VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Keo Hành Thiện

Thần Quang tự

Ngôi chùa mang cùng một tên chữ với chùa Keo bên kia sông, cùng một vị Thánh tổ, cùng một gốc tích, mà là hai di tích riêng biệt.

Khởi dựng
1061
hồ sơ di tích ghi năm Tân Sửu, đời Lý Thánh Tông
Dựng lại
sau 1611
sau khi nước sông Hồng vùi ngôi chùa gốc
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016

Quý vị đi vào làng Hành Thiện bằng một con đường men theo dòng nước bao quanh làng, và chỉ đi một vòng là nhận ra làng này được sắp đặt chứ không mọc tự nhiên: các xóm xếp thành dải song song như những chiếc xương, con đường giữa chạy dọc như một cái sống, cả làng nằm gọn giữa hai nhánh nước. Người trong vùng gọi đó là thế cá chép vượt vũ môn. Ở phía đầu làng, dưới bóng cây và sau một mặt hồ, là chùa Keo.

Bước vào sân, quý vị gặp một tòa gác chuông hai tầng mái chồng lên nhau, bộ khung gỗ lim để mộc, không sơn thếp. Phía trong là chùa thờ Phật, phía sau chùa Phật là đền thờ Thánh. Và điều lạ nhất của nơi này thì không nhìn thấy được: đã hàng trăm năm nay chùa không có sư trụ trì, người trông nom là các thủ từ của chính làng, thay phiên nhau theo lượt.

ITên Gọi Và Hai Ngôi Chùa Keo

Tên chữ của chùa là Thần Quang tự. Tên nôm là chùa Keo, gọi theo tên nôm của vùng đất gốc. Vì có tới hai ngôi cùng mang cả tên chữ lẫn tên nôm ấy, người ta phải thêm chữ để phân biệt, và ngôi này được gọi là chùa Keo Hành Thiện theo tên làng, hoặc Keo dưới theo vị trí trên dòng sông.

Cần nói thêm rằng tại chính làng Hành Thiện có hai ngôi chùa Keo nữa đứng cạnh nhau, và đây là chỗ thứ hai dễ lẫn. Hồ sơ di tích gọi ngôi chính là chùa Keo trong, tức Thần Quang tự, khởi dựng năm 1061. Ngôi bên cạnh là chùa Keo ngoài, tên chữ Đĩnh Lan tự, dựng năm Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên, tức năm 1778. Cả hai cùng nằm trong một di tích được xếp hạng.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này: có hai ngôi chùa Keo ở hai bờ sông Hồng, và đây là hai di tích khác nhau, không phải một nơi được gọi bằng hai tên.

Cả hai cùng một gốc. Gốc ấy là ngôi chùa Nghiêm Quang do Thiền sư Dương Không Lộ dựng ven sông Hồng, mang tên Thần Quang tự từ năm 1167. Các đợt vỡ đê và lụt lớn, hồ sơ di tích ghi vào hai năm Mậu Tý 1588 và Tân Hợi 1611, đã vùi lấp ngôi chùa gốc. Dân làng chia làm hai ngả, một nhóm sang bờ tả, một nhóm ở lại bờ hữu. Mỗi bên dựng lại một ngôi chùa, giữ nguyên tên chữ Thần Quang tự và giữ nguyên việc thờ Thiền sư Không Lộ.

Phân biệt như sau. Chùa Keo trên, còn gọi là chùa Keo Thái Bình, ở bờ tả, thuộc tỉnh Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, nổi tiếng nhất ở tòa gác chuông ba tầng mười hai mái và được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2012. Chùa Keo dưới, tức chùa Keo Hành Thiện, là ngôi quý vị đang đọc, ở bờ hữu, thuộc tỉnh Nam Định cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình, có gác chuông hai tầng tám mái kiểu chồng diêm và được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2016. Hai ngôi có hai hồ sơ riêng, hai quyết định xếp hạng riêng, và hai kỳ hội riêng.

Theo giáo nghĩa

Cả hai ngôi đều theo lối tiền Phật hậu Thánh: phía trước thờ Phật theo Phật giáo Bắc tông, phía sau thờ Thiền sư Dương Không Lộ ở ngôi Thánh tổ, có ngày sinh ngày hóa, có đám rước và có văn tế riêng. Lối này là nếp chung của một nhóm chùa vùng hạ lưu sông Hồng, nơi các vị cao tăng thời Lý được dân gian nâng lên hàng Thánh và thờ theo lối thờ thần. Dương Không Lộ được xếp vào nhóm ba vị mà dân gian gọi là Nam thiên Tam vị Thánh tổ, cùng Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh.

IITừ Nghiêm Quang Tới Hành Thiện

Theo sử liệu

Ở đây có một chỗ vênh về niên đại mà quý vị nên biết trước. Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi chùa Keo trong, tức Thần Quang tự, khởi dựng năm Tân Sửu 1061, đời Lý Thánh Tông, do Thiền sư Dương Không Lộ sáng lập. Nhưng con số 1061 ấy thuộc về ngôi chùa gốc bên dòng sông, ngôi đã bị nước vùi. Các tài liệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia và phần lớn bản tin lại lấy mốc 1611, tức lúc dân làng dời về đất Hành Thiện và dựng lại, nên mới có cách nói quen thuộc rằng chùa đã hơn bốn trăm năm tuổi.

Hai con số ấy vênh nhau tới năm trăm năm mươi năm, và chúng tôi ghi cả hai. Chúng không mâu thuẫn nếu hiểu đúng: 1061 là tuổi của dòng thờ tự, 1611 là tuổi của ngôi chùa đang đứng trên đất này. Ai lấy mốc nào là tùy chỗ họ đặt câu hỏi, còn người đọc thì nên nắm cả hai.

  • 1061Dựng chùa Nghiêm Quang
    Năm Tân Sửu đời Lý Thánh Tông, Thiền sư Dương Không Lộ dựng chùa ven sông Hồng. Đây là gốc chung của cả hai ngôi chùa Keo về sau.
  • 1167Mang tên Thần Quang tự
    Chùa đổi sang tên chữ Thần Quang tự, tên vẫn được dùng tới nay ở cả hai ngôi Keo.
  • 1588 và 1611Nước sông Hồng vùi chùa gốc
    Hồ sơ di tích ghi hai năm Mậu Tý 1588 và Tân Hợi 1611. Dân làng chia hai ngả sang hai bờ, mỗi bên lập làng mới và dựng lại chùa.
  • Thế kỷ 17Dựng lại trên đất Hành Thiện
    Nhóm ở lại bờ hữu lập làng Hành Cung, về sau đổi là Hành Thiện, và dựng lại ngôi chùa mang nguyên tên chữ cũ. Đây là mốc mà phần lớn bản tin dùng khi nói chùa hơn bốn trăm năm tuổi.
  • 1778Dựng chùa Keo ngoài
    Năm Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên, ngôi chùa thứ hai trong làng được dựng, tên chữ Đĩnh Lan tự, quay hướng đông bắc, khuôn viên rộng một mẫu Bắc Bộ.
  • Thời NguyễnCác đợt trùng tu
    Hồ sơ di tích ghi chùa được tu sửa tôn tạo qua các triều Lý, Trần, Lê và Nguyễn. Phần lớn cấu kiện gỗ và hệ thống chạm khắc còn lại hôm nay thuộc các lớp trùng tu thời Lê và Nguyễn.
  • 2016Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật.
  • 2019Lễ hội vào danh mục di sản phi vật thể
    Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Một nét riêng nữa thuộc về làng chứ không thuộc về chùa, nhưng không tách ra được. Hành Thiện là đất khoa bảng có tiếng của vùng hạ lưu sông Hồng, báo chí dẫn con số hàng trăm người đỗ đạt qua các đời. Một làng nhiều nho sĩ như vậy thì nhà chùa và nhà nho sống cạnh nhau, và điều đó để lại dấu trong chính cách ngôi chùa được trông nom.

IIIBố Cục Và Gác Chuông

Chùa Keo trong chiếm hơn một hécta, dựng theo lối nội công ngoại quốc: các tòa chính bên trong xếp thành hình chữ công, hai dãy hành lang và các nếp nhà phía sau khép lại thành một khung vuông bao quanh. Trục đi từ ngoài vào gồm tam quan ngoại ba gian, rồi tam quan nội kiêm gác chuông, rồi chùa Phật, rồi đền Thánh.

Gác chuông

Tam quan nội kiêm gác chuông, năm gian, hai tầng, dựng theo lối chồng diêm hai tầng tám mái. Bản tin dẫn số liệu gác cao 7,5 mét, gồm 8 cột đại trụ và 16 cột quân. Đây là hạng mục được nhắc tới nhiều nhất về mặt nghề mộc.

Chùa Phật

Ba nếp nối nhau gồm tiền đường năm gian, thiêu hương ba gian và thượng điện ba gian. Đây là phần tiền trong lối tiền Phật hậu Thánh.

Đền Thánh

Nằm sau chùa Phật, gồm tiền đường năm gian, trung đường ba gian và hậu cung ba gian, thờ Thiền sư Dương Không Lộ ở ngôi Thánh tổ.

Hai dãy hành lang

Hai dãy tả hữu, hồ sơ di tích ghi mỗi dãy 38 gian, dài khoảng 86 mét. Chính hai dãy này khép khu chùa thành hình chữ quốc bên ngoài.

Nhà tổ, phủ Mẫu và nhà ký đồ

Các nếp nhà phụ trong khuôn viên, trong đó nhà ký đồ ba gian là nơi cất giữ đồ tế khí và đồ rước của chùa.

Chùa Keo ngoài

Ngôi thứ hai trong làng, tên chữ Đĩnh Lan tự, quay hướng đông bắc, khuôn viên một mẫu Bắc Bộ, gồm tam quan, hai dãy hành lang, chùa chính với tiền đường năm gian và thiêu hương hai gian, cùng một gác chuông hai tầng tám mái kiểu chồng diêm.

Hiện vật trong chùa gồm tượng pháp, bia ký, sắc phong, nhang án, kiệu, chuông, khánh, hoành phi và câu đối, chất liệu trải từ gỗ, đá tới đồng, gốm sứ và giấy. Một số hiện vật đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Đáng chú ý về mặt nghề là bộ khung gỗ lim để mộc, không sơn thếp, nên các mảng chạm hiện ra bằng chính thớ gỗ chứ không bằng màu.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điểm hay bị nói gộp: gác chuông chùa Keo Hành Thiện không phải tòa gác chuông ba tầng mười hai mái thường thấy trên ảnh. Tòa ấy thuộc chùa Keo bên tả ngạn, ở tỉnh Hưng Yên. Gác chuông của ngôi Hành Thiện là gác hai tầng tám mái kiểu chồng diêm, thấp hơn và gọn hơn, đẹp theo cách khác. Ảnh của hai nơi bị dùng lẫn cho nhau khá thường xuyên, vì hai chùa cùng tên chữ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Cái phải đọc trước tiên ở đây không phải ngôi chùa mà là cả làng. Hành Thiện nằm gọn giữa hai nhánh nước, thân làng dài, các xóm xếp thành dải ngang song song, một con đường chạy dọc ở giữa. Người trong vùng gọi thế đất ấy là cá chép vượt vũ môn. Đọc theo phép cũ thì đây là một thế đất được nước bao trọn, tức là khí không tán ra bốn phía, và cái hình con cá thì ứng thẳng vào chí hướng khoa cử: cá chép vượt được vũ môn thì hóa rồng, mà trong ngôn ngữ cũ của nhà nho, vượt vũ môn là thi đỗ.

Ngôi chùa đặt ở phần đầu của con cá ấy. Trong phép xem đất, đầu là chỗ khí tụ mạnh nhất của một thế đất có hình, và người xưa đặt nơi thờ tự vào đúng chỗ ấy chứ không đặt giữa thân làng. Trước chùa có mặt nước làm minh đường, sau lưng là xóm làng làm chỗ tựa. Ở vùng châu thổ không có núi để làm hậu chẩm, thì nếp nhà quần tụ đông đúc giữ vai trò ấy, và đó là một biến thể quen thuộc của đồng bằng sông Hồng.

Xét theo ngũ hành, cả vùng này thuộc thế Thủy vượng: sông lớn phía ngoài, nhánh nước bao làng phía trong, hồ trước chùa. Thủy chủ về trí, về chữ nghĩa, về sự lưu thông. Một làng có thế đất như vậy mà nổi tiếng về đường học hành thì theo lối đọc cũ là đắc cách, tức hình đất và việc của người ở đó ứng vào nhau. Vị Thánh tổ được thờ trong chùa cũng là người từng đi trên sông nước mà dựng chùa, nên cái mạch nước ấy chạy suốt từ thần tích sang thế đất sang nghề nghiệp của dân làng.

Về hướng, ngôi chùa chính quay ra phía mặt nước trước làng, còn ngôi chùa Keo ngoài thì hồ sơ di tích ghi quay hướng đông bắc. Hướng đông bắc không phải hướng được sách vở chuộng, nhưng ở đồng bằng thì hướng của một công trình thường bị quy định bởi hướng dòng nước và hướng đường làng hơn là bởi la bàn. Đây là chỗ mà phép xem đất thực địa khác với phép xem đất trên giấy, và người đọc nên biết chỗ khác ấy.

VHai Mùa Hội Và Lệ Bơi Trải Đứng

Chùa có hai kỳ hội trong năm, một vào mùa xuân và một vào mùa thu. Kỳ lớn nhất là hội thu, mở vào trung tuần tháng chín âm lịch, kỷ niệm ngày sinh của Đức Thánh tổ Dương Không Lộ.

Hai kỳ hội trong năm của chùa Keo Hành Thiện. Ngày chính của từng kỳ được các nguồn ghi hơi khác nhau, chúng tôi ghi cả các cách ghi ấy. Nguồn: Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa và tài liệu của ngành du lịch tỉnh..
Kỳ lễNgày âm lịchNội dung
Hội xuân chùa trongTháng GiêngKỳ lễ đầu năm tại ngôi Thần Quang tự, dâng hương và các khoa cúng theo lệ làng.
Hội xuân chùa ngoàiTháng HaiKỳ lễ của ngôi Đĩnh Lan tự, mở sau kỳ tháng Giêng. Nguồn ghi ngày chính không thống nhất, có bản ghi ngày rằm.
Hội thu, phần lễTrung tuần tháng ChínLễ phụng nghinh, nghi lễ Thánh đản kỷ niệm ngày sinh Đức Thánh tổ, rước kiệu và dâng hương. Nguồn ghi ngày chính là 13 tới 15, có bản ghi 12 và 15.
Hội thu, phần hộiTrung tuần tháng ChínKhoa giáo rối, hát chèo cạn, lễ yến lão, cầu đu và chọi gà theo lệ của các giáp trong làng.
Bơi trải đứngTrong kỳ hội thuCuộc đua thuyền trên dòng nước bao quanh làng, người bơi đứng chèo chứ không ngồi. Đây là lệ riêng làm nên tên tuổi của hội.

Lệ bơi trải đứng là chỗ đáng kể nhất. Ở phần lớn các nơi, người đua thuyền ngồi mà chèo. Ở Hành Thiện, cả đội đứng thẳng trên lòng thuyền hẹp mà chèo, nên đòi hỏi giữ thăng bằng theo một lối riêng và phải tập từ trước. Một kỳ hội chùa kết bằng cuộc đua thuyền như vậy cho thấy đây không thuần là hội Phật, mà là hội của cả một làng sông nước.

Một nét nữa thuộc về sinh hoạt thường ngày. Chùa không có sư trụ trì đã hàng trăm năm nay. Việc trông nom do các thủ từ của làng đảm nhiệm, bản tin ghi khoảng ba mươi người thay phiên, mỗi người một lượt nửa tháng, chức ấy giữ theo lối cha truyền con nối. Dân gian giải thích bằng một lời nguyền gắn với Thiền sư Không Lộ, còn cách giải thích thực tế hơn dựa vào chỗ chùa không có ruộng vườn để nuôi tăng chúng. Chúng tôi ghi cả hai, không xếp bên nào đúng hơn.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Chùa nằm ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình, thuộc địa phận tỉnh Nam Định cũ, bên hữu ngạn sông Hồng. Ngôi chùa Keo còn lại ở bờ bên kia sông nay thuộc tỉnh Hưng Yên, là một di tích riêng.
Toạ độ
20.3422, 106.3217
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động do chính làng trông nom, nên lệ của làng là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung đền Thánh, không chạm tay vào nhang án, kiệu và các mảng chạm gỗ để mộc. Hai dãy hành lang dài và hẹp, quý vị đi một chiều để khỏi vướng người khác. Vì chùa không có sư, mọi việc xin phép nên hỏi người thủ từ đang đến lượt trực.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Keo Hành Thiện

Contribute photos, information or video for Keo Hanh Thien Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Keo Hành Thiện và chùa Keo Thái Bình có phải một không

Không. Đây là hai di tích riêng, cùng mang tên chữ Thần Quang tự và cùng thờ Thiền sư Dương Không Lộ vì cùng gốc từ ngôi chùa Nghiêm Quang bị nước sông Hồng vùi lấp. Ngôi bên tả ngạn nay thuộc tỉnh Hưng Yên, xếp hạng quốc gia đặc biệt năm 2012. Ngôi Hành Thiện thuộc tỉnh Ninh Bình, xếp hạng năm 2016.

Chùa Keo Hành Thiện có từ năm nào

Nguồn vênh nhau. Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi khởi dựng năm Tân Sửu 1061 đời Lý Thánh Tông, đó là tuổi của dòng thờ tự tính từ ngôi chùa gốc. Các tài liệu bảo tàng và phần lớn bản tin lấy mốc 1611, tức lúc dân làng dời về Hành Thiện dựng lại, nên nói chùa hơn bốn trăm năm tuổi.

Chùa Keo Hành Thiện thờ ai

Thờ Phật theo Phật giáo Bắc tông ở phía trước và Thiền sư Dương Không Lộ ở ngôi Thánh tổ phía sau, tức lối tiền Phật hậu Thánh. Trong khuôn viên còn có phủ Mẫu. Dương Không Lộ được dân gian xếp vào nhóm Nam thiên Tam vị Thánh tổ cùng Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh.

Vì sao chùa Keo Hành Thiện không có sư trụ trì

Chùa do các thủ từ của làng trông nom, khoảng ba mươi người thay phiên mỗi lượt nửa tháng, giữ theo lối cha truyền con nối. Dân gian giải thích bằng một lời nguyền gắn với Thiền sư Không Lộ, còn cách giải thích thực tế hơn dựa vào chỗ chùa không có ruộng vườn để nuôi tăng chúng.

Hội chùa Keo Hành Thiện mở vào ngày nào

Có hai kỳ. Hội xuân mở tháng Giêng ở chùa trong và tháng Hai ở chùa ngoài. Kỳ lớn nhất là hội thu vào trung tuần tháng chín âm lịch, kỷ niệm ngày sinh Đức Thánh tổ, nguồn ghi ngày chính là 13 tới 15 và có bản ghi 12 và 15. Đặc sắc nhất là lệ bơi trải đứng.

Đọc Tiếp