thu được tượng đồng, đồ gốm, ngói và nhiều mảnh đá chạm, niên đại trải từ khoảng thế kỷ 7 tới thế kỷ 13.
Bề dày niên đại ấy là điều đáng chú ý nhất. Hồ sơ di tích ghi lớp cư trú và thờ tự ở đây kéo dài từ khoảng thế kỷ 4 tới thế kỷ 13, tức gần một nghìn năm liên tục, chứ không phải một công trình dựng lên rồi bỏ. Ngôi tháp còn đứng hôm nay là lớp muộn trong quãng thời gian ấy.
Đây là chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này, xin nói thật rõ bằng giọng sử liệu, không chê trách ai. Tháp Vĩnh Hưng không phải tháp Chăm. Chữ tháp cổ cùng với vật liệu gạch và vật thờ Linga khiến nhiều bài viết xếp luôn nó vào hàng tháp Chăm, nhưng cả ba yếu tố ấy đều không đủ để kết luận, vì chúng chung cho mọi công trình chịu ảnh hưởng Ấn Độ ở Đông Nam Á.
Khác về chủ nhân và về đất. Tháp Chăm là công trình của vương quốc Chăm Pa trên dải đồng bằng ven biển miền Trung. Tháp Vĩnh Hưng nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc địa bàn của văn hóa Óc Eo, nền văn hóa gắn với vương quốc Phù Nam rồi tiếp nối sang giai đoạn hậu Óc Eo. Hai vùng, hai cộng đồng, hai dòng lịch sử riêng.
Khác về hình dáng. Một ngôi kalan Chăm có khối ba phần đế thân mái rõ rệt, mái nhiều tầng giả thu nhỏ dần, ba mặt cửa giả, mặt tường chạm hoa văn dày. Tháp Vĩnh Hưng thì bình đồ gần vuông với các góc giật cấp, không có hệ mái nhiều tầng giả, mặt ngoài gần như không trang trí, và trong lòng là một vòm gạch cuốn lên. Lối ấy gần với đền tháp gạch của vùng Khmer thời tiền Angkor hơn là gần với tháp Chăm.
Khác về hướng. Tháp Chăm gần như luôn mở cửa thật về hướng Đông. Cửa tháp Vĩnh Hưng quay về hướng Tây Nam, một điều hiếm gặp ở công trình chịu ảnh hưởng Ấn Độ và tới nay vẫn chưa có lời giải thích được mọi người chấp nhận.
Ghi những khác biệt ấy không phải để xếp bên nào hơn bên nào, mà để gọi đúng tên một di sản. Gộp Vĩnh Hưng vào tháp Chăm là làm mất dấu của cả một nền văn hóa từng có mặt ở đồng bằng sông Cửu Long.
IITấm Bia Năm 892 Và Một Nghìn Năm Lớp Đất
Mốc niên đại chắc nhất của nơi này không nằm ở khối gạch mà nằm ở một tấm bia chữ Phạn tìm được tại chỗ. Theo tư liệu đã công bố, bia ghi tháng Karhila năm 814 theo lịch Saka, tương ứng với năm 892 sau Công nguyên, cùng với địa danh Lục Hiền và tên một vị vua được phiên là Yacovarman. Chính tấm bia ấy đã cho ngôi tháp một cái tên thứ hai là tháp Lục Hiền.
- Thế kỷ 4 trở điLớp cư trú và thờ tự sớm nhấtHồ sơ di tích ghi lớp văn hóa tại đây bắt đầu từ khoảng thế kỷ 4 sau Công nguyên, thuộc văn hóa Óc Eo, và kéo dài liên tục nhiều thế kỷ sau đó.
- 892Tấm bia chữ PhạnBia ghi tháng Karhila năm 814 lịch Saka, tương ứng năm 892 sau Công nguyên, kèm địa danh Lục Hiền và tên một vị vua phiên là Yacovarman. Đây là mốc niên đại có văn tự duy nhất của di tích.
- 1911Người Pháp khảo tả di tíchNgôi tháp được các nhà nghiên cứu người Pháp ghi vào danh mục và mô tả, mở đầu cho việc nghiên cứu có hệ thống về công trình này.
- 1988 tới 1993Ba đợt khai quật đầu tiênKhai quật tiến hành trong các năm 1988, 1990 và 1993, thu được đồ gốm, ngói còn nguyên và nhiều tượng đồng thuộc truyền thống Óc Eo.
- 1992Di tích cấp quốc giaTháp được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, đưa công trình vào diện bảo vệ.
- 2002 và 2011Hai đợt khai quật lớnHai đợt này làm lộ thêm nền móng và thu được nhóm hiện vật quan trọng nhất, trong đó có những pho về sau được công nhận bảo vật quốc gia.
- Từ 2020Công nhận bảo vật quốc giaNăm hiện vật tìm được tại di tích lần lượt được công nhận bảo vật quốc gia, gồm tượng Nữ thần Laksmi, tượng thần Sadashiva, đầu tượng thần Shiva, phù điêu Nữ thần Uma và tượng Nam thần.
- 2024Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng theo Quyết định số 694 ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ, với tên gọi di tích khảo cổ Vĩnh Hưng.
Hai chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nói rõ để quý vị khỏi phải chọn bừa.
Niên đại tấm bia. Phần lớn tư liệu ghi bia có niên đại năm 892 và nhắc tên vị vua phiên là Yacovarman. Nhưng bản tin của VnExpress lại dẫn cách đọc của nhà nghiên cứu Henri Parmentier, theo đó bia mang niên đại 872 và gắn với một vị vua tên Jayavarman. Hai cách đọc lệch nhau hai mươi năm và lệch cả tên vua. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn một con số khi chưa thấy bản dịch bia được công bố đầy đủ.
Kích thước ngôi tháp. Hồ sơ di tích ghi tháp đo được 9,36 mét nhân 9,44 mét, cao gần 9,5 mét, tường ở phần dưới dày khoảng 1,8 mét rồi mỏng dần khi lên cao. Nhiều tài liệu khác lại ghi tháp hình chữ nhật một cạnh 5,6 mét, cạnh kia 6,9 mét, cao trong quãng 8,2 tới 8,9 mét. Cách giải thích hợp lý nhất là bộ số thứ nhất đo cả khối tường ngoài, bộ số thứ hai đo lòng tháp hoặc đo phần thân phía trên, nhưng vì chưa nguồn nào nói rõ mình đo cái gì nên chúng tôi ghi cả hai.
IIIMột Khối Gạch Trơn Và Cái Vòm Cuốn Bên Trong
Nhìn từ ngoài, tháp Vĩnh Hưng là một khối gạch gần như trơn. Không hoa văn, không phù điêu gắn tường, không hệ mái nhiều tầng giả. Cái đẹp của nó không nằm ở trang trí mà nằm ở khối và ở độ dày của tường, thứ cho người xem cảm giác về một công trình được xây để đứng rất lâu.
Mặt bằng gần vuông, các góc được giật cấp nhiều lần tạo thành những bậc vuông lồi ra lõm vào. Đây là nét dễ nhận của kiến trúc gạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ này.
Theo hồ sơ di tích, tường ở phần dưới dày khoảng 1,8 mét, mỏng dần khi lên cao. Chính độ dày ấy giữ cho khối tháp đứng được trên nền đất mềm của đồng bằng.
Lòng tháp kết thúc bằng một vòm gạch cuốn lên, xây theo lối xếp từng lớp gạch nhô dần vào giữa. Ngẩng đầu nhìn lên là thấy rõ cách xếp ấy.
Một cửa lớn duy nhất, quay về hướng Tây Nam thay vì hướng Đông. Đây là điều hiếm gặp ở công trình chịu ảnh hưởng Ấn Độ và tới nay chưa có lời giải thích dứt điểm.
Chủ yếu là gạch, có dùng thêm đá cho một số cấu kiện và ngói cho phần che. Đây là điểm khác với tháp Chăm, vốn gần như thuần gạch ở phần thân và mái.
Một ngôi chùa khoảng trăm năm tuổi dựng ngay cạnh tháp, nay nằm chung trong tường rào khu di tích. Hai công trình cách nhau cả nghìn năm và thuộc hai truyền thống tôn giáo khác nhau.
Óc Eo Hậu Kỳ Và Dáng Tiền Angkor
Óc Eo là tên một nền văn hóa khảo cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, gắn với vương quốc Phù Nam trong những thế kỷ đầu Công nguyên, với một hệ thống cảng thị, kênh đào và nghề thủ công đã ở trình độ cao. Sau khi Phù Nam suy, lớp văn hóa ấy không mất mà chuyển sang giai đoạn thường gọi là hậu Óc Eo, trùng với thời kỳ vùng này thuộc ảnh hưởng của Chân Lạp, tức giai đoạn tiền Angkor của lịch sử Khmer.
Tháp Vĩnh Hưng thuộc đúng lớp ấy. Hình dáng của nó, từ bình đồ giật cấp, tường dày, vòm cuốn trong lòng cho tới mặt ngoài không trang trí, đều là ngôn ngữ của đền tháp gạch tiền Angkor chứ không phải của kalan Chăm. Điều đáng quý là cả vùng Tây Nam Bộ chỉ còn lại một ngôi thuộc lớp này còn đứng, nên mọi kết luận về kiến trúc gạch của giai đoạn ấy ở đồng bằng sông Cửu Long đều phải quay về đây mà đối chiếu.
Về kỹ thuật, gạch ở đây cũng xếp khít và mạch vữa rất mảnh, cùng một bài toán chưa có lời đáp dứt điểm như ở tháp Chăm. Nhưng nền đất thì khác hẳn: đồng bằng sông Cửu Long là đất phù sa mềm và ngập nước theo mùa, không phải nền đá hay nền cát chặt của dải ven biển miền Trung. Một khối gạch nặng đứng nghìn năm trên nền ấy là điều mà giới nghiên cứu vẫn còn bàn.
IVThế Đất Và Hướng
Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Phong thủy là một hệ thuật số của vùng Đông Á, người dựng ngôi tháp này không dùng nó. Theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp Ấn Độ Giáo, đền thờ mở cửa về hướng Đông để ánh sáng đầu ngày rọi qua cửa tới được vật thờ, và đó là lệ chung mà tháp Chăm cùng phần lớn đền tháp Khmer đều theo. Riêng ngôi tháp này lại quay cửa về hướng Tây Nam, tức là một ngoại lệ ngay trong chính hệ của nó. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều chép trong bia và cũng không phải điều người dựng tháp tính tới.
Đọc theo lối cũ của người Việt thì trước hết là gò nổi giữa đồng nước. Ngôi tháp đặt trên một khoảnh đất cao hơn mặt ruộng chung quanh, giữa vùng phù sa thấp và ngập theo mùa. Trong phép xem đất, một gò nổi giữa đồng nước là chỗ tụ, vì nước bao quanh mà đất vẫn giữ được mặt khô. Cư dân Óc Eo chọn chỗ ấy vì lý do thực tế của người sống với nước, và kết quả trùng với cái mà phép xem đất của người Việt gọi là đất tụ khí.
Thứ hai là hướng Tây Nam, chỗ đáng bàn nhất. Trong phép cũ của người Việt, đền miếu quay hướng Nam hoặc hướng Đông được coi là thuận, còn hướng Tây thường bị chê là hướng của khí lặn. Chiếu theo lối ấy thì cửa tháp Vĩnh Hưng là một hướng lạ. Nhưng phải nhắc lại rằng người dựng không theo hệ ấy, và ngay trong hệ của chính họ thì đây cũng là ngoại lệ so với lệ hướng Đông. Các cách lý giải từng được nêu gồm đặt cửa theo dòng chảy và lối đi lại bằng ghe thuyền của vùng đồng bằng, hoặc theo một thần tích riêng đã thất truyền. Chưa cách nào được chứng minh, và chúng tôi ghi lại đúng như những giả thiết.
Thứ ba là quan hệ với nước. Ở miền Trung, tháp Chăm hay đứng trên đồi hoặc gò cao, lấy chiều đứng làm thế. Ở đây không có chiều đứng nào để lấy, cả vùng phẳng như mặt bàn, nên thế của công trình phải nằm ở quan hệ với hệ thống kênh rạch. Trong khu di tích còn có giếng, và nước tắm vật thờ được dẫn ra giếng ấy. Đọc theo lối cổ truyền thì đó là một cấu trúc nước rất chặt: nước từ trời rơi xuống, qua vật thờ, rồi về giếng để người ta xin lại.
Cuối cùng là cái khối thay cho ngọn núi. Kiến trúc Ấn Độ Giáo dựng lại ngọn núi thiêng ngay trong công trình, nên tháp không cần một dãy núi sau lưng. Ở tháp Vĩnh Hưng, cái ý ấy được nói bằng một ngôn ngữ khác với tháp Chăm: không phải bằng nhiều tầng mái thu nhỏ dần, mà bằng một khối gạch đặc, tường rất dày và một vòm cuốn kín bên trong. Cùng một giáo nghĩa, hai vùng đất, hai cách dựng hình. Chúng tôi ghi các nhận xét ấy đúng như một cách đọc, và dừng ở đó.
VNghi Thức Thờ Tự Trong Ngôi Đền
Nghi thức của lớp dựng tháp đã thất truyền từ lâu. Bảng dưới đây dựng lại các nghi thức vốn có trong một ngôi đền Ấn Độ Giáo thuộc lớp Óc Eo hậu kỳ, căn cứ vào vật thờ, vào cấu tạo công trình và vào hiện vật khai quật, chứ không phải lịch lễ đang hành ở đây. Sinh hoạt thờ cúng hiện nay trong khuôn viên là của ngôi chùa dựng cạnh tháp, thuộc một truyền thống khác và một lớp thời gian khác.
| Nghi thức | Nội dung | Dấu vết còn thấy |
|---|---|---|
| Tắm Linga | Chủ tế rót nước hoặc dầu thơm lên đỉnh Linga, nước chảy xuống mặt Yoni rồi thoát ra theo vòi. | Bộ Linga và Yoni trong lòng tháp, cùng giếng trong khu di tích nhận nước tắm vật thờ. |
| Dâng hoa, hương và lửa | Nghi thức cúng thường ngày của đền Ấn Độ Giáo, dâng trước vật thờ chứ không dâng cho đám đông. | Lòng tháp là một buồng kín có vòm cuốn, một cửa duy nhất, tính cho người chủ tế đứng trước bệ thờ. |
| Thờ theo dòng Shiva | Vật thờ chính là bộ Linga trên bệ Yoni, biểu tượng của nguyên lý sinh thành. | Đầu tượng thần Shiva và tượng thần Sadashiva tìm được tại di tích, nay là bảo vật quốc gia. |
| Thờ các vị nữ thần | Bên cạnh vị thần chính, đền còn đặt tượng các vị nữ thần thuộc cùng hệ. | Tượng Nữ thần Laksmi và phù điêu Nữ thần Uma tìm được tại di tích, cùng trong nhóm bảo vật quốc gia. |
| Dâng cúng và khắc bia | Người dâng cúng cho đền được ghi lại bằng bia đá chữ Phạn, kèm niên đại và tên người bảo trợ. | Tấm bia chữ Phạn ghi niên đại năm 892, địa danh Lục Hiền và tên một vị vua. |
| Tu bổ đền qua nhiều đời | Việc sửa đền được coi là một hành vi công đức, nên một ngôi đền có thể mang nhiều lớp niên đại. | Lớp văn hóa tại chỗ kéo dài từ khoảng thế kỷ 4 tới thế kỷ 13, với hiện vật thuộc nhiều giai đoạn khác nhau. |
Người trong vùng ngày nay tới khu di tích vào dịp đầu năm và các ngày rằm mùng một, phần lớn là lễ ở ngôi chùa bên cạnh. Đó là một lớp thực hành muộn, mọc lên cạnh di tích chứ không nối tiếp nghi thức của ngôi đền cũ, và chúng tôi ghi lại đúng như vậy, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- ấp Trung Hưng 1B, xã Châu Thới, tỉnh Cà Mau
- Đường tới
- Di tích nằm ở ấp Trung Hưng 1B, xã Châu Thới, tỉnh Cà Mau, cách trung tâm Bạc Liêu cũ chừng hai mươi cây số về phía tây bắc. Hồ sơ di tích ghi theo đơn vị cũ là xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- Toạ độ
- 9.3921, 105.5781
Đây vừa là di tích khảo cổ vừa có một ngôi chùa đang sinh hoạt trong cùng khuôn viên, nên có hai lớp lệ cùng lúc. Lệ giữ hiện vật: không chạm và không tựa vào mặt gạch, không cắm hương vào khe tường, không trèo lên phần nền móng đã lộ sau khai quật. Lệ của nơi thờ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong tháp và vào chùa, đi nhẹ nói khẽ. Hiện vật bảo vật quốc gia trưng bày tại chỗ là bản sao, bản gốc giữ trong kho, xin quý vị đọc bảng chú thích trước khi hỏi.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Vĩnh Hưng
Contribute photos, information or video for Vinh Hung Ancient TowerThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Vĩnh Hưng có phải tháp Chăm không
Không. Đây là công trình của văn hóa Óc Eo hậu kỳ ở đồng bằng sông Cửu Long, mang dáng đền tháp gạch của vùng Khmer thời tiền Angkor. Tháp Chăm là công trình của vương quốc Chăm Pa ở dải ven biển miền Trung, có khối ba phần với mái nhiều tầng giả, ba mặt cửa giả và hoa văn chạm dày, đều là những thứ tháp Vĩnh Hưng không có.
Tháp Vĩnh Hưng thờ ai
Vật thờ trong lòng tháp là bộ Linga trên bệ Yoni, tức vật thờ của Shiva trong Ấn Độ Giáo. Hiện vật khai quật còn có tượng thần Sadashiva, đầu tượng thần Shiva, tượng Nữ thần Laksmi và phù điêu Nữ thần Uma, cho thấy đây là một ngôi đền Ấn Độ Giáo chứ không phải chùa.
Tháp Vĩnh Hưng có từ năm nào
Mốc có văn tự là tấm bia chữ Phạn ghi tháng Karhila năm 814 lịch Saka, tương ứng năm 892 sau Công nguyên. Một cách đọc khác của Henri Parmentier lại ghi niên đại 872. Lớp văn hóa tại chỗ thì kéo dài từ khoảng thế kỷ 4 tới thế kỷ 13.
Vì sao cửa tháp Vĩnh Hưng không quay hướng Đông
Cửa tháp quay hướng Tây Nam, một điều hiếm gặp ở công trình chịu ảnh hưởng Ấn Độ, vốn có lệ mở cửa hướng Đông để ánh sáng đầu ngày rọi tới vật thờ. Các cách lý giải từng được nêu gồm đặt cửa theo dòng chảy và lối đi lại bằng ghe thuyền, hoặc theo một thần tích đã thất truyền, nhưng chưa cách nào được chứng minh.
Tháp Vĩnh Hưng có mấy bảo vật quốc gia
Năm hiện vật tìm được tại di tích đã được công nhận bảo vật quốc gia, gồm tượng Nữ thần Laksmi, tượng thần Sadashiva, đầu tượng thần Shiva, phù điêu Nữ thần Uma và tượng Nam thần. Bản gốc được bảo quản trong kho, tại chỗ trưng bày bản sao.