Leo hết dốc núi Nhạn, quý vị ra tới một khoảng sân lát gạch rộng, gió sông thổi thẳng mặt, và trước mặt là một khối gạch vuông vức đứng một mình, không có tháp phụ nào bên cạnh. Cửa tháp mở về hướng Đông, ba mặt còn lại là cửa giả xây bít. Trong lòng tháp tối và hẹp, chỉ có một hương án, phía trên là khoảng trần cao hút lên tận đỉnh mái.
Đây là một kalan, tức ngôi đền của Ấn Độ Giáo Chăm, dựng vào quãng cuối thế kỷ 11. Vị được thờ trong tháp, theo hồ sơ di tích, là nữ thần Pô Nagar của người Chăm. Người Việt về sau đến lễ tại chính ngôi tháp ấy và gọi bà bằng tên của mình là Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Hai lớp tên, hai lối lễ, cùng đứng trong một lòng tháp, và đó mới là điều đáng kể nhất ở đây.
IPô Nagar Và Thiên Y A Na
Vị được thờ ở đây mang hai lớp tên, và hai lớp tên ấy chính là hai lớp lịch sử của ngôi tháp. Lớp gốc là Pô Nagar, tên Chăm đầy đủ là Yang Pô Inư Nagar, dịch sát là vị thần mẹ của xứ sở. Lớp sau là Thiên Y A Na Thánh Mẫu, danh xưng người Việt đặt khi tiếp nhận việc thờ cúng tại chỗ, dân gian gọi tắt là Bà.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo Chăm, tức Bàlamôn Chăm, thần lực vũ trụ có hai mặt. Mặt tĩnh thuộc vị nam thần, thường là Shiva. Mặt động thuộc Shakti, tức năng lực, hình dung dưới dạng một vị nữ thần. Pô Nagar thuộc mặt thứ hai, nên trong hệ thần linh Chăm bà không phải một vị thần nhỏ của một vùng mà là hình tướng nữ của quyền năng sinh thành. Người Chăm kể bà sinh ra đất đai, dạy dân trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải, tức chân dung một vị thần lập quốc và dạy nghề.
Bên cạnh đó, tháp Chăm thường đặt vật thờ là bộ Linga trên bệ Yoni, biểu tượng của nguyên lý sinh thành trong Ấn Độ Giáo. Tại tháp Nhạn, dấu vết còn thấy rõ nhất của lớp ấy nằm trên đỉnh mái: chóp tháp là một khối đá tạc hình búp sen, mà giới nghiên cứu đọc là một hình thức của Linga.
Về phía người Việt, lớp thờ Thiên Y A Na là một lớp muộn hơn nhiều thế kỷ. Cư dân Việt vào định cư ở vùng hạ lưu sông Đà Rằng không dựng đền mới mà đến lễ ngay tại ngôi tháp đã có sẵn, rồi gọi vị thần bằng danh xưng quen thuộc của mình. Cùng một cách như vậy đã xảy ra ở nhiều đền tháp Chăm khác dọc dải đất miền Trung, rõ nhất là ở khu Tháp Bà Ponagar bên cửa sông Cái.
Trong truyện kể của người Việt, Thiên Y A Na là một tiên nữ giáng trần, được hai ông bà lão trồng dưa nhận làm con nuôi, về sau dạy dân làm ăn rồi hóa. Trong truyện kể của người Chăm, Pô Nagar sinh ra từ mây trời và bọt biển, tạo ra xứ sở rồi dạy nghề cho dân. Hai bản kể khác nhau về chi tiết nhưng gặp nhau ở một điểm: cả hai đều nói về một vị thần nữ làm ra đất và dạy người ta sống trên đất ấy.
Thư viện ghi lại cả hai lớp và không xếp bên nào đúng hơn bên nào. Lớp Chăm là lớp dựng nên công trình và quy định hình dáng của nó. Lớp Việt là lớp giữ cho ngôi tháp không thành phế tích, vì suốt nhiều trăm năm chính người đến lễ đã làm cho nơi này còn là nơi thờ tự chứ không chỉ là một khối gạch cổ. Hai lớp chồng lên nhau chứ không thay nhau.
Có hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không chê trách người đi lễ.
Thứ nhất, tháp Nhạn không phải tháp của nhà Phật. Nhiều người quen với tháp mộ trong chùa nên thấy khối gạch nhiều tầng mái thì nghĩ đây là nơi cất xá lợi hoặc tro cốt. Không phải. Đây là một kalan, tức ngôi đền kín của Ấn Độ Giáo Chăm, xây để đặt vật thờ và để chủ tế hành lễ, không phải để chôn cất ai.
Thứ hai, ngôi tháp không do người Việt dựng. Việc hôm nay trong tháp có hương án và có lệ lễ Mẫu khiến không ít người nghĩ đây là đền của người Việt xây nên. Toàn bộ khối công trình là của người Chăm, dựng khoảng cuối thế kỷ 11 theo đúng sơ đồ đền tháp Ấn Độ Giáo. Hương án, đồ lễ và nghi thức quen thuộc với người Việt là lớp thực hành đến sau, phủ lên một công trình vốn thuộc tôn giáo khác và dân tộc khác.
IIChín Trăm Năm Trên Đỉnh Núi Nhạn
Hồ sơ di tích ghi niên đại xây dựng khoảng cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, và xếp tháp vào giai đoạn chuyển tiếp giữa kiểu thức Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định. Đây là niên đại xác định bằng so sánh kiểu thức kiến trúc, không phải bằng một dòng bia ký ghi năm, nên quý vị nên đọc con số ấy như một khoảng chứ không như một ngày tháng.
- Cuối thế kỷ 11Dựng kalan trên đỉnh núiNgôi tháp được dựng trên đỉnh núi Nhạn, cách cửa sông Đà Rằng chừng 1,5 cây số, thờ nữ thần Pô Nagar theo hồ sơ di tích.
- Nhiều thế kỷ sauCư dân Việt tiếp nhận việc thờ tựNgười Việt định cư trong vùng đến lễ tại ngôi tháp có sẵn và gọi vị thần chủ là Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Lệ lễ theo lối thờ Mẫu hình thành từ lớp tiếp nhận này.
- 1960Đợt tu bổ thứ nhấtSau nhiều thế kỷ mưa nắng và cây cỏ bám tường, thân tháp được gia cố. Đây là mốc tu bổ được nhiều nguồn nhắc tới sớm nhất.
- 1988Di tích cấp quốc giaTháp được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Cổng thông tin du lịch tỉnh ghi ngày 16 tháng 11 năm 1988, một số nguồn khác lại ghi năm 1998.
- 1994 tới 1999Trùng tu lớn phần tường ngoàiCác đợt tu bổ nối nhau trong quãng này. Hồ sơ di tích cho biết phần tường ngoài khi tu bổ được xây thụt vào 5 phân so với mặt tường cũ, để người sau còn phân biệt được đâu là gạch gốc.
- 2011Dựng bia giới thiệu di tíchMột tấm bia hình lá nhĩ cao 2,9 mét, rộng 1,9 mét, làm bằng đá granit đỏ, được dựng trong khuôn viên di tích.
- 2018Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng theo Quyết định số 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ, với tên gọi di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Nhạn. Lễ đón bằng tổ chức tháng 8 năm 2019.
Hai chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nói rõ để quý vị khỏi phải chọn bừa.
Chiều cao. Hồ sơ di tích ghi đế tháp 12,2 mét mỗi cạnh, thân tháp 9 mét mỗi cạnh, và chiều cao phần đế cộng thân là 12,4 mét, tức chưa tính phần mái. Các nguồn khác đo cả khối và ghi tổng chiều cao là 23,5 mét hoặc khoảng 24 mét, đồng thời ghi thân tháp mỗi cạnh chừng 10 mét. Hai bộ số không mâu thuẫn về công trình, chúng khác nhau ở chỗ có cộng phần mái vào hay không, và ở độ tròn của phép đo cạnh.
Năm xếp hạng cấp quốc gia. Cổng thông tin du lịch tỉnh ghi ngày 16 tháng 11 năm 1988, trong khi một số bài nghiên cứu và bản tin ghi năm 1998. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn một con số khi chưa thấy văn bản gốc.
IIIMột Khối Vuông Ba Phần
Tháp Nhạn là một khối vuông dựng theo đúng ba phần của kiến trúc kalan: đế, thân và mái. Đế tháp có các gờ giật chạy quanh, thân tháp hình trụ vuông, mỗi mặt có năm trụ ốp chia mặt tường thành những dải dọc, mái gồm ba tầng thu nhỏ dần rồi kết lại bằng một khối đá trên chóp.
Chỉ một cửa duy nhất mở về hướng Đông, phía sông Đà Rằng. Trên cửa là vòm cuốn xây nhô ra, tạo thành một tiền sảnh hẹp trước khi vào lòng tháp.
Ba mặt còn lại xây cửa giả, tức có đủ khuôn cửa và vòm trang trí nhưng xây bít, không thông vào trong. Đây là đặc điểm chung của kalan Chăm.
Mỗi mặt thân tháp có năm trụ ốp nổi, chia tường thành các dải dọc và làm mảnh bớt khối tường. Tường tháp dày, có nguồn ghi tới khoảng 3 mét ở phần thân.
Ba tầng mái thu nhỏ dần, mỗi tầng lặp lại kiểu thức của thân tháp ở tỷ lệ nhỏ hơn, tạo thành hình dáng một ngọn núi vươn lên.
Trên đỉnh mái đặt một khối đá tạc hình búp sen, thường được đọc là một hình thức của Linga, tức phần kết bằng đá của toàn bộ khối gạch.
Khoảng sân bao quanh chân tháp, hồ sơ di tích ghi mỗi cạnh chừng 38 mét, đủ rộng cho nghi thức đi vòng quanh đền và cho việc bày lễ.
Gạch Xếp Khít Không Thấy Mạch Vữa
Toàn bộ thân tháp xây bằng gạch nung xếp khít tới mức mắt thường khó tìm ra mạch vữa. Chất kết dính của người Chăm tới nay vẫn chưa có lời đáp dứt điểm, và tháp Nhạn nằm trong số những công trình được đem ra bàn nhiều nhất khi nói tới chuyện ấy. Các giả thiết thường được nhắc gồm mài chập hai mặt gạch rồi gắn bằng một lớp keo nhựa cây rất mỏng, xây bằng gạch chưa nung hẳn rồi nung lại cả khối, hoặc dùng vữa làm từ chính bột gạch.
Ngay kích thước viên gạch cũng là chỗ các nguồn ghi vênh nhau. Có tài liệu ghi gạch dài 33 phân, rộng 10,5 phân, dày 8,1 phân. Có tài liệu lại ghi gạch dài trung bình 40 phân và rộng 20 phân. Khác biệt này nhiều khả năng do đo ở những mảng tường thuộc các lần tu bổ khác nhau, nhưng chúng tôi ghi cả hai thay vì chọn lấy một.
Một điểm nữa đáng chú ý là cách tháp dựa vào thế núi. Tháp đặt ở phần cao của núi Nhạn, ngọn núi cao hơn sáu mươi mét so với mặt nước biển, và khối tháp lấy chính nền đá của núi làm móng. Đó là một lợi thế kết cấu mà các tháp dựng trên đồng bằng không có.
IVThế Đất Và Hướng
Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Phong thủy là một hệ thuật số của vùng Đông Á, người Chăm khi chọn núi dựng tháp không dùng nó. Việc cửa thật của tháp mở về hướng Đông là theo quy tắc riêng của kiến trúc đền tháp Ấn Độ Giáo, trong đó hướng Đông là hướng mặt trời mọc, hướng mà ánh sáng đầu ngày phải rọi qua cửa tới được vật thờ. Phần dưới đây là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều chép trong bia ký và cũng không phải điều người dựng tháp tính tới.
Đọc theo lối cũ của người Việt thì trước hết là thế núi bên sông. Tháp đứng trên đỉnh núi Nhạn, ngay bờ bắc sông Đà Rằng, cách cửa sông chừng một cây số rưỡi. Trong phép xem đất, đây gần với hình hậu chẩm có sơn, minh đường có thủy: chính ngọn núi làm chỗ tựa, dòng sông lớn trải trước mặt làm sân trước, xa hơn nữa là biển. Sách xưa coi chỗ sông sắp đổ ra biển là nơi khí động mạnh, thường dành cho đền miếu chứ ít dùng làm nhà ở.
Thứ hai là hướng Đông. Trong phép cũ của người Việt, hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với khí sinh phát của buổi sáng, nên đền miếu quay về hướng ấy được coi là đón được khí lên. Kiến trúc đền tháp Ấn Độ chọn hướng Đông vì một lý khác hẳn: ánh sáng đầu ngày phải chạm tới vật thờ trong lòng tháp. Hai hệ đi tới cùng một hướng bằng hai đường lý giải riêng, và chỗ đáng học nằm đúng ở sự khác nhau ấy chứ không nằm ở sự trùng nhau.
Thứ ba là việc phải leo. Người Việt đọc thế đất theo mặt bằng, lấy trục trước sau và minh đường làm chuẩn. Ở đây công trình tổ chức theo chiều đứng, người hành lễ phải leo hết dốc núi rồi mới tới sân tháp. Con mắt cổ truyền sẽ thấy giống lối tầng tầng thăng tiến của chùa dựng trên núi, nhưng lý do bên trong khác hẳn: một bên là bậc thang của việc tu tập, một bên là việc đặt ngôi đền lên chỗ cao nhất của vùng để nó tự làm lấy ngọn núi thiêng.
Cuối cùng là chỗ hai lối đọc gặp nhau mà vẫn không phải một. Người Việt đến lễ ở đây nhiều đời, và trong cách nói của người trong vùng, núi Nhạn với sông Đà Rằng làm thành một cặp núi và nước rất đúng khuôn mẫu cổ truyền. Cách nói ấy có thật và đáng ghi lại, nhưng nó là cách người Việt đọc một công trình đã có sẵn, không phải lý do người Chăm chọn ngọn núi này. Chúng tôi ghi các nhận xét ấy đúng như một cách đọc, và dừng ở đó.
VLễ Vía Bà Tháng Ba Âm Lịch
Khác với nhiều đền tháp Chăm đã thành phế tích, tháp Nhạn vẫn là nơi có lễ thật hằng năm. Kỳ lễ lớn nhất là lễ vía Bà, tổ chức vào tháng Ba âm lịch. Các nguồn ghi ngày hơi khác nhau: bản tin của báo địa phương về kỳ lễ năm 2025 ghi từ ngày 20 tới ngày 22 tháng Ba âm lịch, một số tài liệu khác ghi từ ngày 21 tới ngày 23. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn bừa một mốc.
| Chặng lễ | Nơi diễn ra | Nội dung |
|---|---|---|
| Lễ mộc dục | Trong lòng tháp | Lau rửa và sửa sang nơi thờ, thay khăn áo và đồ thờ, mở đầu cho cả kỳ lễ. |
| Lễ tế cổ truyền | Sân trước cửa tháp | Đội tế hành lễ theo nghi thức cổ truyền của người Việt, đọc văn tế dâng lên Thánh Mẫu. |
| Dâng lễ vật của các đoàn | Sân tháp và lòng tháp | Các đoàn hành hương trong và ngoài tỉnh lần lượt dâng hoa quả, bánh trái, gạo và dầu. Người Chăm từ vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ cũng về dự. |
| Hầu đồng và hát chầu văn | Khu vực sân lễ | Phần diễn xướng thuộc lối thờ Mẫu của người Việt, kể lại sự tích vị được thờ bằng hát và múa. |
| Phát lộc | Sân tháp | Lễ vật sau khi dâng được chia lại cho người dự lễ, theo lệ gọi là phát lộc. |
| Hội thơ rằm tháng Giêng | Sân núi Nhạn | Không thuộc lễ vía Bà. Đây là sinh hoạt thơ ca của người trong vùng, giữ lệ họp vào đêm rằm tháng Giêng ngay trên sân tháp. |
Cần nói rõ một điều về bảng trên: phần lớn các chặng ấy thuộc lớp thực hành của người Việt theo lối thờ Mẫu, không phải nghi thức Ấn Độ Giáo Chăm nguyên bản, vốn xoay quanh việc tắm vật thờ, dâng hoa và dâng lửa do lớp tăng lữ Chăm chủ trì. Riêng lễ mộc dục là chỗ hai bên gần nhau nhất, vì tắm rửa nơi thờ và thay khăn áo vốn có gốc trong nghi thức đền tháp, lại vừa khớp với lệ thay khăn áo cho Thánh Mẫu của người Việt. Ghi rõ ranh giới ấy không phải để tách hai cộng đồng, mà để quý vị biết mình đang đứng trước lớp nào khi nhìn một nghi thức.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- núi Nhạn, phường Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk
- Đường tới
- Tháp đứng trên núi Nhạn, phường Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk, ngay bờ bắc sông Đà Rằng và cách cửa sông chừng một cây số rưỡi. Đường lên núi đi được từ trung tâm phường.
- Toạ độ
- 13.0823, 109.3017
Đây vừa là di tích vừa là nơi thờ tự đang hoạt động, nên có hai lớp lệ cùng lúc. Lệ của nơi thờ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ trước khi vào lòng tháp, không đứng chắn cửa tháp khi có người đang lễ, vì cửa chỉ có một. Lệ giữ hiện vật: không chạm và không tựa vào mặt gạch, không cắm hương vào khe tường, không trèo lên phần đế tháp. Trong kỳ lễ tháng Ba âm lịch các đoàn hành lễ theo lượt, xin nhường lối cho đoàn đang vào tháp.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Nhạn
Contribute photos, information or video for Nhan TowerThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Nhạn thờ ai
Theo hồ sơ di tích, tháp gốc thờ nữ thần Pô Nagar của người Chăm, tên Chăm đầy đủ là Yang Pô Inư Nagar nghĩa là thần mẹ của xứ sở. Người Việt về sau tiếp nhận việc thờ cúng tại chỗ và gọi bà là Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Hai lớp thờ chồng lên nhau chứ không thay nhau.
Tháp Nhạn là chùa hay là đền
Không phải chùa. Đây là một kalan, tức ngôi đền kín của Ấn Độ Giáo Chăm, dựng khoảng cuối thế kỷ 11 để đặt vật thờ và hành lễ. Khối nhiều tầng mái dễ làm người ta nghĩ tới tháp mộ trong chùa, nhưng tháp Chăm không dùng để cất giữ tro cốt.
Tháp Nhạn cao bao nhiêu mét
Hồ sơ di tích ghi đế tháp 12,2 mét mỗi cạnh, thân tháp 9 mét mỗi cạnh, chiều cao phần đế cộng thân là 12,4 mét, chưa tính mái. Các nguồn đo cả khối thì ghi tổng chiều cao 23,5 mét hoặc khoảng 24 mét. Hai bộ số khác nhau ở chỗ có cộng phần mái vào hay không.
Lễ vía Bà ở tháp Nhạn vào ngày nào
Vào tháng Ba âm lịch hằng năm. Bản tin về kỳ lễ năm 2025 ghi từ ngày 20 tới ngày 22 tháng Ba âm lịch, một số tài liệu khác ghi từ ngày 21 tới ngày 23. Kỳ lễ gồm lễ mộc dục, lễ tế cổ truyền, các đoàn dâng lễ vật, hầu đồng và hát chầu văn, rồi phát lộc.
Trên đỉnh tháp Nhạn có gì
Chóp tháp là một khối đá tạc hình búp sen, thường được đọc là một hình thức của Linga, biểu tượng của nguyên lý sinh thành trong Ấn Độ Giáo. Đó là phần kết bằng đá của toàn bộ khối gạch phía dưới.