VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Quốc Mẫu Tây Thiên

Khu di tích và danh thắng Tây Thiên, đền Thượng Tây Thiên

Ngôi đền trên sườn núi Thạch Bàn thờ một vị Mẫu mà thần tích đặt vào thời Hùng Vương, sớm hơn hẳn hệ Tứ phủ mà phần lớn người đi lễ quen thuộc.

Vị được thờ
Lăng Thị Tiêu
Quốc Mẫu Tây Thiên, chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy
Bia đá ở đền Thõng
1450
121 chữ Hán trên 11 dòng, chép việc tế thần, theo hồ sơ di tích
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2367 ngày 23 tháng 12 năm 2015

Từ chân núi Thạch Bàn, quý vị bắt đầu bằng đền Thõng, ngôi đền thấp nằm dưới bóng một cây đa nhiều thân mà người trong vùng gọi là cây đa chín cội. Rồi đường lên dốc dần, qua đền Cậu, qua đền Cô, men theo dòng suối, cho tới khi gặp một nếp đền hai tầng mái cong, tám góc đao vểnh lên giữa rừng. Đó là đền Thượng, nơi đặt ban thờ chính của Quốc Mẫu Tây Thiên.

Bên trong chính điện là pho tượng một người đàn bà ngồi trên bệ ở giữa. Bà tên là Lăng Thị Tiêu. Thần tích chép bà là người vùng này, sau thành chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy. Đây là điểm cần nhớ ngay từ đầu, vì đó cũng là điểm khiến Tây Thiên khác hẳn các phủ Mẫu mà phần lớn người đi lễ quen thuộc.

IQuốc Mẫu Lăng Thị Tiêu

Đền Thượng Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, tôn hiệu đầy đủ theo các tài liệu giới thiệu di tích là Tam Đảo sơn trụ Quốc Mẫu tối linh Đại vương, Đệ nhất thượng đẳng phúc thần. Đọc kỹ tôn hiệu ấy thì thấy ngay hai lớp nghĩa: Tam Đảo sơn trụ là trụ cột của núi Tam Đảo, tức thần của một dãy núi cụ thể, còn Quốc Mẫu là mẹ của nước, tức vị thế ở tầm quốc gia.

Hai chữ Hán đặt cạnh tên bài là cách ghi địa danh Tây Thiên theo âm Hán Việt do thư viện suy ra, không phải chép từ hoành phi hay bia trong đền.

Theo sử liệu

Thần tích chép như sau. Bà quê ở thôn Đông Lộ, vùng đất nay thuộc xã Đại Đình, sinh ra dưới chân dãy Tam Đảo. Khi Hùng Chiêu Vương thứ bảy tới vùng Tây Thiên, nhà vua gặp bà và kết duyên, bà trở thành chính Vương phi. Các tài liệu di tích ghi công của bà ở ba việc: giúp vua mở mang bờ cõi, dạy dân trồng lúa, và chiêu mộ người trong vùng. Toàn bộ đoạn trên thuộc lớp thần tích, chép trong ngọc phả và thần phả các làng quanh chân Tam Đảo, không phải sử biên niên.

Điều khảo được thì ít hơn nhiều. Theo hồ sơ di tích, ở đền Thõng dưới chân núi còn một tấm bia mang 121 chữ Hán khắc theo hàng dọc trên 11 dòng, ghi lại việc tế thần vào năm 1450. Đó là mốc văn tự sớm nhất mà hồ sơ di tích nêu, cho biết ít nhất từ giữa thế kỷ 15 vùng này đã có lệ tế thần thành nếp.

Theo giáo nghĩa

Muốn hiểu Tây Thiên thì phải phân biệt được hai lớp thờ Mẫu của người Việt, vì hai lớp ấy khác nhau về gốc, về thời và về cách hành lễ.

Lớp thứ nhất là thờ Mẫu cổ. Đây là lối thờ các vị nữ thần gắn với một ngọn núi, một dòng sông, một vùng đất, hoặc gắn với các bà mẹ trong lớp truyền thuyết dựng nước. Các vị ấy đứng riêng, mỗi vị một vùng, không nằm trong một hệ thống có thứ bậc chung. Quốc Mẫu Tây Thiên thuộc lớp này.

Lớp thứ hai là hệ Tứ phủ. Đây là một hệ thống có cấu trúc chặt, chia bốn phủ Thiên, Địa, Thoải, Nhạc, có các hàng Mẫu, hàng Quan, hàng Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô và hàng Cậu, có nghi thức riêng là hầu đồng và hát chầu văn. Vị đứng đầu hệ này là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, và các nghiên cứu đều đặt sự hình thành của hệ Tứ phủ vào khoảng thế kỷ 16 trở về sau. Hai lớp ấy về sau có chỗ giao nhau, vì nhiều nơi thờ Mẫu cổ dần được bổ sung thêm ban Tứ phủ, nhưng gốc thì khác.

Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu, không chê trách người đi lễ. Rất nhiều người nghe chữ Mẫu là nghĩ ngay tới Mẫu Liễu Hạnh, rồi cho rằng đền Thượng Tây Thiên cũng thờ vị ấy, hoặc cho rằng Quốc Mẫu Tây Thiên là một hóa thân của vị ấy. Cả hai cách hiểu đều không đúng.

Thứ nhất, đây là hai vị khác nhau. Đền Thượng Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, quê ở thôn Đông Lộ ngay dưới chân núi. Mẫu Liễu Hạnh là một vị khác hẳn, có thần tích riêng và nơi thờ gốc ở vùng Phủ Dầy.

Thứ hai, hai lớp thờ cách nhau rất xa về thời gian. Thần tích đặt Quốc Mẫu Tây Thiên vào thời Hùng Vương, còn hệ Tứ phủ của Mẫu Liễu Hạnh hình thành từ khoảng thế kỷ 16. Lớp thờ ở Tây Thiên thuộc loại cổ hơn, và không sinh ra từ hệ Tứ phủ.

Thứ ba, hai lớp có nghi thức khác nhau. Hệ Tứ phủ lấy hầu đồng và chầu văn làm nghi thức đặc trưng, còn lớp thờ Mẫu cổ ở Tây Thiên lấy tế lễ và rước kiệu làm chính. Nhầm hai lớp với nhau là nhầm cả một lớp lịch sử tín ngưỡng. Chính vì giá trị riêng ấy mà tín ngưỡng thờ Mẫu Tây Thiên được ghi vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2020, với tư cách một thực hành riêng.

IITừ Thần Tích Đến Khu Di Tích

Lịch sử ở đây chia hai lớp tách bạch. Lớp thần tích đặt vào thời Hùng Vương và không có niên đại xác định được. Lớp công trình thì có mốc, nhưng mốc sớm nhất là mốc của văn bia chứ không phải mốc của nhà cửa, vì các nếp đền trên núi đã qua rất nhiều lần dựng lại.

  • Lớp thần tíchQuốc Mẫu Lăng Thị Tiêu
    Thần tích chép bà quê thôn Đông Lộ dưới chân Tam Đảo, thành chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy, có công giúp vua mở mang bờ cõi và dạy dân trồng lúa. Đây là lớp truyền thuyết, không có văn bản đương thời.
  • 1450Bia đá chép việc tế thần
    Theo hồ sơ di tích, tấm bia ở đền Thõng mang 121 chữ Hán khắc theo hàng dọc trên 11 dòng, ghi lại việc tế thần trong năm này. Đây là mốc văn tự sớm nhất mà hồ sơ di tích nêu.
  • 1723 và 1842Bia bốn mặt và chuông đền Thõng
    Tài liệu khảo cứu địa phương ghi ở đền Thõng có một tấm bia đá bốn mặt niên hiệu Bảo Thái thứ năm, và quả chuông Phù Nghì Tự chung đúc niên hiệu Thiệu Trị. Tên chuông gắn với tên ngôi chùa cũ trong vùng, cho thấy lớp Phật và lớp Mẫu ở Tây Thiên đã đứng cạnh nhau từ lâu.
  • Thế kỷ 19Tam quan chùa Tây Thiên
    Theo hồ sơ di tích, tam quan cổ của chùa Tây Thiên còn được giữ lại từ thế kỷ này.
  • 1998Dựng lại đền Thõng
    Tài liệu khảo cứu địa phương ghi đền Thõng được dựng lại trong năm này theo mặt bằng chữ Đinh, đại bái ba gian và hậu cung một gian.
  • 2015Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Tây Thiên Tam Đảo được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2367 ký ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  • 2020Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Tín ngưỡng thờ Mẫu Tây Thiên được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ghi nhận đây là một thực hành riêng của vùng Tam Đảo.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng.

Niên đại khởi dựng đền. Không tài liệu nào mà thư viện tra được nêu một năm dựng cụ thể cho đền Thượng. Thần tích đặt việc thờ vào thời Hùng Vương, hồ sơ di tích nêu mốc văn tự sớm nhất là bia năm 1450, còn các tài liệu phổ thông thì đưa ra nhiều con số khác nhau, có nơi tính bằng nghìn năm. Ba loại mốc ấy thuộc ba loại khác nhau, nên chúng tôi không chọn một con số làm năm khởi dựng.

Các tấm bia ở đền Thõng. Hồ sơ di tích nhắc tới tấm bia 121 chữ Hán ghi việc tế thần năm 1450, trong khi tài liệu khảo cứu địa phương lại mô tả một tấm bia bốn mặt niên hiệu Bảo Thái thứ năm, tức năm 1723. Rất có thể đây là hai tấm khác nhau cùng đặt ở đền Thõng, nhưng chúng tôi chưa tra được bản thống kê hiện vật nào để nói dứt điểm.

IIITrục Đền Từ Chân Núi Lên Đỉnh Thạch Bàn

Tây Thiên không phải một ngôi đền mà là một trục. Các nếp đền xếp nối nhau theo đường lên núi, từ thấp tới cao, và người đi lễ đi hết trục ấy chứ không tới thẳng một điểm. Đây là lối bố trí quen của các nơi thờ vùng núi, khác hẳn lối dàn theo mặt bằng của đền miếu đồng bằng.

Đền Thõng

Nếp đầu tiên dưới chân núi Thạch Bàn, còn gọi là đền Trình vì người lên núi trình báo ở đây trước. Mặt bằng chữ Đinh, đại bái ba gian và hậu cung một gian. Trước cửa có cây đa nhiều thân gọi là cây đa chín cội.

Đền Cậu

Nếp thờ ở một chặng giữa đường lên. Trong hệ thờ Mẫu, hàng Cậu là lớp thần linh trẻ tuổi, được coi là gần người nhất.

Đền Cô

Nếp thờ tiếp theo trên trục lên núi. Đền Cậu và đền Cô làm thành hai chặng nghỉ tự nhiên cho người hành hương.

Đền Thượng

Nếp trong cùng và cao nhất, đặt ban thờ chính của Quốc Mẫu. Mặt bằng chữ Đinh, ba gian hai chái lớn, hai tầng chồng diêm, tám góc mái cong. Chính điện đặt pho tượng Bà ngồi trên bệ ở giữa.

Đền Mẫu và đền thần núi Tam Đảo

Các nếp thờ khác trong quần thể theo hồ sơ di tích.

Chùa Tây Thiên cổ tự

Ngôi chùa cổ trong vùng, tam quan còn giữ được từ thế kỷ 19, thuộc Phật Giáo, đứng cạnh chứ không thuộc hệ thống đền thờ Quốc Mẫu.

Về đền Thượng, chi tiết đáng đọc nhất là bộ mái. Kết cấu hai tầng chồng diêm, tám góc mái cong không phải lối thường dùng cho đền miếu làng, mà là lối dành cho các công trình muốn tạo dáng vươn lên. Đặt một bộ mái như thế trên sườn núi cao là để nếp đền không bị khối núi phía sau nuốt mất, và để người đi từ dưới lên nhận ra đích của mình từ xa.

Trong vùng Tây Thiên còn có thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, dựng trong những năm 2000 trên nền ngôi chùa cổ Thiên Ân, và chùa Tây Thiên cổ tự. Hai nơi ấy thuộc Phật Giáo và có sinh hoạt tu học riêng. Bài này viết về hệ thống đền thờ Quốc Mẫu, nên chỉ nhắc hai nơi kia để quý vị biết chúng nằm cùng một vùng chứ không cùng một lớp thờ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia, thần tích hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên đáng nói là ở đây có núi thật. Phần lớn đền phủ Bắc Bộ nằm giữa châu thổ, nơi không có núi để tựa, nên phải mượn đê, mượn gò, mượn ao hồ mà đọc. Tây Thiên thì khác: đền Thượng dựa hẳn vào khối núi Thạch Bàn trong dãy Tam Đảo. Sách địa lý cổ gọi chỗ dựa phía sau là hậu chẩm, và ở đây hậu chẩm là một dãy núi thật, không phải vật thay thế.

Thứ hai là thế long mạch. Tam Đảo là một dãy chạy dài, ba ngọn nhô cao mà tên gọi ba đảo bắt nguồn từ đó. Trong phép xem đất, một dãy núi chạy như vậy được đọc là mạch, và chỗ đáng đặt công trình là chỗ mạch dừng lại, gọi là huyệt kết. Đền Thượng nằm trên một khoảnh bằng giữa sườn dốc, tức đúng kiểu chỗ mà phép cũ tìm: không đặt trên đỉnh nhọn vì khí tán, không đặt dưới chân vì khí chưa tụ. Dọc đường lên lại có suối chảy, mà ở vùng núi dòng suối chính là đường mạch núi đổ xuống đồng bằng, nên các nếp đền men theo suối là đặt đúng trên tuyến khí đi.

Thứ ba là trục hành hương, và đây là chỗ đáng đọc nhất. Đền Thõng dưới chân, đền Cậu, đền Cô ở giữa, đền Thượng trên cao: bốn nếp xếp theo chiều dốc làm thành một trục dựng đứng chứ không phải một trục nằm ngang. Đền miếu đồng bằng dẫn khí theo chiều sâu, đi từ cổng vào hậu cung, còn ở Tây Thiên khí được dẫn theo chiều cao. Theo lối cũ, đi lên là thăng, mà thăng thì hợp với việc chầu một vị ở ngôi cao. Cấu trúc ấy làm cho chính bước chân của người đi lễ trở thành một phần của nghi thức.

Sau cùng là lớp nghĩa của một vị thần núi. Tôn hiệu của Quốc Mẫu mở đầu bằng bốn chữ Tam Đảo sơn trụ, tức trụ cột của núi Tam Đảo. Đọc theo lối cổ, đó là cách nói rằng vị thần và ngọn núi là một: núi là thân, thần là chủ. Đặt đền thờ vị ấy trên chính sườn núi mang tên bà là đặt thần đúng vào chỗ của mình, điều mà phép cũ gọi là đắc vị.

VHội Rằm Tháng Hai

Kỳ hội lớn nhất trong năm mở vào rằm tháng Hai âm lịch, và ngày ấy được các tài liệu ghi là ngày giỗ Quốc Mẫu. Hội thường kéo dài mấy ngày quanh ngày rằm, phần trọng nhất là đám rước đi từ chân núi lên đền Thượng, tức đi đúng theo trục hành hương của cả khu di tích.

Trình tự kỳ hội rằm tháng Hai. Các nguồn thống nhất ngày 15 tháng Hai là ngày chính, nhưng ghi khoảng ngày hơi khác nhau, có nguồn từ 14 tới 17, có nguồn từ 15 tới 17. Nguồn: Bản tin khai hội Tây Thiên và tài liệu giới thiệu di tích..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày 14 tháng HaiCáo yết và chuẩn bịTrình việc mở hội trước ban thờ Quốc Mẫu, các làng chuẩn bị kiệu và lễ vật.
Ngày 15 tháng HaiKhai hội và giỗ Quốc MẫuNgày trọng nhất của kỳ hội, cũng là ngày giỗ Quốc Mẫu theo các tài liệu về di tích.
Ngày 15 tháng HaiRước kiệu lên đền ThượngĐoàn rước xuất phát từ chân núi rồi tiến lên đền Thượng, đi theo đúng trục các nếp đền.
Ngày 15 tới 17 tháng HaiTế và dâng hươngPhần tế của các đội tế trong vùng, sau đó khách thập phương dâng hương tại đền Thượng.
Ngày 15 tới 17 tháng HaiPhần hộiCác trò dân gian và diễn xướng của các làng quanh chân Tam Đảo, tổ chức ở khu vực chân núi.
Ngày 17 tháng HaiTế tạ và đóng hộiPhần tế cuối kỳ hội, kiệu được rước về chỗ cũ.

Đám rước ở đây đáng nói thêm một câu. Ở phần lớn các hội làng Bắc Bộ, kiệu được rước vòng quanh làng trên đường bằng. Ở Tây Thiên, kiệu được rước lên dốc, đi hết chiều cao của trục đền. Một đám rước phải leo núi thì tự nó đã nói ra cấu trúc của nơi thờ: ngôi cao không tới được bằng cách đi ngang, phải đi lên mới tới. Nhiều người trong vùng giữ lệ đi đủ trục từ đền Thõng lên đền Thượng chứ không lên thẳng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ
Đường tới
Khu di tích nằm ở xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ, dưới chân và trên sườn dãy Tam Đảo. Đền Thõng ở chân núi Thạch Bàn là điểm vào của cả trục, từ đó lên đền Thượng là đường núi có bậc.
Toạ độ
21.4814, 105.6131
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải khu tham quan, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các nếp đền, đi nhẹ nói khẽ ở chính điện, không đặt tiền lẻ lên tượng và đồ thờ mà bỏ vào hòm công đức. Lệ được người trong vùng giữ chặt nhất là trình tự: vào đền Thõng trình trước rồi mới lên núi, đi hết trục đền chứ không bỏ chặng. Đường lên đền Thượng là đường núi có dốc và có bậc, xin quý vị đi giày thấp và liệu sức.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Quốc Mẫu Tây Thiên

Contribute photos, information or video for Tay Thien Temple of the National Mother

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Tây Thiên thờ ai

Đền Thượng Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, tôn hiệu theo các tài liệu di tích là Tam Đảo sơn trụ Quốc Mẫu tối linh Đại vương, Đệ nhất thượng đẳng phúc thần. Thần tích chép bà quê thôn Đông Lộ dưới chân Tam Đảo, sau thành chính Vương phi của Hùng Chiêu Vương thứ bảy.

Quốc Mẫu Tây Thiên có phải Mẫu Liễu Hạnh không

Không. Đây là hai vị khác nhau và hai lớp thờ khác nhau. Quốc Mẫu Tây Thiên là Lăng Thị Tiêu, thuộc lớp thờ Mẫu cổ gắn với một ngọn núi và với thời Hùng Vương theo thần tích. Mẫu Liễu Hạnh đứng đầu hệ Tứ phủ, một hệ thống hình thành từ khoảng thế kỷ 16.

Khu di tích Tây Thiên gồm những nơi nào

Trục đền thờ Quốc Mẫu gồm đền Thõng dưới chân núi, đền Cậu và đền Cô trên đường lên, và đền Thượng ở trên cao. Trong quần thể còn có đền Mẫu, đền thần núi Tam Đảo, chùa Tây Thiên cổ tự và thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên. Hai nơi sau thuộc Phật Giáo, đứng cạnh chứ không thuộc hệ thống đền thờ Quốc Mẫu.

Đền Tây Thiên có từ bao giờ

Không tài liệu nào thư viện tra được nêu một năm dựng cụ thể. Thần tích đặt việc thờ vào thời Hùng Vương, còn mốc văn tự sớm nhất mà hồ sơ di tích nêu là tấm bia ở đền Thõng mang 121 chữ Hán ghi việc tế thần năm 1450. Các nếp đền hiện nay đều đã qua nhiều lần dựng lại, riêng đền Thõng dựng lại năm 1998.

Lễ hội Tây Thiên vào ngày nào

Kỳ hội lớn nhất mở vào rằm tháng Hai âm lịch, tức ngày 15 tháng Hai, cũng là ngày giỗ Quốc Mẫu theo tài liệu về di tích. Hội kéo dài mấy ngày quanh ngày rằm, phần trọng nhất là đám rước kiệu đi từ chân núi lên đền Thượng, theo đúng trục các nếp đền.

Đọc Tiếp