Từ chân núi đi lên, thứ đầu tiên đập vào mắt quý vị không phải một cổng tam quan cao rộng mà là một bức tường đất. Tường trình bằng đất nện, lẫn gạch ngói vỡ và những chiếc tiểu sành, chạy men theo sườn đồi gần bốn trăm mét, chỗ thấp chừng hai mét, chỗ cao tới năm mét. Sau bức tường ấy là gần một trăm gian nhà nối nhau, mái ngói nung thủ công đã ngả màu, và phía sau nữa là một khu vườn dày đặc tháp gạch.
Đây là chùa Bổ Đà, tên chữ là Tứ Ân tự, người trong vùng quen gọi gọn là chùa Bổ. Nơi này giữ hai thứ mà ít ngôi chùa nào khác có đủ: một bộ ván khắc kinh Phật bằng gỗ thị còn gần như nguyên vẹn, và một khu vườn tháp đặt xá lợi của hơn một nghìn hai trăm vị tăng đã tu ở đây qua nhiều đời. Cả hai đều nói về cùng một việc, là việc truyền thừa của một sơn môn.
ITên Gọi Và Tông Phái
Ngôi chùa này mang ba tên cùng lúc. Tứ Ân tự là tên chữ. Bổ Đà là tên gọi theo ngọn núi mà chùa dựa vào, bên bờ bắc sông Cầu. Chùa Bổ là lối gọi gọn của người trong vùng. Chữ Hán ghi ở đầu trang này là lối viết của tên chữ Tứ Ân tự, chúng tôi ghi theo tên chữ chứ không chép lại từ một bức hoành phi cụ thể nào.
Tứ Ân là bốn ân trong giáo lý nhà Phật mà người tu phải nhớ: ân cha mẹ, ân chúng sinh, ân quốc gia và ân Tam bảo. Lấy bốn ân ấy đặt tên chùa là nói rõ ngay từ tấm biển ngoài cổng rằng nơi đây coi việc tu không tách khỏi việc mang ơn. Còn Bổ Đà là lối đọc khác của Phổ Đà, tên ngọn núi trong kinh sách được coi là chỗ ứng hiện của Quán Thế Âm Bồ Tát. Đặt tên núi ấy cho một quả đồi bên sông Cầu là cách người xưa đem một địa danh trong kinh về gắn vào đất mình.
Về tông phái, hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi chùa Bổ Đà chủ yếu theo Thiền phái Lâm Tế, dòng thiền truyền vào vùng này từ cuối thế kỷ 17. Tài liệu của Phật Sự Online cũng gọi đây là nơi đào luyện tăng ni của Thiền phái Lâm Tế qua nhiều thế kỷ.
Tuy vậy, một số tài liệu giới thiệu của địa phương lại gọi chùa Bổ Đà là trung tâm Phật giáo lớn thuộc dòng thiền Trúc Lâm hoặc phái Trúc Lâm Tam Tổ. Hai cách gọi ấy vênh nhau và chúng tôi ghi cả hai. Cách hiểu dung hòa thường gặp trong giới nghiên cứu là vùng Kinh Bắc nằm trong địa bàn ảnh hưởng của Trúc Lâm từ thời Trần, nên lớp nền của chùa mang dấu Trúc Lâm, còn dòng truyền thừa đang được nối ở đây từ thế kỷ 17 tới nay là Lâm Tế.
Chỗ hay hiểu lầm nằm ở chữ chốn tổ. Người ta nghe nói Bổ Đà là chốn tổ rồi hiểu rằng đây là nơi phát tích của một dòng thiền. Không phải. Chốn tổ ở đây nghĩa là ngôi chùa đứng đầu một sơn môn, tức một hệ thống chùa con cùng chung mạch truyền thừa, cùng gửi tăng về đây thụ giới và học kinh, rồi khi viên tịch thì xá lợi được đưa về vườn tháp. Vườn tháp lớn như vậy là hệ quả của vai trò ấy, không phải dấu hiệu chùa cổ hơn các chùa khác.
IIHai Lớp Niên Đại
Nói về tuổi chùa Bổ Đà, cần tách bạch hai lớp, vì lẫn hai lớp ấy là chỗ sinh ra phần lớn hiểu nhầm.
Lớp thứ nhất là niên đại truyền thuyết. Hồ sơ di tích ghi tương truyền chùa có từ thời Lý, tức khoảng thế kỷ 11, kèm câu chuyện lưu trong vùng về một người tiều phu lên núi bổ củi, bổ mãi vào một gốc cây mà không đứt, rồi thấy hiện ra dấu ứng của Quán Thế Âm, bèn dựng am thờ ở chỗ ấy. Đó là lớp truyền thuyết, không có thư tịch đương thời chứng cho.
Lớp thứ hai là niên đại của công trình đang đứng. Toàn bộ cụm kiến trúc quý vị nhìn thấy hôm nay, gồm chùa Tứ Ân, am Tam Đức, tường đất, vườn tháp và phần lớn hệ thống tượng, thuộc thời Lê Trung Hưng ở thế kỷ 18, tiếp nối sang thời Nguyễn. Bộ mộc bản, thứ quý nhất trong chùa, cũng khắc vào khoảng năm 1740 tới 1741. Không có cấu kiện nào trên mặt đất chứng được cho niên đại thời Lý. Nói cách khác, đây là một ngôi chùa thế kỷ 18 dựng trên nền đất mà truyền thuyết đẩy về thế kỷ 11. Hai lớp ấy đều đáng ghi, nhưng không được gộp làm một.
- Thế kỷ 11Niên đại theo truyền thuyếtTương truyền một am thờ Quán Thế Âm được dựng trên núi Bổ Đà từ thời Lý. Hồ sơ di tích ghi lớp niên đại này bằng chữ tương truyền.
- Cuối thế kỷ 17Thiền phái Lâm Tế truyền tớiDòng thiền Lâm Tế truyền vào vùng này, đặt nền cho mạch truyền thừa mà sơn môn Bổ Đà nối tới nay.
- 1720Mở mang chùa Tứ ÂnTheo tài liệu nghiên cứu về mộc bản, thiền sư Tính Ánh đứng ra mở mang chùa, đặt nền cho quy mô hiện còn.
- 1740Khắc bộ mộc bản gỗ thịBộ ván khắc kinh Phật bằng gỗ thị được san khắc dưới niên hiệu Lê Cảnh Hưng, khoảng năm 1740 tới 1741, rồi bổ sung ở các đời sau.
- Thế kỷ 18Định hình bộ khung hiện cònThời Lê Trung Hưng, cụm chùa Tứ Ân cùng am Tam Đức, tường đất và vườn tháp hình thành theo quy mô còn thấy hôm nay, rồi tu bổ tiếp ở thời Nguyễn.
- 1992Di tích quốc giaCụm di tích chùa Bổ Đà được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 2016Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016.
- 2017Mộc bản thành bảo vật quốc giaBộ mộc bản kinh Phật chùa Bổ Đà được công nhận bảo vật quốc gia. Cùng năm, lễ hội Bổ Đà vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
IIITường Đất, Vườn Tháp Và Mộc Bản
Cả khu di tích trải trên khoảng 51.784 mét vuông, chia ba phần: vườn cây phía ngoài chừng 31.000 mét vuông, chùa chính chừng 13.000 mét vuông, vườn tháp chừng 7.784 mét vuông. Chùa bám theo sườn đồi, nên các lớp nhà nối nhau theo độ dốc chứ không nằm cùng một cốt nền.
Tường đất và lối nội thông ngoại bế
Điều làm chùa Bổ Đà khác hẳn các chùa Bắc Bộ cùng thời là vật liệu. Tường bao không xây gạch mà trình bằng đất nện, trộn lẫn gạch ngói vỡ, đá son và tiểu sành. Hồ sơ di tích ghi tường đất bao quanh dài gần 400 mét, cao từ 2 tới 5 mét. Gạch ngói lợp cũng nung thủ công tại chỗ, nên cả khu chùa mang một sắc nâu đất thống nhất.
Bố cục được gọi là lối nội thông ngoại bế, trong thông suốt mà ngoài khép kín. Hồ sơ di tích ghi cụm chùa Tứ Ân gồm 16 kiến trúc với 92 gian liên hoàn, nối nhau bằng hành lang và sân trong, đi từ đầu tới cuối không phải ra ngoài trời. Lối bày ấy hợp với chức năng của một chốn tổ: đây trước hết là nơi ở và học của tăng chúng.
Vườn tháp
Vườn tháp nằm ở sườn đồi phía tây khu chùa chính. Tháp xây bằng gạch và đá, xếp thành hàng lớp theo thế đất dốc, chân tháp bít kín, trên đỉnh có bình cam lộ. Mỗi ngôi tháp là chỗ đặt xá lợi của một hoặc nhiều vị tăng ni đã tu ở sơn môn Bổ Đà.
Con số ở vườn tháp và ở bộ mộc bản là chỗ các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Về số tháp, hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi 110 ngôi tháp mộ lớn nhỏ, bản tin VietnamPlus ghi 107 ngôi, một số bài ghi gọn là gần một trăm ngôi. Về diện tích, hồ sơ ghi gần 8.000 mét vuông, nguồn khác ghi 7.784 mét vuông. Về số vị tăng ni, hồ sơ ghi 1.214 vị, VietnamPlus ghi trên 1.218 vị. Về số ván mộc bản, hồ sơ ghi 1.935 ván, phần lớn báo chí ghi gần 2.000 ván, một số bài ghi hơn 2.000 tấm. Chúng tôi ghi cả thay vì chọn bừa một con số.
Bộ mộc bản khắc trên gỗ thị
Đây là hiện vật khiến người ta nhớ chùa Bổ Đà chứ không nhớ chùa khác. Bộ ván được san khắc dưới niên hiệu Lê Cảnh Hưng, khoảng năm 1740 tới 1741, rồi bổ sung ở những đời sau. Chữ khắc gồm cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Phạn, nội dung là kinh điển Đại thừa cùng các bộ nghi thức nhà chùa, trong đó có phần thuộc hệ Bát Nhã và Kim Cương, cùng nhiều văn bản về giới luật và về truyền thừa của sơn môn.
Ván dùng gỗ thị, gỗ trắng, thớ mịn, ít cong vênh và ít mối mọt, rất hợp cho việc khắc chữ nhỏ. Kích thước phổ biến dài khoảng 50 tới 60 phân, rộng 25 tới 30 phân, dày chừng 2,5 phân. Bộ ván được công nhận bảo vật quốc gia năm 2017.
Cụm kiến trúc chính, gồm các tòa tam bảo, nhà tổ, nhà tăng, nhà khách và hệ hành lang nối liền. Am Tam Đức dựng thêm thời Lê Trung Hưng cũng nằm trong khuôn viên này.
Ngôi chùa nhỏ ở vị trí cao trên núi, thờ Quán Thế Âm, gắn với truyền thuyết khởi dựng thời Lý.
Đền thờ vị thần của núi, quen gọi là Thạch tướng quân, ngày hóa là mười hai tháng Chín âm lịch.
Tường bao bằng đất nện lẫn gạch ngói vỡ, đá son và tiểu sành, dài gần 400 mét, cao từ 2 tới 5 mét.
Khu tháp mộ trên sườn đồi rộng khoảng 7.784 mét vuông, nơi đặt xá lợi của hơn một nghìn hai trăm vị tăng ni.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Chùa dựa lưng vào núi Bổ Đà và nhìn ra vùng đồng bãi bên bờ bắc sông Cầu. Trong phép xem đất, đây là thế tựa sơn hướng thủy ở dạng đủ và rõ, điều khá hiếm với chùa Bắc Bộ, vì phần lớn chùa vùng châu thổ không có núi để tựa nên phải lấy gò đất hoặc mặt nước thay chỗ dựa. Ở Bổ Đà thì có cả hai: núi làm hậu chẩm ở sau lưng, sông Cầu làm mạch nước dẫn khí phía trước.
Điều đáng đọc kỹ hơn là thế dốc. Chùa không san phẳng sườn đồi để lấy một mặt bằng duy nhất, mà để các lớp nhà đi lên theo bậc, ứng với việc tu học có thứ lớp từ thấp lên cao. Đọc theo nghĩa thực tế thì cũng đúng: nước mưa trên sườn dốc thoát nhanh, nền nhà không ẩm, và những ván gỗ thị khắc kinh mới giữ được gần ba trăm năm mà không mục.
Bức tường đất trong con mắt phong thủy đóng vai trò một vòng che bao ngoài, cao vừa đủ để cắt gió và khép kín một vùng khí riêng. Cộng với lối nội thông ngoại bế bên trong, cả khu chùa thành một cái bọc: khí vào rồi luẩn quẩn trong các sân trong và hành lang chứ không xổ thẳng ra ngoài. Đây là cách bố trí của một nơi ở lâu dài, không phải một nơi chỉ để đón khách vào lễ rồi ra.
Sau cùng là vườn tháp. Khu tháp mộ đặt ở sườn tây, tức phía mặt trời lặn, và cao hơn phần lớn khu chùa chính. Phương tây trong cách nghĩ nhà Phật ứng với cõi Tịnh Độ, còn trong phép xem đất thì đây là chỗ tĩnh, hợp với nơi an nghỉ. Đặt các đời tổ ở cao hơn và ở sau lưng người đang tu là đặt sự truyền thừa vào đúng chỗ của nó.
VHội Chùa Bổ Đà
Hội chùa Bổ Đà mở vào tháng Hai âm lịch, là kỳ hội lớn nhất trong năm của cả vùng, được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217 ngày 23 tháng 1 năm 2017.
Xin lưu ý một chỗ nguồn vênh nhau về ngày. Hồ sơ di tích trên trang của Cục Di sản văn hóa ghi hội mở từ ngày 15 tới ngày 18 tháng Hai, còn hồ sơ lễ hội trên chính trang ấy ghi hội chính từ ngày 16 tới ngày 18 tháng Hai. Chúng tôi ghi cả hai. Điều hai bên thống nhất là ngày 18 tháng Hai là ngày chính hội.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước ngày 16 tháng Hai | Sửa lễ và bao sái | Các thôn sửa soạn lễ vật, nhà chùa lau dọn tượng pháp và đồ thờ. |
| 16 và 17 tháng Hai | Vào hội | Dâng hương tại chùa Tứ Ân, tăng ni các chùa trong sơn môn về lễ tổ. Hồ sơ di tích ghi hội bắt đầu từ ngày 15. |
| 18 tháng Hai | Chính hội và lễ cúng Phật | Sáng chính hội, chư tăng làm lễ cúng Phật tại tam bảo, sau đó các thôn rước kiệu và lễ vật vào chùa, đoàn rước có đội cờ, đội trống và người mang bộ lễ tư tế. |
| Trong hội | Hội thi hát dân ca Quan họ | Vùng Vân Hà nằm trong địa bàn Quan họ cổ, nên hội thi hát Quan họ được đưa vào chương trình lễ hội. |
| 12 tháng Chín | Lễ ngày hóa Thạch tướng quân | Kỳ lễ thứ hai trong năm, gắn với vị thần của núi được thờ tại đền trong cụm di tích. |
Có một điểm đáng chú ý ở kỳ hội này. Hội chùa Bổ Đà không phải hội cầu mùa như nhiều hội làng châu thổ, mà là hội của một sơn môn: ngày chính hội là ngày tăng ni các chùa con về lễ tổ tại chốn tổ. Phần rước kiệu của các thôn là lớp sinh hoạt làng bồi thêm vào.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- thôn Thượng Lát, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Chùa nằm ở thôn Thượng Lát, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh, trên sườn núi Bổ Đà bên bờ bắc sông Cầu, thuộc địa bàn xã Tiên Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang cũ. Từ Hà Nội đi theo hướng đông bắc chừng bốn mươi cây số.
- Toạ độ
- 21.2423, 106.0524
Đây là nơi tu học đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở khu tăng phòng và nhà tổ, không chạm tay vào mộc bản. Vườn tháp là nơi đặt xá lợi các đời tổ, xin quý vị đi theo lối đã mở và không trèo lên bệ tháp. Tường đất là cấu kiện gốc gần ba trăm năm, xin đừng dựa hay leo.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Bổ Đà
Contribute photos, information or video for Bo Da PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Bổ Đà thờ ai
Chùa thờ Phật theo lối Phật giáo Bắc tông, ban chính là tam bảo tại chùa Tứ Ân. Trong cụm di tích còn có chùa Cao thờ Quán Thế Âm trên núi và đền thờ vị thần của núi quen gọi là Thạch tướng quân. Nhà tổ thờ các đời tổ của sơn môn Bổ Đà.
Chùa Bổ Đà theo thiền phái nào
Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi chùa chủ yếu theo Thiền phái Lâm Tế, truyền vào từ cuối thế kỷ 17. Một số tài liệu địa phương lại gọi đây là trung tâm Phật giáo lớn thuộc dòng Trúc Lâm. Hai cách ghi vênh nhau nên chúng tôi ghi cả hai.
Chùa Bổ Đà có từ năm nào
Cần tách hai lớp. Hồ sơ di tích ghi tương truyền chùa có từ thời Lý, tức khoảng thế kỷ 11. Nhưng toàn bộ kiến trúc đang đứng hôm nay thuộc thời Lê Trung Hưng thế kỷ 18 và được tu bổ tiếp ở thời Nguyễn. Không có cấu kiện nào chứng được cho niên đại thời Lý.
Mộc bản chùa Bổ Đà làm bằng gỗ gì và khắc năm nào
Ván khắc bằng gỗ thị, loại gỗ trắng thớ mịn ít mối mọt. Bộ ván được san khắc dưới niên hiệu Lê Cảnh Hưng, các nguồn ghi khoảng năm 1740 tới 1741, có cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Phạn. Hồ sơ Cục Di sản ghi 1.935 ván, báo chí thường ghi gần 2.000 ván.
Vườn tháp chùa Bổ Đà có bao nhiêu ngôi tháp
Các nguồn ghi vênh nhau. Hồ sơ di tích ghi 110 ngôi tháp trên diện tích gần 8.000 mét vuông, VietnamPlus ghi 107 ngôi trên 7.784 mét vuông, một số bài ghi gọn là gần một trăm ngôi. Số vị tăng ni được đặt xá lợi ở đây cũng ghi từ 1.214 tới trên 1.218 vị.