VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Phật viện Đồng Dương

Tu viện Đồng Dương, Tháp Sáng, kinh đô Indrapura

Trung tâm Phật Giáo lớn nhất của vương quốc Chăm Pa, dựng giữa một kinh đô nay đã mất dấu, và hôm nay chỉ còn lại một mảng tường gạch đứng nhờ giàn thép.

Dựng Phật viện
875
theo bia ký tại chỗ, đời vua Indravarman II
Khu đền chính
326 x 155 m
hình chữ nhật có tường bao, ba nhóm kiến trúc nối theo trục Đông Tây
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016

Xin nói thẳng ngay câu đầu để quý vị khỏi trông đợi nhầm. Phật viện Đồng Dương hôm nay là một phế tích. Đi hết con đường đất giữa ruộng và bụi cây, quý vị không gặp ngôi tháp nào đứng nguyên, mà gặp một mảng tường gạch cao, mặt gạch bong tróc từng lớp, chung quanh quây kín một giàn khung thép. Người trong vùng gọi mảng tường ấy là Tháp Sáng, và nếu không có giàn thép chống đỡ thì nó cũng đã đổ. Ngoài ra trên mặt đất chỉ còn nền móng lẫn trong cỏ.

Nhưng chỗ đứng ấy từng là một trong những trung tâm Phật Giáo lớn nhất Đông Nam Á thời trung đại. Năm 875, vua Indravarman II của vương quốc Chăm Pa cho dựng tại đây một tu viện Phật Giáo giữa lòng kinh đô mới mang tên Indrapura. Chăm Pa vốn là vương quốc theo Ấn Độ Giáo, và nơi này là bằng chứng rõ nhất còn lại cho một thời kỳ Phật Giáo hưng thịnh trong lòng vương quốc ấy.

IPhật Giáo Đại Thừa Trong Một Vương Quốc Thờ Shiva

Muốn thấy Đồng Dương đặc biệt tới đâu thì phải đặt nó cạnh Mỹ Sơn. Hai nơi cùng của người Chăm, cùng xây bằng gạch, cùng thuộc một vương quốc. Nhưng Mỹ Sơn là trung tâm tế tự Ấn Độ Giáo thờ thần Shiva, vật thờ trung tâm là bộ linga và yoni. Còn Đồng Dương là tu viện Phật Giáo, thờ Phật và Bồ tát, có tăng chúng, có giảng đường và tăng xá.

Cần gọi đúng tên ngay từ đầu: đây là Phật Giáo Đại Thừa của người Chăm, không phải Phật Giáo Bắc Tông của người Kinh và cũng không phải Phật Giáo Nam Tông. Nghi thức, hệ tượng và lối kiến trúc ở đây đều thuộc truyền thống Chăm Pa, tiếp nhận từ Ấn Độ qua đường biển.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Đại Thừa, mục tiêu tu hành không dừng ở việc tự mình giải thoát mà là phát nguyện thành Phật để độ hết thảy chúng sinh. Vì vậy bên cạnh chư Phật còn có hàng Bồ tát, những vị đã đủ sức vào niết bàn nhưng tự nguyện ở lại cứu độ người khác. Trong hàng ấy, vị được thờ rộng nhất là Lokesvara, nghĩa là đấng quán xét cõi thế, mà truyền thống Đông Á gọi là Quán Thế Âm.

Bia ký tại Đồng Dương chép rằng vua Indravarman II dựng tu viện và một ngôi đền dâng lên vị Bồ tát mang hiệu Laksmindra Lokesvara Svabhayada. Cách đặt hiệu này giống lối của các vua Chăm khi dâng thần ở Mỹ Sơn: ghép một phần tên vua vào danh hiệu của đấng được thờ, để nói rằng vị ấy là đấng hộ trì của vương triều. Cùng hàng Bồ tát còn có Tara, một vị nữ Bồ tát được hiểu là hiện thân của lòng từ bi cứu độ.

Theo sử liệu

Về mặt sử liệu, mốc năm 875 không đến từ truyền thuyết mà từ bia ký tìm được ngay tại chỗ, ghi năm dựng, tên vua và lòng sùng mộ Phật Giáo của ông. Đây là điểm mạnh của Đồng Dương: dù công trình đã mất, niên đại của nó vẫn có văn bản đương thời bảo chứng.

Cùng với việc dựng Phật viện, vua Indravarman II dời trung tâm vương quốc về vùng này và đặt tên kinh đô là Indrapura. Suốt cuối thế kỷ 9 và thế kỷ 10, đây là chỗ đóng đô, và giai đoạn ấy được coi là một thời kỳ riêng trong lịch sử Chăm Pa. Phật Giáo ở đây không phải tín ngưỡng bên lề mà được bảo trợ ở mức cao nhất.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất là gộp Đồng Dương chung với các khu đền tháp Chăm khác rồi gọi tất cả là tháp Chăm thờ thần. Phần lớn đền tháp Chăm còn lại thuộc Ấn Độ Giáo Chăm, tức Bàlamôn Chăm, thờ Shiva và các vị thần Ấn Độ Giáo. Riêng Đồng Dương là cơ sở Phật Giáo, và đó chính là lý do nó quan trọng. Ở hướng ngược lại, cũng không nên hiểu Đồng Dương như một ngôi chùa Việt: đây là tu viện của người Chăm, theo truyền thống Đại Thừa riêng của họ.

IITừ Kinh Đô Tới Phế Tích

Lịch sử Đồng Dương chia hai nửa rất rõ. Nửa đầu là quãng nơi này làm trung tâm của một vương quốc. Nửa sau là quãng nó nằm dưới đất, và mọi hiểu biết về nửa đầu đều đến từ việc đào nửa sau lên.

  • 875Dựng Phật viện và đặt kinh đô Indrapura
    Vua Indravarman II dựng tu viện Phật Giáo cùng ngôi đền dâng Bồ tát Laksmindra Lokesvara và dời trung tâm vương quốc về đây.
  • Cuối thế kỷ 9 và thế kỷ 10Thời kỳ Indrapura
    Giai đoạn Phật Giáo được vương triều bảo trợ ở mức cao nhất. Giới mỹ thuật xếp riêng giai đoạn này thành một phong cách, gọi là phong cách Đồng Dương.
  • 1901Công bố sưu tập hiện vật đầu tiên
    Nhà nghiên cứu L. Finot công bố sưu tập gồm hai trăm hai mươi chín hiện vật thu được tại di tích.
  • 1902Khai quật quy mô lớn
    Nhà nghiên cứu H. Parmentier khai quật lớn, làm lộ hệ thống nền gạch của tăng xá và giảng đường. Mặt bằng Phật viện được biết tới chủ yếu nhờ đợt này.
  • 1978Tìm được tượng Bồ tát Tara
    Pho tượng đồng tìm thấy ngay tại làng Đồng Dương, nay lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng.
  • 2012Tượng Tara thành bảo vật quốc gia
    Pho tượng được công nhận bảo vật quốc gia. Hai pháp khí trên tay vốn gãy rời, tới năm 2023 mới được chuyển giao về bảo tàng để hoàn nguyên.
  • 2016Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016. Lễ đón bằng tổ chức ngày 7 tháng 12 năm 2019.
  • 2018Đài thờ Đồng Dương thành bảo vật quốc gia
    Bộ đài thờ bằng đá gồm hai mươi tư khối chạm các cảnh trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca, một trong rất ít đài thờ kể chuyện của điêu khắc Chăm Pa.
Theo sử liệu

Về việc vì sao trung tâm này lụi tàn, tư liệu không cho một câu trả lời gọn. Điều biết chắc là sau thời kỳ Indrapura, trung tâm vương quốc chuyển về phía nam, việc xây cất và tế tự ở đây dừng lại, rồi cả khu dần bị đất và cây phủ kín. Phần lớn kiến trúc trên mặt đất đã đổ trong thế kỷ 20, tới nay chỉ còn duy nhất mảng tường Tháp Sáng, mà giới quản lý di sản địa phương nói rõ rằng nếu không được chống đỡ thì cũng đã sụp.

IIIMặt Bằng Của Một Tu Viện Và Phong Cách Đồng Dương

Vì công trình không còn, phần này nói về mặt bằng chứ không nói về hình khối, và những gì biết được đều đến từ các đợt khai quật.

Khu đền chính là hình chữ nhật dài khoảng 326 mét, rộng khoảng 155 mét, có tường bao, bên trong chia thành ba nhóm kiến trúc nối nhau theo trục Đông Tây. Từ đó có một con đường dài chừng 760 mét chạy về phía đông, nên cả tổng thể trải hơn một nghìn ba trăm mét. Ba nhóm ấy ứng với ba phần việc: thờ tự, giảng pháp, và nơi ở của tăng chúng.

Khu đền thờ

Nhóm ở đầu phía tây, nơi đặt các đền tháp thờ Phật và Bồ tát, phần trọng nhất của mặt bằng và cũng là phần còn ít dấu vết nhất.

Giảng đường

Khu nhà dài cho việc giảng pháp và học tập. Sự có mặt của một giảng đường riêng là điều phân biệt rõ nhất giữa một tu viện và một cụm đền tháp thuần túy thờ tự.

Tăng xá

Khu nhà ở của tăng chúng, nhận ra qua hệ thống nền gạch tìm được trong đợt khai quật năm 1902. Không khu đền tháp Chăm nào khác có dấu vết một khu ở tập thể như vậy.

Tháp Sáng

Mảng tường gạch cao còn sót lại, phần kiến trúc duy nhất còn đứng trên mặt đất của cả khu. Mặt gạch bong tróc nhiều và toàn bộ mảng tường phải chống đỡ bằng một giàn khung thép quây kín.

Đài thờ Đồng Dương

Bộ đài thờ bằng đá gồm hai mươi tư khối chạm các cảnh trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca, loại đài thờ kể chuyện rất hiếm trong điêu khắc Chăm Pa, được công nhận bảo vật quốc gia năm 2018.

Tượng Hộ pháp

Hai pho tượng thần giữ cửa bằng đá, cao chừng hai mét, dáng dữ và khối căng. Đây là kiểu tượng canh cửa quen của kiến trúc tôn giáo gốc Ấn Độ.

Phong Cách Đồng Dương Trong Mỹ Thuật Chăm

Các nhà nghiên cứu chia mỹ thuật Chăm Pa thành nhiều phong cách nối nhau theo thời gian, và phong cách Đồng Dương là một phong cách riêng, đặt tên theo chính di tích này, ứng với cuối thế kỷ 9 và thế kỷ 10. Nét nhận ra là ở khuôn mặt: mặt vuông vức, lông mày rậm và giao nhau ở giữa trán, mắt mở to, cánh mũi nở, môi dày. So với các phong cách trước và sau nó, tượng Đồng Dương nặng về sức mạnh hơn vẻ mềm mại, khối căng và đường nét dứt khoát.

Tác phẩm tiêu biểu nhất của phong cách ấy là tượng Bồ tát Tara, tìm được tại làng Đồng Dương năm 1978, đúc bằng đồng, nay lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng và đã được công nhận bảo vật quốc gia. Tượng thể hiện vị Bồ tát đứng, tóc tết nhiều lọn búi ngược lên cao, giữa trán có con mắt thứ ba mà theo các nhà nghiên cứu thì từng gắn một viên ngọc. Hai bàn tay đưa ra phía trước, tay phải cầm bông sen, tay trái cầm con ốc biển, hai pháp khí vốn gãy rời và mãi tới năm 2023 mới được chuyển giao về bảo tàng để hoàn nguyên.

Về chiều cao của pho tượng thì nguồn ghi vênh nhau. Hồ sơ của cơ quan quản lý di sản ghi 129,3 xăng ti mét, trong khi nhiều bài viết ghi khoảng 1,14 mét. Chênh lệch nhiều khả năng do có nguồn tính cả phần đế và có nguồn không tính, nhưng vì chưa thấy tài liệu nói rõ nên chúng tôi ghi cả hai. Ngoài Tara, sưu tập hiện vật ở đây còn một pho tượng Phật bằng đồng cao hơn một mét, lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử ở thành phố Hồ Chí Minh.

IVThế Đất Và Hướng

Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy, và truyền thống Phật Giáo Đại Thừa của người Chăm cũng vậy. Phong thủy là hệ thuật số của vùng Đông Á, người Chăm khi dựng đền tháp không dùng nó. Việc đền tháp Chăm mở cửa chính về hướng Đông là theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp gốc Ấn Độ, trong đó hướng Đông là hướng mặt trời mọc, hướng ánh sáng đầu ngày rọi vào vật thờ. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều người Chăm tính tới.

Thế đất và hướng

Trước hết là trục Đông Tây. Cả tổng thể nằm trên một trục dài hơn một nghìn ba trăm mét, ba nhóm kiến trúc nối nhau, con đường lớn chạy về phía đông. Đọc theo lối cũ của người Việt thì hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với khí sinh phát của buổi sáng, nên đền miếu mở về hướng ấy được coi là đón được khí lên. Kiến trúc gốc Ấn Độ chọn hướng Đông vì lý khác hẳn: ánh sáng đầu ngày phải rọi qua cửa vào tới vật thờ. Hai hệ đi tới cùng một hướng bằng hai đường lý giải khác nhau, và chỗ đáng học nằm ở sự khác nhau ấy.

Thứ hai là thế đất. Khu di tích nằm trên vùng đất tương đối bằng, chung quanh có gò đồi thấp bao lấy, không có núi lớn kề bên. Trong phép xem đất của người Việt, một vùng bằng có gò vây quanh được coi là thế bình dương, ở đó chỗ dựa không phải là núi mà là các gò nổi và các dòng nước. Đây cũng là thế đất mà một kinh đô cần: đủ rộng để dàn cung thất, đủ bằng để mở đường trục dài.

Thứ ba là quan hệ với Mỹ Sơn. Mỹ Sơn nằm trong thung lũng kín, ba mặt núi vây, một mặt hở, đúng hình mà phép cũ gọi là hậu chẩm có sơn và minh đường có thủy. Đồng Dương thì ngược lại, chọn đất mở giữa vùng bằng. Sự khác nhau ấy ứng với chức năng: một nơi là thánh địa tế tự tách khỏi đời thường, một nơi là tu viện đặt giữa lòng kinh đô, nơi tăng chúng ở, học và tiếp xúc với dân cư.

Cuối cùng xin nhắc lại cho rõ: bia ký Đồng Dương không chép gì về việc chọn đất theo một phép xem nào. Theo các nhà nghiên cứu, vùng này được chọn vì lý do của một kinh đô chứ không vì một phép thuật số.

VNghi Thức Đọc Lại Từ Bia Ký Và Hiện Vật

Đồng Dương hôm nay không còn là nơi hành lễ của bất cứ cộng đồng nào, việc tế tự tại đây đã dừng từ nhiều thế kỷ. Bảng dưới đây không phải lịch lễ đang diễn ra, mà là nghi thức đọc lại từ bia ký tìm được tại chỗ và từ hiện vật gồm đài thờ, tượng và các cấu kiện kiến trúc.

Nghi thức dựng lại từ bia ký và hiện vật, không phải lịch lễ hiện hành. Nguồn: Hồ sơ di tích Phật viện Đồng Dương và tư liệu về các bảo vật quốc gia tìm được tại đây..
Nghi thứcNội dungDấu vết còn thấy
Thờ Bồ tát LokesvaraNgôi đền chính dâng lên Bồ tát mang hiệu Laksmindra Lokesvara Svabhayada, đấng hộ trì của vương triều.Bia ký năm 875 tìm được tại chỗ, ghi việc dựng đền và danh hiệu của vị được thờ.
Dâng hoa, hương và đènNghi thức cúng dường thường ngày trước tượng Phật và tượng Bồ tát theo lối các tu viện Đại Thừa.Các pho tượng đồng và tượng đá thu được tại di tích, trong đó có tượng Tara.
Chiêm bái sự tích Đức PhậtCác cảnh trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca chạm thành một bộ để người xem đi vòng và đọc theo thứ tự.Đài thờ Đồng Dương gồm hai mươi tư khối đá chạm kể chuyện, nay là bảo vật quốc gia.
Giảng pháp và học tậpTăng chúng tụ về nghe giảng, học kinh và tu tập, phần việc phân biệt một tu viện với một cụm đền tháp thờ tự.Nền móng giảng đường và khu tăng xá lộ ra trong đợt khai quật năm 1902.
Bảo trợ của nhà vuaNhà vua đứng ra dựng tu viện, dâng cúng và cho khắc bia ghi lại việc mình làm.Bia ký ghi tên vua Indravarman II cùng năm dựng và lòng sùng mộ Phật Giáo của ông.

Truyền thống tôn giáo của người Chăm không mất hẳn, nhưng nó nối tiếp ở nơi khác. Cộng đồng người Chăm theo Bàlamôn ở vùng nam Trung Bộ hiện vẫn hành lễ tại các đền tháp của họ theo lịch riêng và vẫn có lớp tăng lữ riêng. Còn nhánh Phật Giáo Đại Thừa từng hưng thịnh ở Indrapura thì không còn một cộng đồng hành trì nối liền mạch tới hôm nay.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Đồng Dương, thành phố Đà Nẵng
Đường tới
Di tích nằm ở xã Đồng Dương, thành phố Đà Nẵng, thuộc huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam cũ. Các hiện vật quan trọng nhất không còn ở hiện trường mà lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng.
Toạ độ
15.6833, 108.3
Khi tới nơi

Xin nhắc lại cho quý vị chuẩn bị đúng: đây là một phế tích, không phải một công trình còn nguyên, và cũng không phải nơi thờ tự đang hoạt động. Lệ ở đây là lệ bảo vệ hiện vật: đi trên lối đã mở, không bước vào trong vòng giàn thép và không chạm hay tựa vào mảng tường gạch, vì mặt gạch đang bong tróc và cả khối chỉ đứng nhờ khung chống. Không bước lên mặt nền và các khối gạch đổ, không nhặt mang mảnh gạch hay mảnh đá chạm.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Phật viện Đồng Dương

Contribute photos, information or video for Dong Duong Buddhist Monastery

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Phật viện Đồng Dương thờ ai

Đây là tu viện Phật Giáo Đại Thừa của người Chăm, thờ Phật và các vị Bồ tát. Bia ký năm 875 tại chỗ chép rằng vua Indravarman II dựng tu viện cùng ngôi đền dâng lên Bồ tát mang hiệu Laksmindra Lokesvara Svabhayada. Trong hàng Bồ tát được thờ ở đây còn có Tara.

Phật viện Đồng Dương hiện nay còn lại gì

Cả khu là phế tích. Trên mặt đất chỉ còn một mảng tường gạch mà người trong vùng gọi là Tháp Sáng, mặt gạch bong tróc nhiều và phải chống đỡ bằng giàn khung thép quây kín. Ngoài ra chỉ còn nền móng lẫn trong cỏ.

Vì sao Phật viện Đồng Dương lại quan trọng

Vì Chăm Pa vốn theo Ấn Độ Giáo, thờ thần Shiva, còn Đồng Dương là bằng chứng vật chất rõ nhất cho một thời kỳ Phật Giáo hưng thịnh trong lòng vương quốc ấy, được nhà vua bảo trợ ở mức cao nhất suốt cuối thế kỷ 9 và thế kỷ 10.

Phong cách Đồng Dương trong nghệ thuật Chăm là gì

Là một phong cách riêng trong lịch sử mỹ thuật Chăm Pa, đặt tên theo chính di tích này, ứng với cuối thế kỷ 9 và thế kỷ 10. Nhận ra ở khuôn mặt vuông vức, lông mày rậm giao nhau giữa trán, cánh mũi nở, môi dày, lối tạo hình nặng về sức mạnh và mang sắc thái bản địa rất đậm.

Tượng Bồ tát Tara Đồng Dương hiện ở đâu

Tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Pho tượng đồng này tìm thấy tại làng Đồng Dương năm 1978 và được công nhận bảo vật quốc gia năm 2012. Về chiều cao thì nguồn ghi vênh nhau, hồ sơ cơ quan quản lý ghi 129,3 xăng ti mét còn nhiều bài viết ghi khoảng 1,14 mét.

Đọc Tiếp