Quý vị nhìn thấy núi Đọi từ rất xa, vì chung quanh nó là ruộng bằng trải tới chân trời và nó là vật duy nhất nhô lên. Leo gần ba trăm bảy mươi ba bậc đá dưới bóng cây, quý vị lên tới một khoảng sân trên đỉnh, và việc đầu tiên nên làm không phải là vào chùa mà là quay lại nhìn xuống. Cả một vùng đồng nằm dưới kia, những thửa ruộng ken nhau, con sông vắt ngang. Đường cày đầu năm của nhà vua ngày trước nằm ở chính khoảnh đồng ấy.
Vào trong sân chùa, thứ giữ chân người lâu nhất là một tấm bia đá xanh đặt trong nhà che, và mấy pho tượng đá tạc người mặc giáp đứng chống kiếm. Tấm bia dựng năm 1121. Mấy pho tượng thì từng đứng canh cửa một ngọn tháp cao mà nay không còn. Cả hai đều là bảo vật quốc gia, và cả hai là phần hiếm hoi còn lại của lớp thời Lý trên ngọn núi này.
ITên Gọi Và Ngọn Núi Đọi
Tên chữ của chùa là Long Đọi Sơn tự, nghĩa là chùa trên núi Đọi có thế rồng. Tên nôm gọn hơn là chùa Đọi hoặc chùa Đọi Sơn. Một số tài liệu còn ghi thêm cách gọi Diên Linh tự. Chữ Hán mà thư viện chép ở đầu bài là dạng suy ra từ tên gọi tiếng Việt, không phải chữ chép lại từ hoành phi tại chỗ, xin quý vị lưu ý điều đó.
Ngọn núi thì có hai tên: núi Đọi và núi Long Đội, tức núi Rồng. Đây là một quả núi lẻ nổi giữa vùng đồng bằng, cao không đáng kể so với núi rừng nhưng đáng kể so với tất cả những gì chung quanh nó, và chính cái thế đứng một mình ấy làm nên vị trí của ngôi chùa.
Chỗ hay lẫn nhất về nơi này là tên chùa. Nhiều tài liệu, kể cả trang thông tin của ngành du lịch tỉnh, ghi tên chữ của chùa là Sùng Thiện Diên Linh tự. Nói cho đúng thì Sùng Thiện Diên Linh không phải tên chùa mà là tên ngọn tháp do vua Lý Nhân Tông dựng trên núi này, và theo đó là tên tấm bia ghi việc dựng tháp. Bia mang đủ tên là bia tháp Sùng Thiện Diên Linh.
Nhầm lẫn xảy ra là có lý do. Ngọn tháp đã đổ từ rất lâu, tấm bia thì còn nguyên và trở thành hiện vật nổi tiếng nhất ở đây, nên cái tên khắc trên bia dần được hiểu thành tên của cả ngôi chùa. Tên chùa vẫn là Long Đọi Sơn tự. Chúng tôi ghi rõ chỗ này để quý vị đọc tài liệu khác thì biết đường phân biệt, chứ không nhằm bắt lỗi ai.
Còn một lớp nữa có trước cả ngôi chùa. Theo tài liệu của ngành văn hóa tỉnh, vào mùa xuân năm 987, vua Lê Đại Hành đã về chân núi Đọi và trực tiếp xuống ruộng cày, mở đầu cho lệ tịch điền ở nước ta, tức lệ nhà vua cày đường cày đầu năm để khuyến khích việc nông. Mốc ấy sớm hơn năm dựng chùa tới sáu mươi bảy năm.
Nghĩa là chân núi này đã là đất thiêng của nhà nông trước khi thành đất của nhà chùa. Ngôi chùa thời Lý dựng lên sau đó không xóa lớp cũ mà nằm chồng lên nó, và tới nay hai lớp ấy vẫn chạy song song: lễ tịch điền dưới chân núi vào tháng Giêng, hội chùa trên đỉnh núi vào tháng Ba.
IIChín Trăm Năm Trên Đỉnh Núi
Chùa khởi dựng năm 1054, đời Lý Thánh Tông. Tới đời Lý Nhân Tông, ngôi chùa được mở rộng thành một công trình lớn, đứng đầu là ngọn tháp Sùng Thiện Diên Linh, khởi công năm 1118 và hoàn thành năm 1121. Tấm bia dựng cùng năm hoàn thành tháp là vật duy nhất của lần xây ấy còn lại nguyên vẹn.
- 987Đường cày tịch điền dưới chân núiTài liệu của ngành văn hóa tỉnh chép mùa xuân năm 987 vua Lê Đại Hành về chân núi Đọi xuống ruộng cày, mở đầu lệ tịch điền. Mốc này có trước ngôi chùa.
- 1054Khởi dựng chùaChùa được dựng trên núi Đọi đời Lý Thánh Tông. Tài liệu của ngành văn hóa ghi việc xây dựng có phần chủ trì của nhà vua cùng Vương phi Ỷ Lan.
- 1118Khởi công tháp Sùng Thiện Diên LinhĐời Lý Nhân Tông, ngọn tháp lớn được khởi công trên đỉnh núi, làm trung tâm của cả khu chùa.
- 1121Hoàn thành tháp và dựng biaTháp xong, tấm bia ghi việc dựng tháp được dựng ngày mùng sáu tháng bảy năm Tân Sửu, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai. Bài văn bia do Nguyễn Công Bật soạn, Lý Bảo Cung viết chữ.
- Đầu thế kỷ 15Tháp đổNgọn tháp Sùng Thiện Diên Linh bị phá hủy và không còn. Sáu pho tượng Kim Cương từng canh cửa tháp được giữ lại, đó là phần hiện vật chính còn sót của công trình.
- Thế kỷ 17Dựng lại quy mô lớnChùa được dựng lại và mở rộng, đạt quy mô lớn nhất trong lịch sử của nó vào thế kỷ này, qua các lớp trùng tu nối tiếp của nhiều đời.
- Thời NguyễnLần tu bổ lớnTài liệu ngành văn hóa ghi lần tu bổ lớn nhất thuộc thời Nguyễn, quy mô trên một trăm gian. Mặt sau tấm bia còn ghi thêm các lần tu tạo vào các năm 1467, 1591 và 1698.
- 2017Di tích quốc gia đặc biệtChùa được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, tài liệu của ngành văn hóa ghi mốc cuối năm 2017. Lễ hội chùa cũng đã được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Về chỗ nguồn ghi không giống nhau: kích thước tấm bia có hai bản số liệu. Hồ sơ hiện vật của Cục Di sản văn hóa ghi bia cao 2,5 mét, rộng 1,75 mét, dày 30 phân, bệ bia cao 50 phân, chất liệu đá xanh nguyên khối nặng khoảng một tấn. Một bài trên cổng của Bộ Văn hóa lại ghi bia cao 2,88 mét, rộng 1,40 mét. Chúng tôi ghi cả hai thay vì chọn bừa một con số. Số chữ trên mặt trước thì các nguồn thống nhất là 4257 chữ Hán.
IIIBố Cục Và Hai Bảo Vật Quốc Gia
Khu chùa hiện nay nằm trong khuôn viên rộng khoảng mười nghìn mét vuông trên đỉnh núi, chung quanh là rừng cây gần hai hécta, lối lên là đường bậc đá dài gần ba trăm bảy mươi ba bậc. Bố cục theo lối nội công ngoại quốc, tức các tòa chính bên trong xếp thành hình chữ công, hành lang và các nếp nhà phía sau khép thành khung vuông bao quanh.
Tấm bia đá xanh nguyên khối dựng năm 1121, đặt trong nhà che. Mặt trước khắc 4257 chữ Hán chia ba phần: xưng tụng đạo Phật, ca ngợi vua Lý Nhân Tông và chép việc dựng tháp. Mặt sau có thêm các dòng ghi việc tu tạo các năm 1467, 1591 và 1698. Đây là bảo vật quốc gia.
Sáu pho tượng đá sa thạch nguyên khối tạc thời Lý, cao khoảng 1,60 mét, đầu đội mũ trụ, mình mặc kim giáp, chân đi hia cao cổ, hai tay chống kiếm. Đây là phần còn lại của bộ tám vị từng canh cửa tháp Sùng Thiện Diên Linh. Được công nhận bảo vật quốc gia trong đợt thứ mười ba, năm 2024.
Tượng đá tạc hình chim thần mình người, thuộc lớp điêu khắc thời Lý. Đây là mô típ có gốc từ nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ, cho thấy tầm với của nghề chạm đá thời ấy.
Pho tượng trong khu thờ chính, được nhắc tới trong danh mục cổ vật của di tích cùng với hệ thống tượng pháp khác của chùa.
Các viên gạch in hoa văn thời Lý thu được tại chỗ, là chứng cứ vật chất cho lớp niên đại thế kỷ 11 và 12 của khu đất, bên cạnh tấm bia và bộ tượng đá.
Lối lên núi dài gần 373 bậc, đi dưới tán cây. Con đường này giữ vai trò như một đoạn dẫn, tách người đi lễ khỏi mặt ruộng bên dưới trước khi lên tới sân chùa.
Điều đáng nói về bộ tượng Kim Cương là chỗ chúng từng đứng. Kim Cương trong nhà Phật là các vị hộ pháp, việc của họ là canh cửa. Sáu pho còn lại vốn đứng canh cửa một ngọn tháp mà nay không còn viên gạch nào. Nghĩa là quý vị đang nhìn những người gác cửa của một công trình đã biến mất, và họ vẫn giữ nguyên tư thế ấy suốt chín trăm năm. Không mấy nơi giữ được một hình ảnh trực tiếp như vậy về chỗ đứt gãy giữa hai thời.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Ở vùng châu thổ, thứ hiếm nhất là núi. Phép xem đất cổ truyền dựng trên địa hình có núi có sông, nên khi đem về đồng bằng thì phần lớn trường hợp phải thay núi bằng gò và bằng nước. Núi Đọi là ngoại lệ: một quả núi thật, đứng lẻ giữa đồng bằng. Trong lối đọc cũ, một ngọn núi đơn độc nổi lên giữa chỗ bằng phẳng được gọi là độc sơn, và đó là loại đất được chú ý bậc nhất, vì toàn bộ khí của cả một vùng rộng không có chỗ nào khác để tụ.
Tên núi Long Đội, tức núi Rồng, nói đúng cách người xưa đọc thế đất này. Rồng trong phép xem đất không phải con vật mà là mạch đất chạy nổi lên. Một mạch đi ngầm dưới đồng rồi trồi lên thành núi, ấy là chỗ mạch kết. Người xưa đặt chùa lên đúng đỉnh chứ không đặt ở sườn hay chân núi, và đó là cách nói rằng họ coi đỉnh núi này là huyệt của cả vùng.
Xét theo ngũ hành, thế đất này là Thổ đứng giữa Thủy: khối núi là Thổ, ruộng nước và sông ngòi bốn phía là Thủy. Thổ giữa Thủy thì bền mà không khô, và trong phép cũ, Thổ chủ về sự vững vàng lâu dài. Một ngôi chùa đã chín trăm năm ở nguyên chỗ, qua bao lần đổ và dựng lại mà vị trí không đổi một bước, thì đọc theo lối ấy là đất giữ được người.
Chỗ hay nhất của khu đất này lại nằm ở quan hệ giữa đỉnh và chân núi. Trên đỉnh là chùa, dưới chân là thửa ruộng tịch điền. Trên là việc của đạo, dưới là việc của mùa màng. Người đứng ở sân chùa nhìn xuống thì thấy trọn cánh đồng mà đường cày đầu năm mở ra, và người đứng dưới ruộng ngẩng lên thì thấy mái chùa. Phép xem đất gọi thế nhìn thông suốt giữa hai điểm ấy là hô ứng. Ở đây sự hô ứng không phải giữa hai ngọn núi mà là giữa nơi thờ tự và nơi làm ăn, và đó là điều làm ngọn núi này khác với mọi ngọn núi chùa khác của châu thổ.
VHội Chùa Tháng Ba Và Lễ Tịch Điền
Vùng núi Đọi có hai kỳ lễ lớn, và hai kỳ ấy thuộc về hai lớp khác nhau. Lễ tịch điền mở đầu năm dưới chân núi, thuộc lớp nghi lễ nhà nông. Hội chùa mở vào tháng Ba trên đỉnh núi, thuộc lớp nhà chùa.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 7 tháng Giêng | Lễ tịch điền Đọi Sơn | Tái hiện việc vua Lê Đại Hành xuống ruộng cày mùa xuân năm 987. Có lễ rước linh vị, rước kiệu thành hoàng và kiệu Tổ nghề trống, dâng hương, đọc văn trình, rồi nghi thức cày tịch điền dưới chân núi. |
| 19 tháng Ba | Mở hội chùa | Ngày đầu kỳ hội trên đỉnh núi, cáo yết và dâng hương tại các ban thờ, chuẩn bị cho ngày chính. |
| 20 tháng Ba | Rước và tế | Đám rước của các thôn quanh núi cùng phần tế theo nghi thức cổ truyền tại sân chùa. |
| 21 tháng Ba | Chính hội | Ngày trọng nhất của kỳ hội chùa, với các khoa cúng, lễ dâng hương và trò diễn dân gian. Một số nguồn chỉ ghi ngày 21 và coi đó là ngày hội. |
| Rằm và mùng một | Lệ thường tháng | Ngoài hai kỳ trên, chùa đông người vào các ngày rằm mùng một và dịp đầu xuân theo lệ chung. |
Lễ tịch điền đáng được nói thêm. Đây là nghi lễ do nhà nước cổ truyền đứng ra làm, không phải lễ của nhà chùa, và nội dung của nó rất gọn: người đứng đầu cầm cày, đi mấy đường cày đầu tiên của năm, để nói rằng việc nông là việc lớn. Lệ ấy ngưng rất lâu rồi được phục dựng lại từ năm 2009 với quy mô lớn, và tới năm 2017 được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Việc một ngôi chùa trên núi và một thửa ruộng dưới chân núi cùng giữ hai kỳ lễ như vậy là chuyện hiếm. Nó cho thấy nơi đây không chỉ là chỗ thờ tự mà còn là chỗ neo của một tập quán rất cũ, cũ hơn cả ngôi chùa, về chuyện đất và chuyện ăn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình (xã Đọi Sơn cũ)
- Đường tới
- Chùa nằm trên núi Đọi, thuộc phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình, trên đất xã Đọi Sơn cũ của tỉnh Hà Nam cũ. Thửa ruộng tịch điền nằm ngay dưới chân núi, đi bộ được từ chân đường bậc đá.
- Toạ độ
- 20.5847, 105.9751
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải khu trưng bày, nên lệ của chùa là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa trong, đi nhẹ nói khẽ ở khu thờ chính, tuyệt đối không chạm tay, không dập giấy và không trèo lên tấm bia cùng các pho tượng đá, vì đó là bảo vật quốc gia. Đường lên là gần ba trăm bảy mươi ba bậc đá, có chỗ trơn khi mưa, quý vị đi chậm và bám tay vịn. Mùa hội tháng Ba có đám rước lên xuống theo đường bậc, xin nhường đường cho kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Đọi Sơn
Contribute photos, information or video for Doi Son PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Đọi Sơn tên chữ là gì
Tên chữ là Long Đọi Sơn tự, tên nôm là chùa Đọi hoặc chùa Đọi Sơn, một số tài liệu ghi thêm cách gọi Diên Linh tự. Nhiều nơi ghi tên chữ là Sùng Thiện Diên Linh tự, nhưng đó thực ra là tên ngọn tháp do vua Lý Nhân Tông dựng và là tên tấm bia ghi việc dựng tháp, không phải tên chùa.
Chùa Đọi Sơn có mấy bảo vật quốc gia
Hai. Thứ nhất là bia Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1121, đá xanh nguyên khối, mặt trước khắc 4257 chữ Hán do Nguyễn Công Bật soạn. Thứ hai là bộ sáu pho tượng Kim Cương bằng đá sa thạch tạc thời Lý, phần còn lại của bộ tám vị từng canh cửa tháp, được công nhận trong đợt thứ mười ba năm 2024.
Chùa Đọi Sơn xây từ năm nào
Khởi dựng năm 1054 đời Lý Thánh Tông. Tới đời Lý Nhân Tông, chùa được mở rộng với ngọn tháp Sùng Thiện Diên Linh khởi công năm 1118 và hoàn thành năm 1121. Tháp đã đổ từ đầu thế kỷ 15, phần kiến trúc đang thấy hôm nay thuộc các lớp dựng lại thời Lê và thời Nguyễn.
Lễ tịch điền Đọi Sơn là lễ gì và mở ngày nào
Là nghi lễ nhà vua cầm cày mở đường cày đầu năm để khuyến khích việc nông. Tài liệu ngành văn hóa tỉnh chép vua Lê Đại Hành về chân núi Đọi xuống ruộng cày mùa xuân năm 987. Lễ mở vào mùng bảy tháng Giêng âm lịch, được phục dựng quy mô lớn từ năm 2009 và vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017.
Hội chùa Đọi Sơn mở vào ngày nào
Hội mở vào tháng Ba âm lịch trên đỉnh núi. Tài liệu của ngành du lịch tỉnh ghi hội diễn ra ba ngày từ 19 tới 21 tháng Ba, một số nguồn khác chỉ ghi ngày chính là 21 tháng Ba. Hai cách ghi ấy vênh nhau nên chúng tôi ghi cả hai.