VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Dạ Trạch

Đền Hóa Dạ Trạch, đền Hóa

Ngôi đền dựng trên khoảnh đất nổi giữa vùng từng là đầm lầy, quay mặt về phía mặt trời mọc, nơi thần tích đặt đoạn kết của chuyện Đức thánh Chử Đồng Tử.

Dựng lại
1890
theo lối chữ Công, sau khi lớp đền cũ không còn
Chuông Dạ Trạch Từ chung
1902
đúc niên hiệu Thành Thái thứ mười bốn
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1473 ngày 26 tháng 11 năm 2024, trước đó là di tích quốc gia năm 1989

Đi từ đường lớn vào thôn Yên Vĩnh, quý vị thấy ruộng trải phẳng gần như không chỗ nào cao hơn chỗ nào, rồi tới một khoảnh đất nổi lên giữa cánh đồng, trên ấy là ngôi đền quay mặt về phía mặt trời mọc. Muốn vào hậu cung phải bước lên mấy bậc, và mấy bậc ấy là chỗ còn sót lại của một bờ dốc trước kia cao hơn nhiều, thời mà chung quanh đây còn là nước.

Đây là đền Dạ Trạch, người trong vùng quen gọi đền Hóa hoặc đền Hóa Dạ Trạch, nơi thần tích đặt đoạn ba vị hóa về trời. Đền thờ cùng ba vị với đền Đa Hòa cách đó hơn mười cây số, mà thư viện đã có trang riêng cho nơi ấy, nên bài này chỉ nói về ngôi thứ hai, ngôi dựng trên nền đầm cũ.

IBa Vị Được Thờ Và Chữ Hóa Trong Tên Đền

Hậu cung đặt ba pho tượng bày ngang một hàng: Đức thánh Chử Đồng Tử ở giữa trong bộ áo mũ vương giả, hai bên là công chúa Tiên Dungcông chúa Tây Sa, vị sau còn được tài liệu địa phương chép theo hiệu Nội Trạch Tây Cung. Bày ba vị ngang hàng tức là thờ một gia đình chứ không thờ một vị lẻ.

Xin nói rõ một điểm về chữ viết. Hai chữ Hán đặt cạnh tên bài là địa danh Dạ Trạch theo âm Hán Việt, nghĩa đen là đầm của đêm, do thư viện suy ra để quý vị tiện đối chiếu, chứ không chép từ hoành phi hay bia trong đền.

Theo giáo nghĩa

Đây là nơi thờ theo lối thờ nhân thần của người Việt, tức đem một con người của truyền thuyết lên hàng thần linh. Chử Đồng Tử còn được xếp vào hàng Tứ bất tử, cùng Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Chữ hóa trong tên đền phải hiểu theo nghĩa của lối thờ ấy. Theo cách nói cổ truyền, một vị nhân thần không chết mà hóa, tức rời thân xác sang một cảnh khác, và chỗ hóa được coi là chỗ thiêng nhất trong cả chuỗi sự tích. Vì vậy dân gian lấy chính chữ hóa đặt tên đền.

Theo sử liệu

Thần tích mở đầu bằng cuộc gặp trên bãi cát giữa dòng sông Hồng, đoạn ấy thuộc về ngôi đền bên sông. Phần dính tới nơi này là hai chặng sau.

Chặng học đạo: trong một chuyến buôn xa, Chử Đồng Tử gặp một vị tiên trên hòn núi ngoài biển, ở lại thụ pháp, khi về được trao một cây gậy và một chiếc nón, kèm lời dặn rằng phép thần thông nằm cả trong hai vật ấy, khi cần thì cắm gậy xuống đất úp nón lên trên.

Chặng hóa đặt ngay tại chỗ đền đang đứng: ba vị cắm gậy úp nón xuống vùng đất trũng, một đêm thành quách mọc lên, rồi cũng chỉ trong một đêm tất cả bay lên trời, chỗ đất sụt xuống thành cái đầm mà sách cũ gọi là Nhất Dạ Trạch, đầm một đêm. Đoạn trên thuộc lớp truyền thuyết, không phải sử biên niên.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất là chữ hóa trong tên đền. Không ít người hiểu đền Hóa là ngôi đền đã cháy, vì lớp công trình cũ quả có mốc bị hủy hoại cuối thế kỷ 19. Hai việc ấy không dính tới nhau. Chữ hóa ở đây là chữ của thần tích, chỉ việc ba vị hóa về trời, và cái tên đã có trước mốc kia rất lâu.

Thứ hai là cây gậy và chiếc nón thờ ở gian bên phải. Đó là vật thờ tượng trưng cho hai vật trong thần tích, không phải di vật đã được định niên đại. Các tài liệu còn chép khác nhau ở hai chi tiết. Người trao: có nguồn ghi vị sư Phật Quang, có nguồn ghi một vị tiên ông mang hiệu khác. Số lượng: có nguồn ghi một gậy một nón, có nguồn ghi hai chiếc nón.

IITừ Nền Đất Giữa Đầm Đến Lớp Đền Hôm Nay

Lịch sử nơi này chia hai lớp rất tách bạch, không tách ra thì dễ nhầm. Lớp thần tích đặt đền vào thời Hùng Vương, đó là niên đại của câu chuyện chứ không phải của công trình. Lớp công trình chỉ khảo được từ thế kỷ 19 trở đi, qua hiện vật có chữ khắc còn giữ trong đền.

  • Lớp thần tíchĐầm một đêm
    Truyền thuyết đặt chuyện vào đời Hùng Vương thứ mười tám và đặt chỗ hóa của ba vị đúng tại vùng trũng này, từ đó có địa danh Nhất Dạ Trạch.
  • 1819Dựng bia đá trong đền
    Bia khắc niên hiệu Gia Long thứ mười bảy, cao khoảng 1,6 mét, rộng khoảng 0,8 mét, là hiện vật có niên đại chắc chắn sớm nhất của đền.
  • 1883Lớp đền cũ không còn
    Tài liệu địa phương chép ngôi đền trước đó bị hủy hoại trong năm này, nên khung gỗ và bộ mái hôm nay không cấu kiện nào cũ hơn mốc ấy.
  • 1890Dựng lại theo lối chữ Công
    Người trong tổng dựng lại đền trên nền cũ, mặt bằng theo lối chữ Công, hướng chính đông. Đây là lớp công trình còn thấy tới nay.
  • Cuối thế kỷ 19Đợt tu bổ tiếp theo
    Theo tài liệu giới thiệu di tích, đợt tu bổ này có công sức người trong tổng Vĩnh cùng tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, người cùng vùng.
  • 1902Đúc chuông Dạ Trạch Từ chung
    Chuông đúc niên hiệu Thành Thái thứ mười bốn, tài liệu ghi dài khoảng 1,5 mét, rộng khoảng 0,8 mét.
  • 1989Xếp hạng di tích quốc gia
    Đền được xếp hạng di tích quốc gia loại hình lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, theo một quyết định riêng chứ không chung hồ sơ với ngôi kia trong cụm.
  • 2024Nằm trong hồ sơ quốc gia đặc biệt
    Khu di tích được xếp hạng quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1473 ngày 26 tháng 11 năm 2024, hồ sơ gồm năm thành phần: đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch, đền Trung, chùa Đa Hòa và đền thờ Triệu Việt Vương.
Theo sử liệu

Ba chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin ghi thẳng thay vì chọn bừa.

Niên đại khởi dựng. Nhiều tài liệu phổ thông dẫn sách cũ rồi ghi đền có từ thời Hùng Vương, gần bốn nghìn năm, nhưng không nguồn nào nêu được một mốc khởi dựng khảo chứng được. Thư viện vì thế ghi niên đại khởi dựng bằng chữ là chưa rõ.

Hạng di tích. Đền có hai lớp xếp hạng chồng lên nhau, lớp riêng năm 1989 và lớp chung năm 2024. Hai lớp ấy không thay thế nhau, mà tài liệu phổ thông hay bỏ mất lớp thứ nhất.

Bậc lên hậu cung. Tài liệu ghi trước kia phải bước khoảng mười chín bậc, nay chỉ còn chừng bốn, nhưng không nói rõ chênh lệch ấy do đất chung quanh cao lên, do tôn tạo, hay cả hai.

IIIMặt Bằng Chữ Công Và Gian Thờ Gậy Nón

Đền gọn chứ không dàn rộng. Mặt bằng theo lối chữ Công, hai nếp nhà ngang nối nhau bằng một nếp dọc ở giữa. Toàn khối quay hướng chính đông, và cái hướng ấy là điểm đáng nhớ nhất khi đọc ngôi đền này.

Chỗ đặc sắc nằm ở hậu cung. Trần hậu cung làm kiểu mái vòm cuốn tam cấp, ba lớp vòm chồng lên nhau, người vào trong thường ví như đứng trong khoang thuyền. Ở một ngôi đền mà cả vùng chung quanh từng là nước, lối làm trần ấy đáng để ý.

Nền đất cao và bậc lên

Đền đứng trên một khoảnh đất nổi, tài liệu địa phương gọi là nền thành quách trong truyền thuyết. Bậc lên hậu cung nay còn chừng bốn, trước kia mười chín.

Toà ngoài và mái chạm

Nếp nhà ngang phía ngoài làm ba gian, bờ mái và các mảng chạm lấy đề tài rồng và phượng.

Hậu cung mái vòm cuốn tam cấp

Lớp trong cùng, đặt ba pho tượng. Trần ba lớp vòm chồng nhau, không gian hẹp và tối hơn hẳn các lớp ngoài, dáng giống khoang thuyền.

Gian bên phải thờ gậy và nón

Thứ làm ngôi đền này khác mọi nơi thờ khác trong vùng: một cây gậy và một chiếc nón đặt thờ như đồ thờ chính.

Chuông Dạ Trạch Từ chung

Quả chuông đúc năm 1902, tên riêng của đền khắc trên thân. Cùng tấm bia năm 1819, đây là hai vật có chữ khắc dùng định niên đại.

Tượng Bế ngư thần quan và đôi ngựa

Pho tượng gỗ sơn son thếp vàng hình đầu rồng mình cá chép, người trong vùng quen gọi ông Bế, cùng đôi ngựa thờ một đỏ một trắng.

Đặt cạnh ngôi kia trong cụm thì thấy hai lối làm khác hẳn nhau. Đền Đa Hòa trải thành nhiều nóc nhà quay ra dòng nước lớn. Đền Dạ Trạch thu lại thành một khối gọn trên chỗ đất nổi, dồn phần đặc sắc vào bên trong, vào cái trần vòm và vào gian thờ hai vật của thần tích.

Ngoài chuông và bia, đền còn giữ sắc phong, hoành phi, câu đối, đại tự và một số mộc bản kinh sách. Tài liệu địa phương nhắc nhóm hiện vật này nhưng không mô tả từng món, nên thư viện chỉ ghi đúng mức ấy.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, thần tích hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều phải đọc trước nhất ở đây là một chỗ đất nổi giữa vùng trũng. Sách cũ mô tả đầm Dạ Trạch là vùng nước rộng, cỏ cây um tùm, giữa đầm có nền đất cao đủ để ở được, và đền dựng đúng trên nền ấy. Phép xem đất đồng bằng có câu đại ý rằng ở đất bằng thì một chỗ gồ lên quý hơn ngàn ngọn núi, vì giữa mặt phẳng mênh mông, chỗ nhô lên duy nhất là chỗ duy nhất khí có thể đậu lại. Châu thổ này không thiếu đền, nhưng đền đứng trên gò đất giữa đầm thì hiếm.

Thứ hai là nước đọng chứ không phải nước chảy. Phép cũ đọc hai thứ ấy khác hẳn nhau. Nước chảy dẫn khí và mang khí đi, nên nơi thờ dựa vào nước chảy mạnh về mở mang. Nước đọng giữ khí lại, nên nơi thờ giữa nước đọng mạnh về tụ và về kín. Đầm xưa vây gần như bốn mặt, tài liệu chép muốn vào đền phải đi thuyền, tới mùa lễ mới bắc cầu tre. Một nơi thờ bốn bề nước lặng, chỉ ngày hội mới nối được với bên ngoài, theo lối cũ là thế tàng, thế của chỗ cất giữ, đúng với việc thần tích giao cho nơi này giữ đoạn cuối câu chuyện.

Thứ ba là hướng chính đông, và đây là chỗ đáng nghĩ nhất. Trong phép cũ, chính đông là phương mặt trời mọc, thuộc hành Mộc, phương của cái bắt đầu chứ không phải cái kết thúc. Một ngôi đền dựng để ghi chỗ ba vị lìa cõi này lại quay mặt về phía ngày lên, không quay về phía ngày tàn. Đọc cùng cái tên đầm một đêm thì hai thứ khớp nhau: chuyện xảy ra trong một đêm, còn đền thì đặt mặt về chỗ đêm ấy chấm dứt. Hóa không phải là mất, nên hướng đền không đọc theo nghĩa tang chế mà đọc theo nghĩa chuyển sang cảnh khác.

Thứ tư là chỗ kiến trúc bắt chước cái nước đã mất. Trần hậu cung làm ba lớp vòm cuốn, người đứng trong ví như đứng trong khoang thuyền. Khi chung quanh còn là đầm, cái vòm ấy là hình của thuyền đặt giữa nước, thứ mà phép cũ gọi là mượn hình của cảnh chung quanh. Nay nước rút gần hết, cảnh không còn, nhưng cái hình thì ở lại trong bộ mái. Với các di tích vùng trũng châu thổ, bằng chứng về địa hình cũ nhiều khi không nằm ngoài đồng mà nằm trong chính lối làm nhà.

Sau cùng là một thế đất đã đổi, và thư viện không giấu điều ấy. Đầm xưa nay phần lớn đã thành ruộng và vườn, chỉ còn mấy vạt ao vụn. Bậc lên hậu cung từ mười chín rút xuống chừng bốn, tức mặt đất chung quanh đã dâng gần bằng nền đền. Nói theo lối cũ thì thế tụ của nước không còn, cái gò cũng gần hết gồ, và ngôi đền hôm nay đứng giữa đồng bằng chứ không còn giữa đầm. Thế đất nơi này vì vậy phải đọc bằng hai lớp cùng lúc, lớp địa hình xưa trong tư liệu và lớp địa hình nay trước mắt.

VHội Tháng Hai Và Ngày Kỵ Tháng Mười Một

Đền có hai mốc lệ lớn trong năm, khác hẳn nhau về tính chất. Mốc thứ nhất là kỳ hội tháng Hai âm lịch, từ mùng mười tới mười hai, hội chung của cả vùng. Mốc thứ hai là ngày kỵ thánh mười bảy tháng Mười một âm lịch, lệ riêng của ngôi đền này. Lễ hội truyền thống tại đền được ghi vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023.

Các mốc lệ chính trong năm của đền. Về nhịp tổ chức kỳ hội tháng Hai thì nguồn ghi vênh nhau, có bản tin ghi hội mở hằng năm, có bản tin ghi chính hội ba năm mới mở một lần, nên thư viện ghi cả hai. Nguồn: Bản tin báo chí về kỳ hội tháng Hai của cụm di tích và tài liệu giới thiệu di tích của địa phương..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Mùng 10 tháng HaiKhai hội của cả vùngMở đầu kỳ lễ chung của hai ngôi đền trong cụm, có tế lễ và dâng hương của các làng có phần trong hội.
Mùng 10 tháng HaiRước nước sông HồngĐoàn thuyền ra giữa dòng lấy nước. Nghi thức này gắn với bờ sông, tức thuộc phần lễ mở ở đền Đa Hòa, không diễn ra tại chỗ đền này.
Mùng 10 tới 12 tháng HaiRước kiệu các làngKiệu các làng rước theo tuyến nối các nơi thờ trong vùng, trong đó có đền này. Bản tin ghi số làng tham gia rước là chín.
Mùng 11 và 12 tháng HaiTế tại đền và trò hộiPhần tế chính tại đền, sau đó là trò của làng gồm đấu vật, chọi gà, đánh đu, múa rồng múa lân và diễn xướng dân gian.
Ngày 17 tháng Mười mộtKỵ thánhLệ riêng của đền, ghi ngày ba vị hóa về trời. Quy mô gọn hơn hội xuân, giữ đủ phần tế và dâng hương của làng.

Chỗ đứng của ngôi đền này trong kỳ hội đáng nói một câu. Phần được nhắc nhiều nhất của hội là lễ rước nước trên sông, mà đền thì nằm sâu trong đồng, cách bờ sông hơn mười cây số. Vai của đền vì thế không phải vai của chỗ lấy nước mà là vai của điểm đến: đoàn rước đi từ phía sông vào phía đồng, tức đi đúng thứ tự của thần tích, từ chỗ gặp gỡ tới chỗ hóa.

Ngày kỵ tháng Mười một thì ngược lại, hoàn toàn là việc của làng Yên Vĩnh, không rước, không trò, chỉ có phần tế. Trong lối thờ tự cổ truyền, ngày kỵ mới là ngày thật của một nơi thờ, còn hội xuân là ngày của cả vùng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch cũ, nay là xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên
Đường tới
Đền ở thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch cũ, nay là xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên, nằm sâu trong đồng chứ không ven sông. Cùng tuyến có thể tính ghé cả đền Đa Hòa, ngôi kia trong cụm, thư viện có trang riêng cho nơi ấy.
Toạ độ
20.8643, 105.948
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của chính nơi ấy là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi lên bậc vào hậu cung, đi nhẹ nói khẽ ở lớp trong, không chạm vào ba pho tượng, vào cây gậy chiếc nón ở gian bên phải, vào chuông và bia đá, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Việc chụp ảnh trong hậu cung tùy lệ từng lúc, xin hỏi người trông coi đền trước. Mùa hội có đoàn rước vào sân, xin nhường đường cho kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Dạ Trạch

Contribute photos, information or video for Da Trach Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Dạ Trạch ở đâu

Ở thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch cũ, nay thuộc xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên. Xã Dạ Trạch nhập với xã Hàm Tử thành xã Phạm Hồng Thái từ cuối năm 2024, rồi xã ấy cùng ba xã khác thành xã Triệu Việt Vương từ giữa năm 2025, tức tên đơn vị hành chính đổi hai lần trong hai năm.

Vì sao gọi là đền Hóa

Vì thần tích đặt chỗ này là nơi Đức thánh Chử Đồng Tử cùng hai vị phu nhân hóa về trời. Trong lối thờ nhân thần, một vị thần không chết mà hóa, tức rời thân xác sang cảnh khác, nên dân gian lấy chính chữ hóa đặt tên đền. Chữ ấy không liên quan tới việc lớp đền cũ bị hủy hoại cuối thế kỷ 19.

Đền Dạ Trạch thờ cây gậy và chiếc nón phải không

Đúng, gian bên phải có đặt thờ một cây gậy và một chiếc nón, ứng với hai vật mà thần tích kể rằng Chử Đồng Tử được trao sau khi học đạo. Đó là vật thờ tượng trưng, không phải di vật đã định niên đại, và các tài liệu ghi số lượng cũng như tên người trao không giống nhau.

Đền Dạ Trạch dựng năm nào

Không có mốc khởi dựng nào khảo chứng được. Tài liệu phổ thông dẫn sách cũ mà nói đền có từ thời Hùng Vương, nhưng đó là niên đại của thần tích. Lớp công trình còn thấy hôm nay thuộc đợt dựng lại năm 1890 theo lối chữ Công và đợt tu bổ cuối thế kỷ 19.

Lễ hội đền Dạ Trạch mở ngày nào

Kỳ hội chung mở từ mùng mười tới mười hai tháng Hai âm lịch, có rước kiệu các làng, còn lễ rước nước diễn ra ngoài sông Hồng nên thuộc phần lễ ở ngôi đền bên sông. Riêng đền còn giữ ngày kỵ thánh mười bảy tháng Mười một âm lịch. Về nhịp hội xuân thì nguồn ghi vênh nhau, hằng năm hay ba năm một lần.

Đọc Tiếp