VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền An Xá

Đền Đậu An

Ngôi đền của một làng đồng bằng mà ban chính lại thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, nơi còn giữ nguyên một lớp thờ Thiên tiên gần như không còn thấy ở đâu khác.

Niên đại theo hồ sơ
thế kỷ 16 tới 17
Cục Di sản ghi muộn nhất vào khoảng này
Tháp đất nung
12 tầng
cao 450 cm, cạnh đáy 150 cm, bảo vật quốc gia năm 2021
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2280 ngày 31 tháng 12 năm 2020

Bước qua sân gạch vào tòa tiền tế năm gian, quý vị sẽ gặp một điều lạ so với phần lớn đền miếu đồng bằng Bắc Bộ. Ban chính ở đây không thờ một vị thành hoàng làng, không thờ một vị tướng được phong thần, cũng không thờ Mẫu. Ban chính thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, vị đứng đầu cả bầu trời trong cách hình dung của lối thờ tự cổ, hai bên là Ngũ Lão Tiên Ông cùng các vị Thiên tiên và Địa tiên.

Ra ngoài sân, quý vị gặp điều lạ thứ hai: một ngọn tháp bằng đất nung cao chừng bốn mét rưỡi, thân chia nhiều tầng, kín đặc hình chạm. Tháp đất nung nhiều tầng vốn là thứ gắn với chùa Phật, nhưng ngọn tháp này đứng trong sân một ngôi đền thờ Ngọc Hoàng. Riêng hai chi tiết ấy đã đủ nói rằng An Xá không giống các ngôi đền chung quanh nó.

INgọc Hoàng Thượng Đế Và Lớp Thờ Thiên Tiên

Đền thờ Ngọc Hoàng Thượng đế ở ban chính, cùng Ngũ Lão Tiên Ông, các vị Thiên tiênĐịa tiên. Theo tài liệu di tích, các vị được thờ ở đây là những vị có công khai phá vùng đầm lầy hoang vu và dạy dân cày cấy. Đó là điểm mấu chốt: lớp thờ trời ở đây không treo lơ lửng trên cao mà cắm xuống đúng công việc của một làng châu thổ.

Hai chữ Hán đặt cạnh tên bài là cách ghi địa danh An Xá theo âm Hán Việt do thư viện suy ra, không phải chép từ hoành phi hay bia trong đền.

Theo giáo nghĩa

Theo hệ thần linh của Đạo Giáo, Ngọc Hoàng Thượng đế là vị cai quản cả cõi trời, đứng trên hàng thiên thần và cai quản cả các vị tiên. Dưới Ngọc Hoàng có nhiều hàng, trong đó Thiên tiên là tiên ở cõi trời và Địa tiên là tiên ở cõi đất. Vào tới đồng bằng Bắc Bộ, hệ ấy phần lớn không đứng được một mình: Ngọc Hoàng thường bị đẩy lên một ban phụ trong chùa, hoặc nhập vào ban Tam phủ Tứ phủ của tín ngưỡng thờ Mẫu, hoặc chỉ còn là một cái tên trong lời khấn. Rất ít nơi giữ được Ngọc Hoàng ở ban chính với đủ hàng tiên đi kèm, và An Xá là một trong số rất ít ấy.

Cần nói thêm cho đúng mức. Đây không phải một đạo quán theo nghĩa nghiêm ngặt của Đạo Giáo Trung Hoa, với đạo sĩ, kinh sách và giới luật. Đây là một ngôi đền làng, thờ theo lối dân gian, nhưng hệ thần linh được thờ thì lấy từ Đạo Giáo. Cái còn lại là bộ thần điện, không phải cả một tổ chức tôn giáo.

Theo sử liệu

Cái tên thứ hai của ngôi đền cũng đáng đọc. Nơi này quen được gọi là đền Đậu An, và chữ Đậu không phải một họ người hay một cái tên riêng. Theo tài liệu di tích của Cục Di sản văn hóa, đây là một trong tám di tích mang tên Đậu trên địa bàn huyện Phù Tiên xưa, tức vùng nay gồm Tiên Lữ và Phù Cừ cũ. Tài liệu ghi rõ rằng hình thức di tích mang tên Đậu gắn liền với Đạo Giáo, và chỉ thấy ở Hưng Yên chứ không thấy ở nơi nào khác trong cả nước. Một cái tên chỉ tồn tại trong một vùng hẹp, gắn với một lớp thờ cụ thể, thường là dấu vết của một truyền thống địa phương đã có chiều dài.

IIHai Cách Tính Tuổi Ngôi Đền

Đây là ngôi đền mà niên đại vênh nhau nặng nhất trong các nơi thư viện đã viết. Khoảng cách giữa hai cách tính không phải vài chục năm mà là gần hai nghìn năm. Chúng tôi ghi cả hai và nói rõ mỗi cách dựa vào đâu.

  • Lớp truyền thuyếtNgũ Lão Tiên Ông giáng trần và quán Thụy Ứng
    Truyền thuyết địa phương kể Ngọc Hoàng Thượng đế sai Ngũ Lão Tiên Ông cùng các vị thần tiên xuống giúp dân khai khẩn đất hoang, trừ thú dữ và dạy trồng cấy. Tài liệu báo chí dẫn lời địa phương ghi nơi thờ đầu tiên dựng từ trước Công nguyên với tên gọi Thụy Ứng Quán, tính tuổi đền khoảng hai nghìn hai trăm năm.
  • Thế kỷ 16Bệ thờ đất nung
    Bệ thờ đất nung trong đền mang dấu ấn niên đại thế kỷ 16 theo hồ sơ bảo vật quốc gia, là hiện vật có niên đại được xác định sớm nhất ở di tích.
  • Thế kỷ 16 tới 17Niên đại theo hồ sơ di tích
    Cục Di sản văn hóa ghi đền được xây dựng muộn nhất vào khoảng thế kỷ 16 tới 17, sau đó trùng tu tôn tạo nhiều lần. Đây là mốc dựa trên hiện vật và kiến trúc còn lại.
  • 1676 và 1773Khánh đá và chuông đồng
    Chiếc khánh đá mang niên hiệu Vĩnh Trị năm 1676, quả chuông đồng cao 1,7 mét nặng khoảng 880 kilôgam đúc niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba mươi tư năm 1773. Đây là hai mốc có văn tự xác nhận.
  • 2020Di tích quốc gia đặc biệt
    Đền An Xá được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2280 ký ngày 31 tháng 12 năm 2020.
  • 2021 và 2023Hai bảo vật quốc gia
    Tòa tháp đất nung được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2198 ký ngày 25 tháng 12 năm 2021. Bệ thờ đất nung được công nhận theo Quyết định số 41 ký ngày 30 tháng 1 năm 2023.
Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất ở đây là tuổi của ngôi đền. Xin nói thẳng bằng giọng sử liệu, không phê phán bên nào.

Cách tính thứ nhất, theo hồ sơ di tích. Cục Di sản văn hóa ghi đền được xây dựng muộn nhất vào khoảng thế kỷ 16 tới 17, rồi trùng tu nhiều lần. Cách tính này dựa vào những thứ sờ được và đọc được: bệ thờ đất nung phong cách thế kỷ 16, khánh đá niên hiệu Vĩnh Trị năm 1676, chuông đồng niên hiệu Cảnh Hưng năm 1773. Chữ muộn nhất cũng đáng chú ý: cơ quan quản lý để ngỏ khả năng đền có trước, chỉ không xác nhận được sớm tới đâu.

Cách tính thứ hai, theo truyền thuyết địa phương. Các bản kể trong vùng và một số bài báo ghi đền có từ trước Công nguyên, với tên gọi ban đầu là Thụy Ứng Quán, và tính tuổi đền vào khoảng hai nghìn hai trăm năm.

Hai cách tính ấy không cùng loại: một bên là niên đại khảo được, một bên là niên đại của truyền thuyết. Chúng tôi ghi cả hai vì cả hai đều đang được dùng. Điều đáng nói thêm: ngay cả khi lấy mốc dè dặt nhất là thế kỷ 16, An Xá vẫn là một trong những nơi hiếm hoi giữ được lớp thờ Thiên tiên ở đồng bằng Bắc Bộ, và giá trị ấy không phụ thuộc vào việc chọn con số nào.

IIIBố Cục Chữ Công Và Hai Bảo Vật

Đền quay mặt về hướng Nam, mặt bằng theo lối chữ Công, tức hai tòa ngang nối nhau bằng một tòa dọc ở giữa. Đây là bố cục quen của đình đền Bắc Bộ, nhưng ở An Xá có một chi tiết không quen: tòa nối giữa được làm hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối.

Tiền tế

Tòa ngoài, năm gian, dài khoảng 20,6 mét, rộng khoảng 8,05 mét, cao khoảng 9,79 mét.

Ống muống

Tòa nối giữa tiền tế và hậu cung, rộng khoảng 6,4 mét, cao khoảng 5,53 mét, làm hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối.

Hậu cung

Tòa trong cùng, ba gian, dài khoảng 9,2 mét, rộng khoảng 6,1 mét, đặt ban thờ Ngọc Hoàng Thượng đế cùng các vị tiên.

Đền Hạ và đền Thiên Quan

Hai nếp thờ ngoài trục chính. Tên đền Thiên Quan giữ đúng lớp nghĩa của hệ thần linh được thờ.

Đền Mẫu và đền Kỷ niệm

Sự có mặt của đền Mẫu cho thấy lớp thờ Mẫu đã nhập vào khuôn viên về sau, nằm cạnh chứ không thay chỗ lớp thờ Thiên tiên.

Đình Vô và Đình Căn

Hai hạng mục còn lại trong tổng thể di tích theo tài liệu của Cục Di sản văn hóa.

Tháp đất nung mười hai tầng

Đây là hiện vật làm nên tên tuổi của di tích. Tháp cao 450 xăngtimét, cạnh đáy 150 xăngtimét, thân chia mười hai tầng, làm bằng đất nung, đặt trên phần đế bệ bằng đá. Theo hồ sơ bảo vật quốc gia, phần thân đất nung mang niên đại thời Lê Trung Hưng, còn đế bệ đá mang niên đại thời Mạc, tức tháp đã qua ít nhất một lần dựng lại trên nền cũ.

Thứ đáng xem nhất là mặt ngoài. Toàn thân phủ kín hình chạm, đề tài trộn cả hai thế giới: có rồng, phượng, sư tử, tiên nữ, lực sĩ và ngựa có cánh, tức lớp hình của cõi thiêng, lại có cả cảnh người đấu vật, người bắn rắn, cùng hình chim, hươu và hổ, tức lớp hình của đời sống và của rừng rậm đầm lầy. Một ngọn tháp trong sân đền thờ Ngọc Hoàng mà trên thân lại có người đấu vật: đó là cách nghệ nhân làng đưa cõi trời xuống ngang tầm mắt người xem.

Về ngọn tháp này nguồn cũng ghi khác nhau. Hồ sơ bảo vật quốc gia và Cục Di sản ghi tháp có mười hai tầng, thân đất nung thời Lê Trung Hưng. Một số bài báo phổ thông lại gọi đây là tháp Cửu trùng, tức tháp chín tầng, và ghi niên đại vào thời Lý Trần. Chúng tôi lấy số liệu của hồ sơ bảo vật làm chính, nhưng vẫn ghi lại cách gọi kia để quý vị biết khi gặp phải.

Bệ thờ đất nung và bộ pháp khí

Bảo vật thứ hai là bệ thờ đất nung, còn gọi là nhang án đất nung, cao khoảng 1,10 mét, mặt bệ dài khoảng 2,78 mét và rộng khoảng 0,82 mét, dạng khối hộp chữ nhật, nhìn tổng thể có dáng một tòa sen lớn, mang dấu ấn niên đại thế kỷ 16. Một nhang án bằng đất nung cỡ ấy là thứ hiếm, vì đồ thờ lớn ở đồng bằng Bắc Bộ phần nhiều làm bằng gỗ hoặc bằng đá, còn đất nung khổ lớn rất khó nung đều và rất dễ nứt.

Ngoài hai bảo vật, đền còn giữ quả chuông đồng cao khoảng 1,7 mét, nặng khoảng 880 kilôgam, đúc niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba mươi tư tức năm 1773, và chiếc khánh đá niên hiệu Vĩnh Trị tức năm 1676. Hai hiện vật này có niên đại ghi bằng văn tự, làm cột mốc để đối chiếu với các cách tính tuổi khác nhau của ngôi đền.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là hướng Nam. Mặt tiền đền quay về phương Nam, đúng hướng mà đình đền Bắc Bộ chuộng nhất. Nhưng ở một ngôi đền thờ Ngọc Hoàng thì hướng Nam còn thêm một lớp nghĩa: trong lối nghĩ cổ, bậc chí tôn ngồi Bắc nhìn Nam, tức lưng dựa phương Bắc và mặt hướng về phương Nam, đó là thế của người cai quản. Đặt ban thờ vị đứng đầu cõi trời theo đúng thế ấy là làm cho chỗ ngồi hợp với ngôi vị, điều mà phép cũ gọi là đắc vị.

Thứ hai là thế đất của một vùng đầm lầy đã được khai phá. Theo chính thần tích của đền, các vị được thờ là những vị xuống khai phá vùng đầm lầy hoang vu và dạy dân cày cấy. Đọc theo lối địa lý cổ, đây là vùng Thủy vượng Thổ nhược, tức nước quá nhiều mà đất quá mỏng, một thế mà sách cũ coi là khó ở vì khí ẩm trệ. Việc đắp nền, đào mương, lên luống chính là việc bồi Thổ để chế Thủy: nói theo lối nhà nông thì đó là vỡ hoang, nói theo lối địa lý cổ thì đó là cải tạo thế đất.

Thứ ba là ngọn tháp trong sân. Theo phép cũ, ở vùng đất thấp và tản khí, người ta hay dựng một khối cao và nhọn để thu khí lại, gọi là văn bút. Một ngọn tháp mười hai tầng cao bốn mét rưỡi đứng giữa sân một ngôi đền đồng bằng làm đúng vai ấy: nó là điểm cao duy nhất, kéo mắt và kéo khí từ mặt bằng trải rộng dồn về một trục dựng đứng. Tháp ở đây không dùng để đựng xá lợi như tháp chùa, mà đứng như một trục nối đất với trời, hợp với nơi thờ vị chủ cõi trời.

Sau cùng là bố cục chữ Công: hai tòa ngang nối bằng một tòa dọc làm thành một hình khép, khí đi vào tiền tế, qua ống muống rồi dồn vào hậu cung mà không tản ra hai bên. Nhìn chung, đền An Xá cho thấy ở châu thổ Bắc Bộ, phong thủy phần lớn là phong thủy nhân tạo: không có núi thì đắp nền, không có mạch thì đào mương, không có bút thì dựng tháp. Đọc thế đất ở đây là đọc công sức của người làng chứ không phải đọc hình thế trời cho.

VLễ Tháng Tư Âm Lịch

Kỳ lễ lớn của đền mở vào tháng Tư âm lịch, không vào mùa xuân như phần lớn hội làng Bắc Bộ. Tháng Tư là lúc vụ chiêm sắp gặt, tức đúng khúc mà người làm ruộng ngóng trời nhất.

Trình tự kỳ lễ tháng Tư âm lịch. Cục Di sản ghi cả kỳ từ mùng 1 tới 12, tài liệu báo chí nêu riêng mùng 6 tới 8 là chính hội. Nguồn: Tài liệu di tích đền An Xá của Cục Di sản văn hóa và các bản tin về lễ hội đền Đậu An..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
Mùng 1 tháng TưMở cửa đền và cáo yếtBắt đầu kỳ lễ, trình việc mở hội trước ban thờ Ngọc Hoàng Thượng đế và các vị tiên.
Mùng 1 tới 12 tháng TưKỳ lễ hội chính trong nămTài liệu di tích của Cục Di sản văn hóa ghi lễ hội đền An Xá diễn ra trong khoảng này hằng năm.
Mùng 6 tới 8 tháng TưChính hộiTài liệu báo chí ghi đây là những ngày trọng nhất, tập trung phần tế và phần rước.
Trong những ngày chính hộiRước kiệu các vịKiệu của các vị được thờ được rước trong khuôn viên và quanh làng.
Trong những ngày chính hộiDiễn lại tích cũPhần hội có diễn lại tích người mẹ nghèo thắng hổ dữ, gắn với lớp truyền thuyết khai phá đầm lầy.
Ngày 12 tháng TưTế tạ và đóng hộiPhần tế cuối kỳ lễ, khép lại vòng hội của năm.

Tích người mẹ nghèo thắng hổ dữ được diễn lại trong hội nằm trong cùng mạch với lớp thần tích của đền: các vị tiên xuống trừ thú dữ và dạy dân cày cấy, còn người làng thì tự mình đương đầu với con hổ. Hai nửa ấy ghép lại thành một cách kể về việc khai phá.

Vì ban chính thờ vị đứng đầu cõi trời, lễ ở đây theo nếp trọng sự thanh tịnh, lễ chay là chính, khác với nếp ở các đền thờ nhân thần.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
thôn An Xá, xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên
Đường tới
Nằm ở thôn An Xá, xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên, thuộc địa bàn huyện Tiên Lữ cũ. Đền ở giữa làng, lối vào đi từ đường liên xã, tháp đất nung dựng ngay trong sân nên nhìn thấy được từ ngoài cổng.
Toạ độ
20.6818, 106.1046
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào tiền tế và hậu cung, đi nhẹ nói khẽ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Ban chính thờ vị đứng đầu cõi trời nên lệ ở đây trọng lễ chay. Hai bảo vật quốc gia là tháp đất nung ngoài sân và bệ thờ đất nung trong đền, xin quý vị không chạm tay và không đặt đồ lễ lên hiện vật, vì đất nung rất dễ sứt mẻ.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền An Xá

Contribute photos, information or video for An Xa Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền An Xá thờ ai

Ban chính thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, cùng Ngũ Lão Tiên Ông và các vị Thiên tiên, Địa tiên. Theo tài liệu di tích, các vị được thờ là những vị có công khai phá vùng đầm lầy hoang vu và dạy dân cày cấy. Đây là một trong rất ít nơi ở đồng bằng Bắc Bộ còn giữ được lớp thờ Thiên tiên ở ban chính.

Đền An Xá có từ bao giờ

Nguồn vênh nhau rất nặng, xin ghi cả hai. Cục Di sản văn hóa ghi đền được xây dựng muộn nhất vào khoảng thế kỷ 16 tới 17, dựa trên hiện vật và kiến trúc còn lại. Truyền thuyết địa phương và một số bài báo lại ghi đền có từ trước Công nguyên với tên gọi Thụy Ứng Quán, tính tuổi khoảng hai nghìn hai trăm năm.

Vì sao còn gọi là đền Đậu An

Chữ Đậu không phải họ người hay tên riêng. Theo tài liệu di tích, đây là một trong tám di tích mang tên Đậu ở địa bàn huyện Phù Tiên xưa, nay là vùng Tiên Lữ và Phù Cừ cũ. Hình thức di tích mang tên Đậu gắn liền với Đạo Giáo và chỉ thấy ở Hưng Yên.

Bảo vật quốc gia ở đền An Xá là gì

Có hai. Thứ nhất là tháp đất nung mười hai tầng, cao 450 xăngtimét, thân đất nung thời Lê Trung Hưng trên đế bệ đá thời Mạc, công nhận theo Quyết định số 2198 ngày 25 tháng 12 năm 2021. Thứ hai là bệ thờ đất nung mang dấu ấn thế kỷ 16, công nhận theo Quyết định số 41 ngày 30 tháng 1 năm 2023.

Lễ hội đền An Xá vào ngày nào

Kỳ lễ mở trong tháng Tư âm lịch. Cục Di sản văn hóa ghi lễ hội diễn ra từ mùng 1 tới 12 tháng Tư hằng năm, còn tài liệu báo chí nêu riêng mùng 6 tới 8 là những ngày chính hội. Trong hội có rước kiệu và diễn lại tích người mẹ nghèo thắng hổ dữ.

Đọc Tiếp