VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Quốc Mẫu Tây Thiên

Khu di tích và danh thắng Tây Thiên, đền Thượng Tây Thiên

Ngôi đền trên sườn núi Thạch Bàn thờ một vị Mẫu mà thần tích đặt vào thời Hùng Vương, sớm hơn hẳn hệ Tứ phủ mà phần lớn người đi lễ quen thuộc.

Vị được thờ
Lăng Thị Tiêu
Quốc Mẫu Tây Thiên, chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương (thứ bảy hoặc thứ sáu)
Bia đá ở đền Thõng
1450 và 1724
bia 121 chữ Hán năm 1450 và bia bốn mặt năm Bảo Thái thứ năm (1724)
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
cấp quốc gia năm 1991, quốc gia đặc biệt ngày 23 tháng 12 năm 2015

Từ chân núi Thạch Bàn, quý vị bắt đầu bằng đền Thõng, ngôi đền thấp nằm dưới bóng một cây đa nhiều thân mà người trong vùng gọi là cây đa chín cội. Rồi đường lên dốc dần, qua đền Cậu, qua đền Cô, men theo dòng suối, cho tới khi gặp một nếp đền hai tầng mái cong, tám góc đao vểnh lên giữa rừng. Đó là đền Thượng, nơi đặt ban thờ chính của Quốc Mẫu Tây Thiên.

Bên trong chính điện là pho tượng một người đàn bà ngồi trên bệ ở giữa. Bà tên là Lăng Thị Tiêu. Thần tích chép bà là người vùng này, sau thành chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy. Đây là điểm cần nhớ ngay từ đầu, vì đó cũng là điểm khiến Tây Thiên khác hẳn các phủ Mẫu mà phần lớn người đi lễ quen thuộc.

Đền Quốc Mẫu Tây Thiên
Đền Quốc Mẫu Tây Thiên. Ảnh: Nguyen Tam, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IQuốc Mẫu Lăng Thị Tiêu

Đền Thượng Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, tôn hiệu đầy đủ theo các tài liệu giới thiệu di tích là Tam Đảo sơn trụ Quốc Mẫu tối linh Đại vương, Đệ nhất thượng đẳng phúc thần. Đọc kỹ tôn hiệu ấy thì thấy ngay hai lớp nghĩa, trong đó Tam Đảo sơn trụ là trụ cột của núi Tam Đảo, tức thần của một dãy núi cụ thể, còn Quốc Mẫu là mẹ của nước, tức vị thế ở tầm quốc gia.

Hai chữ Hán đặt cạnh tên bài là cách ghi địa danh Tây Thiên theo âm Hán Việt do thư viện suy ra, không phải chép từ hoành phi hay bia trong đền.

Theo sử liệu

Thần tích chép như sau. Bà quê ở thôn Đông Lộ, vùng đất nay thuộc xã Đại Đình, sinh ra dưới chân dãy Tam Đảo. Khi vua Hùng Chiêu Vương thứ bảy (một số tư liệu Phật giáo ghi là Vua Hùng thứ sáu) lên núi Tam Đảo cầu tiên, nhà vua gặp bà và kết duyên, lập bà làm chính Vương phi. Các tài liệu di tích ghi công của bà ở ba việc là chiêu mộ quân sĩ giúp vua đánh giặc mở mang bờ cõi, dạy dân trồng lúa và chăn tằm dệt vải, trước khi bà hóa tại quê nhà Đông Lộ. Toàn bộ đoạn trên thuộc lớp thần tích, chép trong ngọc phả và thần phả của ba mươi sáu điểm di tích thờ bà quanh vùng Tam Đảo, không phải sử biên niên.

Điều khảo được bằng hiện vật văn tự thì cụ thể hơn. Theo hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa, ở đền Thõng dưới chân núi còn tấm bia mang 121 chữ Hán khắc theo hàng dọc trên 11 dòng ghi lại việc tế thần năm 1450. Báo Nhân Dân dẫn hồ sơ di tích còn ghi nhận tại Tây Thiên hai tấm bia thời Lê Sơ (1428 tới 1527) là bia La Thành Bất Loan và bia Bát vị Kim Cương, bia trụ bốn mặt khắc năm 1724 ở đền Thõng, văn khắc trên vách đá Bát Nhã tuyền năm 1733 gồm 170 chữ do Lê Khắc Phục soạn, cùng bảy đạo sắc phong thời Lê và Nguyễn.

Theo giáo nghĩa

Muốn hiểu Tây Thiên thì phải phân biệt được hai lớp thờ Mẫu của người Việt, vì hai lớp ấy khác nhau về gốc, về thời và về cách hành lễ.

Lớp thứ nhất là thờ Mẫu cổ. Đây là lối thờ các vị nữ thần gắn với một ngọn núi, một dòng sông, một vùng đất, hoặc gắn với các bà mẹ trong lớp truyền thuyết dựng nước. Các vị ấy đứng riêng, mỗi vị một vùng, không nằm trong một hệ thống có thứ bậc chung. Quốc Mẫu Tây Thiên thuộc lớp này.

Lớp thứ hai là hệ Tứ phủ. Đây là một hệ thống có cấu trúc chặt, chia bốn phủ Thiên, Địa, Thoải, Nhạc, có các hàng Mẫu, hàng Quan, hàng Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô và hàng Cậu, có nghi thức riêng là hầu đồng và hát chầu văn. Vị đứng đầu hệ này là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, và các nghiên cứu đều đặt sự hình thành của hệ Tứ phủ vào khoảng thế kỷ 16 trở về sau. Hai lớp ấy về sau có chỗ giao nhau, vì nhiều nơi thờ Mẫu cổ dần được bổ sung thêm ban Tứ phủ, nhưng gốc thì khác.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu, không chê trách người đi lễ. Rất nhiều người nghe chữ Mẫu là nghĩ ngay tới Mẫu Liễu Hạnh, rồi cho rằng đền Thượng Tây Thiên cũng thờ vị ấy, hoặc cho rằng Quốc Mẫu Tây Thiên là một hóa thân của vị ấy. Cả hai cách hiểu đều không đúng.

Thứ nhất, đây là hai vị khác nhau. Đền Thượng Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, quê ở thôn Đông Lộ ngay dưới chân núi. Mẫu Liễu Hạnh là một vị khác hẳn, có thần tích riêng và nơi thờ gốc ở vùng Phủ Dầy.

Thứ hai, hai lớp thờ cách nhau rất xa về thời gian. Thần tích đặt Quốc Mẫu Tây Thiên vào thời Hùng Vương, còn hệ Tứ phủ của Mẫu Liễu Hạnh hình thành từ khoảng thế kỷ 16. Lớp thờ ở Tây Thiên thuộc loại cổ hơn, và không sinh ra từ hệ Tứ phủ.

Thứ ba, hai lớp có nghi thức khác nhau. Hệ Tứ phủ lấy hầu đồng và chầu văn làm nghi thức đặc trưng, còn lớp thờ Mẫu cổ ở Tây Thiên lấy tế lễ và rước kiệu của các làng quanh chân núi làm chính. Chính vì giá trị riêng ấy mà tín ngưỡng thờ Mẫu Tây Thiên được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 176/QĐ-BVHTTDL ngày 14 tháng 1 năm 2020 với tư cách một thực hành riêng.

IITừ Thần Tích Đến Khu Di Tích

Lịch sử ở đây chia hai lớp tách bạch. Lớp thần tích đặt vào thời Hùng Vương và không có niên đại xác định được. Lớp công trình thì có mốc, nhưng mốc sớm nhất là mốc của văn bia chứ không phải mốc của nhà cửa, vì các nếp đền trên núi đã qua rất nhiều lần dựng lại.

  • Lớp thần tíchQuốc Mẫu Lăng Thị Tiêu
    Thần tích chép bà quê thôn Đông Lộ dưới chân Tam Đảo, thành chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy (có nguồn ghi Vua Hùng thứ sáu), có công giúp vua đánh giặc và dạy dân trồng lúa. Đây là lớp truyền thuyết trong ngọc phả.
  • 1450Bia đá chép việc tế thần và bia thời Lê Sơ
    Theo hồ sơ di tích, tấm bia ở đền Thõng mang 121 chữ Hán khắc trên 11 dòng ghi việc tế thần năm 1450. Tại khu di tích còn hai bia thời Lê Sơ (1428 tới 1527) là La Thành Bất Loan và Bát vị Kim Cương.
  • 1704, 1724 và 1733Bia đá bốn mặt, bia chùa Tây Thiên và văn khắc vách đá
    Năm 1704 dựng bia Tam Đảo Sơn, Tây Thiên Thiền Tự. Năm Bảo Thái thứ năm (1724) dựng bia đá bốn mặt tại đền Thõng. Năm 1733 Lê Khắc Phục khắc bài minh Bát Nhã tuyền 170 chữ trên vách đá bên suối.
  • 1842 và 1933Chuông Phù Nghì Tự, tam quan cổ và bia 1933
    Năm Thiệu Trị thứ hai (1842) đúc chuông Phù Nghì Tự chung treo tại đền Thõng. Thế kỷ 19 còn giữ lại tam quan cổ chùa Tây Thiên, và năm 1933 dựng bia Tam Đảo Sơn, Tây Thiên Tự bi ký.
  • 1991 và 1998Di tích quốc gia và dựng lại đền Thõng
    Năm 1991, khu di tích Tây Thiên được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Năm 1998, đền Thõng được dựng lại theo mặt bằng chữ Đinh, đại bái ba gian và hậu cung một gian.
  • 2015Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Tây Thiên Tam Đảo được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2367/QĐ-TTg ký ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  • 2020Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Tín ngưỡng thờ Mẫu Tây Thiên được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 176/QĐ-BVHTTDL ngày 14 tháng 1 năm 2020.
Theo sử liệu

Ba chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng.

Thứ nhất là đời vua Hùng trong thần tích. Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa và phần lớn tài liệu địa phương ghi Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu là chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy, trong khi một số bài viết Phật giáo ghi là Vua Hùng thứ sáu.

Thứ hai là niên đại khởi dựng đền. Không tài liệu nào mà thư viện tra được nêu một năm dựng cụ thể cho đền Thượng. Thần tích đặt việc thờ vào thời Hùng Vương, hồ sơ di tích nêu các mốc văn bia sớm nhất từ thế kỷ 15 (bia năm 1450 và hai bia thời Lê Sơ), còn các tài liệu phổ thông thì đưa ra nhiều con số khác nhau. Ba loại mốc ấy thuộc ba lớp tư liệu khác nhau, nên thư viện không chọn một con số làm năm khởi dựng.

Thứ ba là các tấm bia ở đền Thõng. Trang thông tin của Cục Di sản văn hóa nhắc tới tấm bia 121 chữ Hán ghi việc tế thần năm 1450, trong khi bài khảo cứu của báo Nhân Dân và tài liệu địa phương mô tả tấm bia trụ bốn mặt dựng năm Bảo Thái thứ năm, tức năm 1724. Đây là hai hiện vật văn bia thuộc hai thời điểm khác nhau trong hệ thống bia ký phong phú của Tây Thiên.

IIITrục Đền Từ Chân Núi Lên Đỉnh Thạch Bàn

Tây Thiên không phải một ngôi đền đơn lẻ mà là một trục hành hương. Các nếp đền xếp nối nhau theo đường lên núi, từ thấp tới cao, và người đi lễ đi hết trục ấy chứ không tới thẳng một điểm. Đây là lối bố trí quen của các nơi thờ vùng núi, khác hẳn lối dàn theo mặt bằng ngang của đền miếu đồng bằng.

Đền Thõng

Nếp đầu tiên dưới chân núi Thạch Bàn, còn gọi là đền Trình vì người lên núi trình báo ở đây trước. Mặt bằng chữ Đinh dựng lại năm 1998, đại bái ba gian và hậu cung một gian, giữ bia đá và chuông Phù Nghì Tự năm 1842. Trước cửa có cây đa chín cội.

Đền Cậu

Nếp thờ ở một chặng giữa đường lên bên suối. Trong hệ thờ Mẫu Tây Thiên, nơi đây gắn với lớp thần linh trẻ tuổi hầu cận Quốc Mẫu.

Đền Cô

Nếp thờ tiếp theo trên trục lên núi bên thác Bạc. Đền Cậu và đền Cô làm thành hai chặng nghỉ tự nhiên cho người hành hương.

Đền Thượng

Nếp trong cùng và cao nhất dưới chân đỉnh Thạch Bàn, đặt ban thờ chính của Quốc Mẫu. Mặt bằng chữ Đinh, ba gian hai chái lớn, hai tầng chồng diêm, tám góc mái cong. Chính điện đặt pho tượng Bà ngồi trên bệ ở giữa.

Đền Mẫu Sinh, đền Mẫu Hóa và đền Ngò

Các nếp đền gắn với nơi sinh, nơi hóa và nơi đóng đồn của Quốc Mẫu ở vùng chân núi Đại Đình, cùng tham gia rước kiệu trong ngày hội chính.

Chùa Tây Thiên cổ tự

Ngôi chùa cổ phía sau đền Thượng, tam quan còn giữ được từ thế kỷ 19, thuộc Phật Giáo, đứng cạnh chứ không thuộc hệ thống đền thờ Quốc Mẫu.

Về đền Thượng, chi tiết đáng đọc nhất là bộ mái. Kết cấu hai tầng chồng diêm, tám góc mái cong không phải lối thường dùng cho đền miếu làng, mà là lối dành cho các công trình muốn tạo dáng vươn lên. Đặt một bộ mái như thế trên sườn núi cao là để nếp đền không bị khối núi phía sau nuốt mất, và để người đi từ dưới lên nhận ra đích của mình từ xa.

Trong vùng Tây Thiên còn có thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (khởi công ngày 4 tháng 4 năm 2004, khánh thành ngày 25 tháng 11 năm 2005 trên nền chùa cổ Thiên Ân), Đại bảo tháp Mandala Tây Thiên (khởi công tháng 4 năm 2011) và chùa Tây Thiên cổ tự. Các công trình ấy thuộc Phật Giáo và có sinh hoạt tu học riêng. Bài này viết về hệ thống đền thờ Quốc Mẫu, nên chỉ nhắc để quý vị biết chúng nằm cùng một vùng núi chứ không cùng một lớp thờ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, thần tích hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là ở đây có núi thật. Phần lớn đền phủ Bắc Bộ nằm giữa châu thổ, nơi không có núi để tựa, nên phải mượn đê, mượn gò, mượn ao hồ mà đọc. Tây Thiên thì khác, vì đền Thượng dựa hẳn vào khối núi Thạch Bàn trong dãy Tam Đảo. Sách địa lý cổ gọi chỗ dựa phía sau là hậu chẩm, và ở đây hậu chẩm là một dãy núi thật, không phải vật thay thế.

Thứ hai là thế long mạch. Tam Đảo là một dãy chạy dài, ba ngọn nhô cao mà tên gọi ba đảo bắt nguồn từ đó. Trong phép xem đất, một dãy núi chạy như vậy được đọc là mạch, và chỗ đáng đặt công trình là chỗ mạch dừng lại, gọi là huyệt kết. Đền Thượng nằm trên một khoảnh bằng giữa sườn dốc, tức đúng kiểu chỗ mà phép cũ tìm, không đặt trên đỉnh nhọn vì khí tán, không đặt dưới chân vì khí chưa tụ. Dọc đường lên lại có suối Giải Oan và thác Bạc chảy xuống, mà ở vùng núi dòng suối chính là đường mạch núi đổ xuống đồng bằng, nên các nếp đền men theo suối là đặt đúng trên tuyến khí đi.

Thứ ba là trục hành hương, và đây là chỗ đáng đọc nhất. Đền Thõng dưới chân, đền Cậu, đền Cô ở giữa, đền Thượng trên cao, bốn nếp xếp theo chiều dốc làm thành một trục dựng đứng chứ không phải một trục nằm ngang. Đền miếu đồng bằng dẫn khí theo chiều sâu, đi từ cổng vào hậu cung, còn ở Tây Thiên khí được dẫn theo chiều cao. Theo lối cũ, đi lên là thăng, mà thăng thì hợp với việc chầu một vị ở ngôi cao. Cấu trúc ấy làm cho chính bước chân của người đi lễ trở thành một phần của nghi thức.

Sau cùng là lớp nghĩa của một vị thần núi. Tôn hiệu của Quốc Mẫu mở đầu bằng bốn chữ Tam Đảo sơn trụ, tức trụ cột của núi Tam Đảo. Đọc theo lối cổ, đó là cách nói rằng vị thần và ngọn núi là một, núi là thân và thần là chủ. Đặt đền thờ vị ấy trên chính sườn núi mang tên bà là đặt thần đúng vào chỗ của mình, điều mà phép cũ gọi là đắc vị.

VHội Rằm Tháng Hai

Kỳ hội lớn nhất trong năm mở vào rằm tháng Hai âm lịch, và ngày ấy được các tài liệu ghi là ngày giỗ Quốc Mẫu. Hội thường kéo dài từ ngày 15 tới ngày 17 tháng Hai âm lịch (có năm mở lễ cáo yết từ ngày 14), phần trọng nhất là đám rước kiệu từ các đền dưới chân núi hội về đền Thõng rồi lên đền Thượng.

Trình tự kỳ hội rằm tháng Hai. Các nguồn thống nhất ngày 15 tháng Hai là ngày chính, hội chính diễn ra từ ngày 15 tới ngày 17 tháng Hai âm lịch. Nguồn: Bản tin khai hội Tây Thiên trên báo Nhân Dân, báo Phú Thọ và tài liệu giới thiệu di tích..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 14 tháng HaiCáo yết và chuẩn bịTrình việc mở hội trước ban thờ Quốc Mẫu, các làng quanh chân núi chuẩn bị kiệu và lễ vật.
Ngày 15 tháng HaiKhai hội và giỗ Quốc MẫuNgày trọng nhất của kỳ hội, cũng là ngày chính tiệc của Quốc Mẫu theo các tài liệu về di tích.
Ngày 15 tháng HaiRước kiệu hội tụ và lên núiBa cỗ kiệu chính gồm kiệu Văn đền Mẫu Sinh, kiệu Văn đền Mẫu Hóa và kiệu Bát Cống đình Ngò hội tụ rồi tiến theo trục hành hương lên đền Thượng.
Ngày 15 tới 17 tháng HaiTế và dâng hươngPhần tế của các đội tế trong vùng, sau đó khách thập phương dâng hương tại đền Thượng và các đền trong quần thể.
Ngày 15 tới 17 tháng HaiPhần hội và hát Soọng côCác trò dân gian, hội trại văn hóa và làn điệu hát Soọng cô của đồng bào Sán Dìu dưới chân núi Tam Đảo.
Ngày 17 tháng HaiTế tạ và đóng hộiPhần tế cuối kỳ hội, các cỗ kiệu được rước hoàn cung về các đền và đình xuất phát.

Đám rước ở đây đáng nói thêm một câu. Ở phần lớn các hội làng Bắc Bộ, kiệu được rước vòng quanh làng trên đường bằng. Ở Tây Thiên, các cỗ kiệu từ đền Mẫu Sinh, đền Mẫu Hóa và đình Ngò hội về rồi nối theo trục lên dốc núi. Một đám rước hướng lên đỉnh núi tự nó đã nói ra cấu trúc của nơi thờ, khi ngôi cao không tới được bằng cách đi ngang mà phải đi lên mới tới. Ngoài ra, làn điệu hát Soọng cô của cộng đồng người Sán Dìu quanh chân núi Tam Đảo góp thêm sắc thái văn hóa bản địa rõ nét cho kỳ hội.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ
Đường tới
Khu di tích nằm ở xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ (trước đợt sáp nhập tỉnh năm 2025 thuộc huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc), dưới chân và trên sườn dãy Tam Đảo. Đền Thõng ở chân núi Thạch Bàn là điểm vào của cả trục, từ đó lên đền Thượng theo đường bậc đá men suối hoặc tuyến cáp treo.
Toạ độ
21.4814, 105.6131
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải khu tham quan thuần túy, nên lệ nhà cần được giữ, gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các nếp đền, đi nhẹ nói khẽ ở chính điện, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Lệ được người trong vùng giữ chặt nhất là trình tự, vào đền Thõng trình trước rồi mới lên núi, đi hết trục đền chứ không bỏ chặng. Từ đền Thõng lên đền Thượng hiện có cả đường bộ leo núi có bậc đá và tuyến cáp treo dài 2.480 mét cho người cao tuổi, nhưng dù đi cách nào cũng xin đi giày thấp và giữ trật tự nơi cửa đền.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Quốc Mẫu Tây Thiên

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Tây Thiên thờ ai

Đền Thượng Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, tôn hiệu theo các tài liệu di tích là Tam Đảo sơn trụ Quốc Mẫu tối linh Đại vương, Đệ nhất thượng đẳng phúc thần. Thần tích chép bà quê thôn Đông Lộ dưới chân Tam Đảo, sau thành chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy (một số nguồn ghi Vua Hùng thứ sáu).

Quốc Mẫu Tây Thiên có phải Mẫu Liễu Hạnh không

Không. Đây là hai vị khác nhau và hai lớp thờ khác nhau. Quốc Mẫu Tây Thiên là Lăng Thị Tiêu, thuộc lớp thờ Mẫu cổ gắn với ngọn núi Tam Đảo và với thời Hùng Vương theo thần tích. Mẫu Liễu Hạnh đứng đầu hệ Tứ phủ, một hệ thống hình thành từ khoảng thế kỷ 16.

Khu di tích Tây Thiên gồm những nơi nào

Trục đền thờ Quốc Mẫu gồm đền Thõng dưới chân núi, đền Cậu và đền Cô trên đường lên, và đền Thượng ở trên cao, cùng các đền Mẫu Sinh, đền Mẫu Hóa và đình Ngò ở vùng chân núi. Trong vùng còn có chùa Tây Thiên cổ tự, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên và Đại bảo tháp Mandala thuộc Phật Giáo, đứng cạnh chứ không thuộc hệ thống đền thờ Quốc Mẫu.

Đền Tây Thiên có từ bao giờ

Không tài liệu nào thư viện tra được nêu một năm dựng cụ thể cho nếp đền đầu tiên. Thần tích đặt việc thờ vào thời Hùng Vương, còn các mốc văn tự sớm nhất mà hồ sơ di tích nêu là tấm bia 121 chữ Hán ghi việc tế thần năm 1450 ở đền Thõng và hai bia thời Lê Sơ (1428 tới 1527). Khu di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm 1991 và cấp quốc gia đặc biệt năm 2015.

Lễ hội Tây Thiên vào ngày nào

Kỳ hội lớn nhất mở vào rằm tháng Hai âm lịch, từ ngày 15 tới ngày 17 tháng Hai, gắn với ngày giỗ Quốc Mẫu. Phần trọng nhất là lễ rước ba cỗ kiệu từ đền Mẫu Sinh, đền Mẫu Hóa và đình Ngò hội tụ rồi tiến theo trục hành hương lên đền Thượng, kèm theo các sinh hoạt văn hóa như hát Soọng cô của đồng bào Sán Dìu.

›Đọc Tiếp