VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Thái Lạc

Pháp Vân tự

Ngôi chùa thờ vị thần mây của nhà nông châu thổ, giữ được bộ khung gỗ chạm khắc thuộc lớp cổ nhất còn lại trên đất nước ta.

Khởi dựng
khoảng 1300
các nguồn chỉ ghi thời Trần, không nêu năm cụ thể
Chạm khắc thời Trần
16 tới 20 bức
nguồn ghi số vốn có và số còn nguyên vẹn khác nhau
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018

Bước qua tam quan, đi hết khoảng sân gạch, quý vị vào tòa tiền đường rồi qua thiêu hương tới thượng điện. Đến đây xin ngẩng đầu lên. Trên cao, giữa những thanh gỗ đã sẫm màu vì khói hương mấy trăm năm, là một dàn chạm nổi gồm ba người ngồi ôm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn tam, tiên nữ đầu người mình chim dâng hoa và tấu nhạc, tiên nữ cưỡi chim phượng, cùng rồng lẩn trong mây.

Những mảng gỗ ấy thuộc thời Trần. Cả nước hôm nay chỉ còn rất ít công trình giữ được cấu kiện gỗ của thời ấy, và Thái Lạc là một trong số đó, cùng với chùa Dâu ở Bắc Ninh và chùa Bối Khê ở Hà Nội. Nhưng điều đáng nói ở đây không dừng ở tuổi gỗ. Ngôi chùa này có tên chữ là Pháp Vân tự, dân gian còn gọi là chùa Pháp Vân hay chùa Bà Cả, và vị được thờ chính trong thượng điện không phải một vị Phật trong kinh điển Ấn Độ, mà là thần Mây.

Chùa Thái Lạc
Chùa Thái Lạc. Ảnh: Daderot, giấy phép CC0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Pháp Vân và hệ Tứ Pháp

Chùa thờ Phật theo lối Phật giáo Bắc tông, nhưng ban được người trong vùng coi trọng nhất là ban Pháp Vân. Tên chữ của chùa cũng lấy theo vị này, và tên gọi dân gian chùa Bà Cả cũng từ việc bà Pháp Vân đứng ngôi chị cả trong bốn vị. Muốn hiểu ngôi chùa thì phải hiểu Pháp Vân là ai, và đây là chỗ hay bị nói sai nhất.

Theo giáo nghĩa

Tứ Pháp là bốn vị thần được thờ dưới hình tướng Phật, trong đó Pháp Vân là mây, Pháp Vũ là mưa, Pháp Lôi là sấm và Pháp Điện là chớp. Bốn hiện tượng ấy đúng là bốn thứ mà một xã hội trồng lúa nước phải ngóng suốt cả năm. Chữ pháp đứng trước mỗi tên là chữ nhà Phật, nghĩa là giáo pháp. Ghép chữ ấy vào mây mưa sấm chớp tức là đem ngôn ngữ đạo Phật khoác lên những vị thần thời tiết mà nhà nông đã thờ từ trước khi đạo Phật tới. Trong bốn vị, Pháp Vân đứng đầu.

Chỗ hay hiểu lầm

Điểm cần nói thẳng là Tứ Pháp không phải thần của Phật giáo Ấn Độ. Kinh điển nhà Phật từ Ấn Độ sang không có bốn vị này. Đây là một hệ thần hình thành ngay trên đất Việt, thuộc tín ngưỡng nông nghiệp bản địa, về sau được đạo Phật thu nhận và đặt cho danh xưng nhà Phật. Người đi lễ thấy tượng ngồi trên tòa sen trong một ngôi chùa thì quen miệng gọi là Phật, nhưng gốc gác của các vị ấy nằm ở ruộng đồng châu thổ chứ không nằm trong kinh sách.

Chính vì thế mà lễ lớn nhất trong năm của chùa Thái Lạc không phải lễ Phật đản mà là lễ cầu mưa, mở vào tháng Ba âm lịch, đúng lúc vụ chiêm cần nước. Một ngôi chùa lấy cầu mưa làm hội chính thì đã tự nói ra gốc của mình.

Theo sử liệu

Trung tâm cổ nhất của tín ngưỡng Tứ Pháp là vùng Dâu ở Bắc Ninh, tức khu vực thành Luy Lâu cũ, lỵ sở quận Giao Chỉ những thế kỷ đầu Công nguyên và là một trong những nơi đầu tiên trên đất nước ta có tăng sĩ và kinh sách. Gốc của hệ thần này nằm trong truyện Man Nương, kể về người con gái bản địa theo học đạo với nhà sư Khâu Đà La từ Ấn Độ sang, về sau người ta lấy gỗ một cây Dung Thụ tạc bốn pho tượng đặt vào bốn ngôi chùa, thành Tứ Pháp. Pháp Vân được thờ ở chùa Dâu, ngôi đứng đầu cả hệ thống.

Từ vùng Dâu, tín ngưỡng ấy lan ra khắp châu thổ sông Hồng. Theo tư liệu trên Cổng thông tin Phật giáo Việt Nam, truyền thuyết vùng tổng Thái Lạc kể rằng xưa dân tổng này sang Luy Lâu mua được một cành lớn của cây gỗ thiêng đem về chia làm bốn đoạn, thuê hai người thợ là Đào Khảm và Đào Lượng tạc bốn pho tượng mẫu Tứ Pháp nhỏ rước về bốn thôn thờ, trong đó thôn Thái Lạc thờ Pháp Vân nên chùa mang tên Pháp Vân tự. Đến thời Mạc, dân địa phương lại dùng gỗ mít tạc thêm bốn pho tượng Tứ Pháp lớn theo vóc dáng người đương thời, riêng tượng Đức Pháp Vân ở chùa Thái Lạc cao 1,56 mét, sơn màu mận chín, đặt tại tòa thượng điện.

IITừ thời Trần tới các lớp trùng tu

Về niên đại, cần nói rõ ngay một điều. Các tài liệu chính thức chỉ ghi chùa được khởi dựng vào khoảng thời Trần, tức trong quãng từ năm 1225 tới năm 1400, chứ không nêu một năm cụ thể. Con số quanh năm 1300 thường được dùng là một mốc quy ước cho lớp niên đại ấy, không phải một năm chép trong văn bia.

Theo sử liệu

Cái chắc chắn không nằm ở giấy tờ mà nằm ở gỗ. Bộ vì nóc của tòa thượng điện cùng các mảng chạm gắn trên đó được giới nghiên cứu xác định thuộc phong cách nghệ thuật thời Trần, dựa trên đề tài, cách bố cục và lối chạm. Đó là bằng chứng vật chất, và nó đáng tin hơn bất cứ con số nào.

Các lớp về sau thì có bia ghi. Chùa được sửa chữa nhiều lần trong thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, các nguồn ghi những đợt vào các năm 1609, 1612, 1630, 1636, 1690, 1691 và 1703. Trong chùa còn ba tấm bia đá thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, đáng chú ý có tấm bia niên hiệu Hoằng Định thứ 10 năm 1609 đặt tại hành lang và tấm bia niên hiệu Chính Hòa thứ 24 năm 1703 đặt tại vườn chùa ghi rằng vị trí nhà Tổ hiện nay vốn là nơi dựng gác chuông xưa. Ngoài ra tại gian bên trái tiền đường còn treo quả chuông đồng niên đại Minh Mệnh vạn vạn niên năm 1820, gian trung tâm treo bức đại tự Từ phong viễn bá niên đại Khải Định Kỷ Mùi năm 1919, cùng gạch cổ thời Mạc. Nói cách khác, bộ khung nhà quý vị đang đứng dưới là khung dựng lại từ thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn, còn những mảng chạm trên cao mới là phần thời Trần được giữ lại và lắp vào khung mới.

  • Thời TrầnKhởi dựng
    Các tài liệu chính thức ghi chùa dựng trong khoảng từ năm 1225 tới năm 1400, không nêu năm cụ thể. Mốc quanh năm 1300 là quy ước cho lớp niên đại này.
  • Thế kỷ 14Bộ vì và các mảng chạm
    Bộ vì nóc tòa thượng điện cùng các bức chạm nổi mang phong cách nghệ thuật thời Trần được tạo tác, sau này giữ lại qua mọi lần trùng tu.
  • 1609 và 1612Đợt sửa đầu thế kỷ 17
    Những đợt tu sửa sớm còn được văn bia ghi lại, trong đó có tấm bia niên hiệu Hoằng Định thứ 10 năm 1609 hiện đặt ở hành lang.
  • 1630 và 1636Đại tu thời Lê Trung Hưng
    Các đợt sửa chữa lớn, phần lớn khung gỗ thượng điện và bố cục nội công ngoại quốc hiện còn hình thành từ những đợt trùng tu trong thế kỷ 17.
  • 1690 tới 1703Tu tạo và dựng gác chuông
    Đợt tu tạo nối tiếp vào các năm 1690, 1691 và 1703. Bia niên hiệu Chính Hòa thứ 24 năm 1703 tại vườn chùa ghi việc dựng gác chuông ở vị trí nay là nhà Tổ.
  • 1820 và 1919Tu bổ thời Nguyễn
    Tiền đường và nhiều hạng mục được tu bổ theo phong cách thời Nguyễn, để lại quả chuông đồng niên đại Minh Mệnh năm 1820 và bức đại tự Từ phong viễn bá năm Khải Định Kỷ Mùi 1919.
  • 1964Di tích quốc gia
    Chùa được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, thuộc lớp di tích được xếp hạng sớm ở miền Bắc.
  • 2018Di tích quốc gia đặc biệt
    Chùa Thái Lạc được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1820/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2018.

IIIThượng điện và những bức chạm thời Trần

Chùa dựng theo lối nội công ngoại quốc. Khu Tam bảo ở trung tâm làm theo hình chữ công gồm tiền đường, thiêu hương và thượng điện, bao quanh là hai dãy hành lang mỗi bên chín gian và nhà Tổ bảy gian ở phía sau, ngoài cùng có tam quan, nhà Mẫu và vườn tháp. Riêng số gian của tòa tiền đường được các nguồn ghi khác nhau, có tài liệu ghi năm gian, bài khảo trên Cổng thông tin Phật giáo ghi bảy gian làm lại thời Nguyễn, còn bài trên tạp chí Ngày Nay ở đoạn mô tả chi tiết lại ghi chín gian. Mặt tiền chùa quay về hướng đông nam.

Tam quan

Cổng vào mở đầu trục kiến trúc của chùa, dẫn qua khoảng sân gạch rộng trước khi bước vào khu Tam bảo.

Tiền đường và thiêu hương

Tòa ngoài của khu Tam bảo được làm lại theo phong cách thời Nguyễn, số gian được các nguồn ghi là năm, bảy hoặc chín gian. Gian bên trái treo chuông đồng đúc năm 1820, gian giữa treo đại tự năm 1919, nối ra sau qua tòa thiêu hương hai gian.

Thượng điện

Tòa trong cùng của khu Tam bảo, gồm ba gian hoặc một gian hai chái, đặt khám thờ lớn có tượng Pháp Vân và ba bệ thờ. Đây là nơi giữ bộ vì gỗ và toàn bộ các mảng chạm thời Trần, tức phần quý nhất của di tích.

Hai dãy hành lang

Hai dãy chạy dọc hai bên sân, mỗi dãy chín gian nối tiền đường với nhà Tổ, khép khu chùa thành hình chữ quốc bên ngoài.

Nhà Tổ và nhà Mẫu

Nhà Tổ bảy gian ở phía sau thờ các đời trụ trì, theo bia năm 1703 thì vị trí này xưa từng là nền gác chuông. Nhà Mẫu thờ Tam tòa Thánh Mẫu, là lớp tín ngưỡng bản địa thứ hai trong khuôn viên chùa.

Bia đá và hiện vật

Ba tấm bia đá năm 1609 và đầu thế kỷ 18 ghi các lần tu tạo, cùng hệ thống tượng Tứ Pháp thời Mạc, tượng Phật, ba bệ thờ gỗ, chuông đồng năm 1820 và gạch cổ thời Mạc.

Phần đáng xem nhất nằm trên cao. Bộ vì nóc thượng điện làm theo kiểu trụ trốn giá chiêng, trên thân cột trụ ở hai vì gian giữa tạc hình ông phỗng quỳ hai tay nâng tòa sen đỡ hoành nóc, còn các khoảng trống trên ván bưng, cốn và ván gió được lấp bằng những mảng chạm nổi. Đề tài gồm tiên nữ đầu người mình chim (Kinnari) dâng hoa hoặc tấu nhạc, dàn nhạc công ngồi chơi đàn tranh, đàn tỳ bà và đàn tam, tiên nữ cưỡi phượng, cùng hình rồng ẩn hiện trong mây và hoa dây sóng nước. Đây là một trong những bộ chạm khắc gỗ thời Trần đầy đủ nhất còn lại trên đất nước ta, và là nguồn tư liệu hiếm về nhạc cụ cùng trang phục của thời ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Số lượng những bức chạm này là chỗ các nguồn ghi vênh nhau, xin nói rõ. Hồ sơ di tích trên trang của Cục Di sản văn hóa và tài liệu của Ban quản lý di tích tỉnh Hưng Yên đều ghi thượng điện còn 20 bức phù điêu gỗ mang phong cách thời Trần. Một số bài nghiên cứu và báo chí lại ghi 16 bức. Cách giải thích thường gặp là bộ chạm vốn có hai mươi bức, nhưng qua thời gian chỉ còn mười sáu bức tương đối nguyên vẹn, nên có nguồn đếm theo số vốn có và có nguồn đếm theo số còn lành. Thư viện ghi cả hai con số thay vì chọn bừa một.

Một chỗ nữa hay bị hiểu sai là cả tòa thượng điện không phải công trình thời Trần còn nguyên từ chân tới mái. Khung nhà đang đứng thuộc các đợt dựng lại thời Lê Trung Hưng, còn phần thời Trần là bộ vì nóc và các mảng chạm được giữ lại rồi lắp vào khung mới. Người xưa sửa chùa nhưng không bỏ gỗ cũ, và chính thói quen ấy là lý do hôm nay ta còn được thấy.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa nằm giữa vùng đồng bằng thấp của châu thổ sông Hồng, trên dải đất cao hơn ruộng chung quanh. Trong phép xem đất ở đồng bằng, nơi không có núi để làm hậu chẩm thì chỗ dựa được thay bằng thế đất nổi và bằng các dòng nước bao lấy. Vùng này nằm giữa mạng sông ngòi dày của hạ lưu sông Hồng, nước là thứ sẵn có nhất, và đó là điều đáng đọc trước tiên.

Xét theo ngũ hành, chỗ này thuộc thế Thủy Thổ tương giao, khi nước sông ngòi bao quanh là Thủy còn gò đất nổi giữa đồng là Thổ. Thổ gặp Thủy thành phù sa, mà phù sa là chỗ sinh của nghề nông. Vị thần được thờ trong thượng điện lại đúng là thần Mây, vị đứng đầu bốn hiện tượng chi phối mùa màng, và lễ lớn nhất của chùa là lễ cầu mưa. Thần trùng với hành của đất, lễ trùng với nhu cầu của đất, trong phép cũ sự trùng khớp ấy gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ.

Về hướng, mặt tiền chùa quay đông nam. Đây là hướng được chuộng ở châu thổ Bắc Bộ chỉ sau hướng nam, vì đón được gió nồm mùa hè và tránh gió bấc mùa đông. Với một ngôi chùa thờ thần Mây thì hướng ấy còn thêm một lớp nghĩa vì gió nồm đông nam là ngọn gió mang hơi nước từ biển vào, cũng là ngọn gió báo mưa. Quay mặt về phía gió mang mưa tới là một lựa chọn hợp cả với lẽ thực lẫn với nghĩa thờ tự.

Sau cùng là bố cục. Lối nội công ngoại quốc với hai dãy hành lang chín gian khép kín tạo ra một sân trong vuông vắn, làm thành minh đường ngay trong lòng chùa chứ không phải ở ngoài cổng. Khí vào qua tam quan, tụ lại ở sân trong, rồi mới dẫn vào thượng điện ở chỗ sâu nhất. Đọc theo phép cũ thì đây là cách giữ khí của một ngôi chùa đồng bằng không có núi che, khi không dựa được vào địa hình thì dựng lấy một vòng khép bằng chính kiến trúc của mình.

VHội cầu mưa tháng Ba

Hội chùa Thái Lạc là hội cầu mưa, nằm trong cụm lễ hội Tứ Pháp của vùng Lạc Hồng đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hội mở vào tháng Ba âm lịch, đúng lúc vụ chiêm đang cần nước, chứ không mở vào dịp đầu xuân như phần lớn hội chùa Bắc Bộ. Các nguồn ghi hội diễn ra từ mùng sáu tới mùng tám tháng Ba.

Trình tự hội chùa Thái Lạc theo tài liệu của Ban quản lý di tích tỉnh Hưng Yên. Nguồn: Ban quản lý di tích tỉnh Hưng Yên và hồ sơ di tích chùa Thái Lạc..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
Trước mùng 6 tháng BaSửa lễ và bao sáiLàng sửa soạn lễ vật, nhà chùa lau dọn tượng pháp và đồ thờ, chuẩn bị cho kỳ hội.
Mùng 6 tháng BaVào hộiMở hội tại chùa, dâng hương ở ban Phật và ban Pháp Vân, tế lễ theo lệ của làng.
Mùng 7 tháng BaLễ cầu mưaPhần lõi của cả kỳ hội, cầu cho mưa thuận để kịp nước cho vụ chiêm.
Mùng 7 và mùng 8 tháng BaTrò đánh GiăngTrò diễn dân gian riêng của vùng này, còn gọi là đánh Trăng, gắn với lệ cầu mưa và được coi là nét đặc sắc nhất của hội.
Mùng 8 tháng BaChính hội và giã hộiNgày trọng nhất, có đại tế và dâng hương, sau đó khép lại kỳ hội.

Cũng như ở vùng Dâu, hội của một ngôi chùa Tứ Pháp kết bằng một trò diễn của nhà nông chứ không kết bằng nghi thức nhà chùa thuần túy. Trò đánh Giăng là lệ của làng, được giữ nguyên rồi đưa vào khuôn khổ ngày hội chùa. Nhìn vào đó thì thấy rõ chỗ hai lớp tín ngưỡng nhập vào nhau, phần kinh kệ thuộc nhà chùa còn phần cầu mưa và trò diễn thuộc về ruộng đồng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
thôn Thái Lạc, xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên (xã Lạc Hồng cũ)
Đường tới
Chùa nằm ở thôn Thái Lạc, xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên, thuộc địa bàn xã Lạc Hồng huyện Văn Lâm cũ, cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi lăm cây số về phía đông. Đi cùng tuyến có thể ghé thêm các chùa Tứ Pháp ở vùng Dâu bên Bắc Ninh.
Toạ độ
20.9576, 106.0144
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị lưu ý ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa trong, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện, không chạm tay vào cột và các ván chạm. Muốn xem các bức chạm thời Trần thì phải ngẩng lên nhìn bộ vì nóc, xin quý vị đứng lùi ra chứ đừng trèo lên bệ thờ. Mùa hội tháng Ba đông người, xin nhường lối cho phần tế lễ của làng.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Thái Lạc

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Thái Lạc thờ ai

Chùa thờ Phật theo lối Phật giáo Bắc tông, đồng thời thờ thần Pháp Vân, tức thần Mây, vị đứng đầu trong hệ Tứ Pháp gồm Pháp Vân là mây, Pháp Vũ là mưa, Pháp Lôi là sấm và Pháp Điện là chớp. Tên chữ của chùa là Pháp Vân tự, dân gian còn gọi là chùa Pháp Vân hay chùa Bà Cả. Trong khuôn viên còn có nhà Mẫu thờ Tam tòa Thánh Mẫu.

Tứ Pháp có phải là bốn vị Phật trong kinh điển không

Không. Kinh điển Phật giáo từ Ấn Độ sang không có bốn vị này. Tứ Pháp là hệ thần hình thành ngay trên đất Việt, thuộc tín ngưỡng nông nghiệp bản địa thờ mây mưa sấm chớp, về sau được đạo Phật thu nhận và đặt cho danh xưng nhà Phật. Trung tâm cổ nhất của hệ thần này là vùng Dâu ở Bắc Ninh.

Chùa Thái Lạc có từ năm nào

Các tài liệu chính thức chỉ ghi chùa được dựng vào khoảng thời Trần, tức trong quãng từ năm 1225 tới năm 1400, không nêu năm cụ thể. Bằng chứng chắc chắn nhất cho lớp niên đại ấy là bộ vì gỗ và các mảng chạm mang phong cách nghệ thuật thời Trần còn trên tòa thượng điện.

Thượng điện chùa Thái Lạc còn bao nhiêu bức chạm thời Trần

Nguồn vênh nhau. Hồ sơ của Cục Di sản văn hóa và tài liệu của Ban quản lý di tích tỉnh Hưng Yên ghi 20 bức phù điêu gỗ, một số bài nghiên cứu và báo chí ghi 16 bức. Cách giải thích thường gặp là bộ chạm vốn có hai mươi bức, nay chỉ còn mười sáu bức tương đối nguyên vẹn. Thư viện ghi cả hai con số.

Hội chùa Thái Lạc mở vào ngày nào

Hội mở vào tháng Ba âm lịch, các nguồn ghi từ mùng sáu tới mùng tám. Đây là hội cầu mưa chứ không phải hội xuân, mở đúng lúc vụ chiêm cần nước. Nét riêng của hội là trò diễn dân gian đánh Giăng, còn gọi là đánh Trăng, gắn với lệ cầu mưa của vùng.

›Đọc Tiếp