Từ đường làng rẽ vào, quý vị gặp một cổng năm cửa chứ không phải ba, rồi một chiếc cầu gạch nhỏ bắc qua hào nước, rồi mới tới tam quan có gác chuông hai tầng tám mái. Qua sân gạch là tòa tiền đường bảy gian đặt trên nền cao ba bậc. Đi hết lớp nhà thờ Phật, quý vị chưa ra tới cửa sau, vì còn một lớp nữa: một tòa điện dựng theo lối chồng diêm hai tầng tám mái, đao cong, đỡ bằng hệ đấu củng.
Tòa điện sau cùng ấy không thờ Phật. Đó là điện Thánh, thờ vị mà người vùng này gọi là Đức Thánh Bối. Lối bày ấy có tên riêng trong nghề, gọi là tiền Phật hậu Thánh, và nó nói ra ngay điều quan trọng nhất về ngôi chùa này: đây là chỗ một ngôi chùa Phật giáo và một nơi thờ thánh của làng cùng đứng chung dưới một mái, không nơi nào lấn nơi nào.
IĐức Thánh Bối Và Lối Tiền Phật Hậu Thánh
Tên chữ của chùa là Đại Bi tự, lấy từ chữ đại bi trong nhà Phật, nghĩa là lòng thương lớn. Nhưng người ngoài vùng nhớ nơi này không phải vì tên chữ ấy, mà vì tòa điện phía sau và vị thánh được thờ trong đó.
Tiền Phật hậu Thánh là một lối bố trí riêng của chùa Bắc Bộ, trong đó khu thờ Phật đặt phía trước và khu thờ một vị thánh đặt phía sau, trên cùng một trục. Vị thánh ấy thường là một nhà sư có thật, tu tại chùa, sau khi viên tịch thì được dân làng thờ như thánh và được triều đình ban sắc. Lối bày này cho thấy hai hệ tín ngưỡng khác nhau đã sắp xếp chỗ đứng với nhau ra sao: đạo Phật giữ phần giáo pháp ở phía trước, còn phần thiêng của làng, thứ gắn với cầu đảo và với việc giữ cho làng yên, đặt ở phía sau và ở chỗ kín hơn.
Theo thần tích và các bản kể còn lưu, Đức Thánh Bối sinh năm Tân Tỵ, tức năm 1281, tại chính làng Bối Khê. Ngài xuất gia năm mười lăm tuổi, lấy hiệu Đức Minh, học đạo với thiền sư Phạm Cốc, về sau trụ trì chùa Tiên Lữ, tức ngôi chùa quen gọi là chùa Trăm Gian ở vùng Chương Mỹ. Thần tích chép ngài làm lễ cầu đảo có ứng nghiệm vào năm 1307 và được vua Trần Anh Tông ban hiệu Đức Minh Chân Nhân. Sau khi ngài viên tịch, làng Bối Khê quê ngài và làng Tiên Lữ nơi ngài trụ trì kết chạ với nhau, hai làng qua lại dự hội của nhau, lệ ấy giữ tới nay.
Chùa còn một tấm bia năm 1453 ghi sự tích thánh Bối, cùng hệ thống sắc phong mà tài liệu của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ghi là hai mươi hai đạo, trải qua nhiều triều.
Chỗ cần nói thẳng: tên của vị thánh này được các nguồn chính thức ghi khác nhau, và chúng tôi không chọn bừa một bên.
Tài liệu trên cổng thông tin của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ghi là Nguyễn Đình An. Báo Nhân Dân trong bản tin về lễ đón bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, cùng các trang Phật sự và phần lớn tài liệu về thần tích, ghi là Nguyễn Bình An. Hai chữ Đình và Bình khác nhau đúng một nét trong chữ Hán, nên khả năng lớn nhất là một lần chép sai đã đi vào văn bản rồi được nhân bản về sau. Nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm bên nào đúng, nên ghi cả hai cách để quý vị biết mà đối chiếu.
Một chỗ nữa hay bị hiểu nhầm: Đức Thánh Bối không phải một vị Phật hay Bồ Tát. Đây là một nhà sư người thật của làng, sau khi mất được thờ như thánh. Ban thờ ngài đặt ở tòa sau, tách khỏi khu thờ Phật ở tòa trước, chính là để giữ rạch ròi chỗ khác nhau ấy.
IITấm Bia Năm Khai Hựu Thứ Mười
Với phần lớn chùa cổ, niên đại khởi dựng là chuyện truyền thuyết. Ở Bối Khê thì khác, vì có một cái mốc chắc chắn nằm trên đá.
Chùa còn tấm bia dựng năm Khai Hựu thứ 10, tức năm 1338, đời Trần Hiến Tông, ghi việc công chúa Thánh Châu cúng tiền đúc chuông cho chùa. Muốn đúc chuông thì chùa phải có sẵn, nên năm 1338 là mốc muộn nhất mà ngôi chùa chắc chắn đã tồn tại, chứ không phải năm dựng. Đây là lý do mọi tài liệu về Bối Khê đều lấy 1338 làm năm gốc.
Giá trị của tấm bia ấy không chỉ ở con số. Cả nước hiện chỉ còn rất ít công trình gỗ mang cấu kiện thời Trần, và Bối Khê được xếp vào nhóm ấy cùng với chùa Dâu ở Bắc Ninh và chùa Thái Lạc ở Hưng Yên. Ở ba nơi này, thứ còn lại từ thời Trần không phải cả tòa nhà mà là những mảng cấu kiện gỗ và đá được giữ qua các lần trùng tu sau, nằm lẫn trong khung gỗ của thời Lê và thời Nguyễn. Người đi xem cần biết trước điều đó để khỏi trông đợi một ngôi chùa thời Trần nguyên vẹn.
- 1281Năm sinh của Đức Thánh BốiTheo thần tích, vị thánh được thờ ở tòa điện sau sinh tại làng Bối Khê năm Tân Tỵ, sau xuất gia với hiệu Đức Minh.
- 1338Bia năm Khai Hựu thứ 10Bia ghi việc công chúa Thánh Châu cúng tiền đúc chuông, mốc chắc chắn nhất cho sự tồn tại của chùa. Chùa cũng còn quả chuông gắn với năm này.
- Thế kỷ 14Lớp cấu kiện thời TrầnBệ đá hoa sen, các mảng chạm gỗ và hình chim thần ở đầu bẩy thuộc lớp nghệ thuật Trần, được giữ lại qua các lần trùng tu về sau.
- 1453Bia ghi sự tích thánh BốiTấm bia đá chép thần tích của vị thánh được thờ tại điện Thánh, là tư liệu gốc cho phần lớn bản kể lưu hành sau này.
- Thế kỷ 16Lớp tượng và gạch thời MạcChùa còn tượng và gạch mang phong cách thời Mạc, cho thấy một đợt tu bổ lớn trong thế kỷ này.
- Thế kỷ 17 tới 19Định hình bộ khung hiện cònPhần lớn khung nhà, hệ hành lang, gác chuông và hệ thống tượng đang thấy hôm nay thuộc các đợt dựng lại và tu bổ thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.
- 1979Di tích quốc giaChùa được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
- 2025Di tích quốc gia đặc biệtQuyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt được ký ngày 17 tháng 1 năm 2025, lễ đón bằng tổ chức tại chùa ngày 7 tháng 2 cùng năm.
IIINgũ Môn, Điện Thánh Và Bệ Đá Hoa Sen
Chùa dựng theo lối nội công ngoại quốc, các tòa chính bên trong xếp thành hình chữ công, hai dãy hành lang và các nhà phía sau khép lại thành một khung vuông bao quanh. Trục chính đi từ ngũ môn, qua cầu gạch và tam quan, tới tiền đường, thượng điện, rồi sau cùng là điện Thánh. Toàn bộ trục ấy quay về hướng tây, khác với lối chuộng hướng nam thường gặp ở chùa Bắc Bộ.
Cổng ngoài mở năm cửa thay vì ba như tam quan thường thấy. Đây là một nét hiếm, và là thứ đầu tiên cho biết ngôi chùa này không theo khuôn mẫu chung.
Dựng theo lối chồng diêm hai tầng tám mái, trên gác treo chuông. Các nguồn ghi chùa còn hai quả chuông đồng, một gắn với năm 1338 và một vào khoảng đầu thế kỷ 15.
Tiền đường bảy gian đặt trên nền cao ba bậc, mái đao cong. Thượng điện nhỏ hơn, đặt trên nền cao, các mảng chạm rồng và phượng ở đây mang phong cách nghệ thuật thời Trần.
Hai dãy chạy song song hai bên sân, mỗi dãy bảy gian, đặt hệ thống mười tám pho tượng La Hán bằng đất nung với nét mặt và tư thế khác nhau.
Tòa trong cùng, thờ Đức Thánh Bối. Kết cấu chồng diêm hai tầng tám mái, đao cong, đỡ bằng hệ đấu củng, là hạng mục được nhắc tới nhiều nhất khi nói về giá trị kiến trúc của chùa.
Bệ đá nhiều tầng chạm cánh sen, đặt trong khu thờ chính, bốn góc chạm hình chim thần. Các nguồn ghi kích thước khoảng 1,53 mét nhân 1,04 mét và niên đại năm 1382.
Hiện vật đáng chú ý nhất của chùa là bệ đá hoa sen và những hình chim thần Garuda tạc bằng gỗ ở đầu các thanh bẩy. Garuda là chim thần trong hệ thần thoại Ấn Độ, vào nghệ thuật Việt qua ngả Chăm Pa, thường thấy ở tư thế giơ hai tay đỡ lấy mái. Việc một ngôi chùa ở châu thổ sông Hồng dùng mô típ ấy cho thấy nghệ thuật thời Trần vẫn còn giữ lớp ảnh hưởng Chăm rất rõ, và Bối Khê là một trong số ít chỗ còn bằng chứng bằng gỗ chứ không chỉ bằng đá.
Trong chùa còn hơn năm mươi pho tượng, trong đó có pho Quan Âm mười hai tay đặt trên bệ sen, cùng chân đèn đá, tượng và gạch thời Mạc, tượng thời Lê. Cả cụm hiện vật ấy trải từ thế kỷ 14 tới thế kỷ 19, và chính sự trải dài đó làm nên giá trị của chùa: đây là một nơi được nối tay giữ liên tục, không phải một di tích bị bỏ rồi dựng lại.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Chùa nằm trên một gò đất cao giữa đồng, bên dòng Đỗ Động giang cũ. Trong phép xem đất ở đồng bằng, nơi không có núi để làm chỗ dựa thì gò đất nổi cao hơn ruộng chung quanh đóng vai trò ấy, còn dòng chảy đóng vai trò dẫn khí. Chiếc hào nước và cây cầu gạch bắc qua trước tam quan không chỉ là lối đi, mà là một vòng nước nhỏ bao lấy khu chùa, làm cái ngưỡng ngăn giữa bên ngoài và bên trong.
Điều đáng bàn nhất ở đây là hướng tây. Đền chùa Bắc Bộ phần lớn quay nam, vì hướng nam đón gió mát mùa hè và tránh gió lạnh mùa đông, nên một ngôi chùa quay tây là chuyện cần có lý do. Đọc theo lối cũ thì có hai cách hiểu. Cách thứ nhất theo nghĩa nhà Phật: phương tây là phương của cõi Tịnh Độ, chùa quay tây là quay về chỗ mà người tu hướng tới. Cách thứ hai theo địa thế: hướng của một ngôi chùa làng thường phải chiều theo thế đất, thế nước và lối đi của làng, chứ không thể chọn tự do như khi dựng trên đất trống.
Về bố cục, cái đáng chú ý là trục dọc được kéo dài thêm một lớp so với chùa thường. Ở chùa thường, đi hết thượng điện là hết trục thờ. Ở Bối Khê còn một tòa nữa, và tòa ấy lại được dựng cao hơn, nhiều mái hơn, kỹ hơn cả phần trước. Đọc theo phép cũ, trục dọc dẫn khí đi sâu vào trong, càng vào trong càng kín và càng thiêng, nên đặt điện Thánh ở chỗ cuối cùng là đặt nó vào huyệt vị của cả khu đất. Điều này khớp với thực tế của làng: phần thiêng mà dân làng gắn bó nhất chính là phần thánh, không phải phần Phật.
Sau cùng là quan hệ với một nơi khác. Bối Khê không đứng lẻ, mà kết chạ với làng Tiên Lữ nơi có chùa Trăm Gian, hai bên qua lại dự hội của nhau hằng năm. Trong cách nghĩ cổ truyền, hai nơi thờ cùng một vị thánh và có người qua lại thường xuyên thì làm thành một cặp, mạch của bên này nối sang bên kia. Đọc thế đất Bối Khê mà bỏ đầu bên kia thì mới thấy được nửa phần.
VHội Chùa Tháng Giêng Và Tục Kết Chạ
Hội chùa Bối Khê mở vào tháng Giêng âm lịch, ngày chính là mười hai tháng Giêng, tức ngày gắn với Đức Thánh Bối chứ không phải một ngày lễ Phật. Đây là dấu rõ nhất cho thấy phần thánh mới là phần làm nên nhịp sinh hoạt của chùa.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 4 tháng Giêng | Hội chùa Trăm Gian | Làng Tiên Lữ mở hội tại chùa Trăm Gian, cũng thờ Đức Thánh Bối. Người làng Bối Khê sang dự theo tục kết chạ. |
| Mùng 10 tháng Giêng | Vào hội | Tài liệu của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ghi hội chùa Bối Khê kéo từ mùng mười tới mười hai tháng Giêng, mở đầu bằng lễ bao sái và dâng hương. |
| Mùng 11 tháng Giêng | Rước và tế | Rước kiệu quanh làng, tế tại điện Thánh. Đoàn của làng kết chạ sang dự, người hai làng gọi nhau theo lệ cũ là sãi quan anh. |
| Mùng 12 tháng Giêng | Chính hội | Ngày trọng nhất, có đại tế tại điện Thánh, dâng hương tại khu thờ Phật, cùng các trò diễn dân gian của làng. |
| Rằm và mùng một hằng tháng | Lệ thường | Ngày sóc vọng theo lệ nhà chùa, dâng hương ở cả khu thờ Phật lẫn điện Thánh. |
Kết chạ là lệ hai làng nhận nhau làm anh em, người hai bên không lấy nhau, gặp nhau thì xưng hô theo vai của làng chứ không theo tuổi. Ở đây lệ ấy có gốc rõ ràng: một làng là quê của vị thánh, một làng là nơi ngài trụ trì. Hội của hai nơi vì thế nối vào nhau thành một mùa hội kéo suốt nửa đầu tháng Giêng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, thành phố Hà Nội
- Đường tới
- Chùa nằm ở thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, thành phố Hà Nội, thuộc địa bàn huyện Thanh Oai cũ, cách trung tâm thành phố chừng hai mươi cây số về phía tây nam. Đi cùng tuyến có thể ghé chùa Trăm Gian ở vùng Chương Mỹ, nơi kết chạ với làng này.
- Toạ độ
- 20.8813, 105.7873
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa trong, đi nhẹ nói khẽ ở điện Thánh, không chạm tay vào bệ đá hoa sen và các mảng chạm gỗ cổ. Hai dãy hành lang đặt tượng La Hán là chỗ hẹp, xin quý vị đi một chiều. Mùa hội tháng Giêng có đám rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Bối Khê
Contribute photos, information or video for Boi Khe PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Bối Khê thờ ai
Chùa thờ theo lối tiền Phật hậu Thánh. Phía trước là khu thờ Phật theo Phật giáo Bắc tông, phía sau là điện Thánh thờ Đức Thánh Bối, một nhà sư người làng Bối Khê sinh năm 1281, về sau trụ trì chùa Trăm Gian. Chùa còn có ban thờ Mẫu và đền Đức Ông trong khuôn viên.
Đức Thánh Bối tên thật là gì
Nguồn vênh nhau. Tài liệu của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ghi là Nguyễn Đình An, còn báo Nhân Dân và các trang Phật sự ghi là Nguyễn Bình An. Hai chữ Đình và Bình gần nhau trong lối viết chữ Hán nên nhiều khả năng do chép lệch, nhưng chưa có tài liệu nói dứt điểm, vì vậy chúng tôi ghi cả hai.
Chùa Bối Khê có từ năm nào
Mốc chắc chắn là năm 1338, theo tấm bia dựng năm Khai Hựu thứ 10 đời Trần Hiến Tông, ghi việc công chúa Thánh Châu cúng tiền đúc chuông. Vì muốn đúc chuông thì chùa phải có sẵn, nên 1338 là năm muộn nhất chùa đã tồn tại chứ không phải năm khởi dựng.
Chùa Bối Khê còn gì từ thời Trần
Còn bệ đá hoa sen nhiều tầng chạm cánh sen, bốn góc chạm hình chim thần, cùng các mảng chạm gỗ và hình chim thần Garuda ở đầu bẩy. Đây là một trong số rất ít nơi ở nước ta còn giữ được cấu kiện gỗ thời Trần, cùng với chùa Dâu và chùa Thái Lạc.
Hội chùa Bối Khê mở vào ngày nào
Hội mở vào tháng Giêng âm lịch, ngày chính là mười hai tháng Giêng, gắn với Đức Thánh Bối chứ không phải một ngày lễ Phật. Làng Bối Khê kết chạ với làng Tiên Lữ nơi có chùa Trăm Gian, hai bên qua lại dự hội của nhau, hội bên Tiên Lữ mở vào mùng bốn tháng Giêng.