Từ đường cái rẽ vào, quý vị gặp trước hết một cây gạo già đứng lệch bên tay phải, rồi tới một khoảng sân gạch rộng và một dãy bái đường bảy gian nằm ngang, mái thấp, cột lim to bằng người ôm. Phía sau bái đường là hậu cung, hai bên sân là hai dãy nhà giải vũ, góc sân có gác chuông và gác trống đối nhau.
Điều đáng nói nằm ở chỗ khác. Nơi này không phải chỉ là một ngôi miếu thờ Khổng Tử. Mảnh đất quý vị đang đứng vốn là trường thi Hương của xứ Đông, chỗ hàng nghìn sĩ tử vào lều chõng suốt mấy trăm năm. Tới đầu thế kỷ 19, văn miếu của cả trấn mới được dời về đây và nhập làm một với trường thi. Việc thờ và việc thi từ đó chung một nền.
IKhổng Tử Và Tám Vị Được Thờ
Ban thờ chính đặt Khổng Tử cùng các vị tiên hiền theo lệ chung của mọi văn miếu. Nhưng Mao Điền có một lớp thờ riêng mà Văn Miếu Quốc Tử Giám ở kinh đô không có: tám danh nhân của chính xứ Đông được thờ cùng, mỗi vị đại diện cho một nghề, một thời và một lối học khác nhau.
Bốn chữ Hán đặt cạnh tên bài là cách thư viện ghi lại tên nơi này theo âm Hán Việt, không phải chép từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong di tích.
Theo lệ Nho học, mỗi cấp hành chính có một nơi thờ Khổng Tử riêng. Kinh đô có Văn Miếu gắn với Quốc Tử Giám, mỗi trấn có văn miếu trấn, mỗi phủ huyện có văn chỉ hoặc văn từ. Đây là hệ thống dọc, và Mao Điền đứng ở bậc thứ hai, tức bậc cao nhất mà một địa phương có thể có.
Việc thờ thêm danh nhân bản xứ cũng có căn cứ trong lệ cũ, gọi là tòng tự, nghĩa là thờ theo. Người được tòng tự phải có công với đạo học hoặc với dân một vùng. Ở Mao Điền, phép ấy được dùng rộng hơn thường lệ: trong tám vị có cả thầy thuốc, cả nhà toán pháp, cả một người đàn bà. Điều ấy cho biết người xứ Đông hiểu chữ học không hẹp trong khuôn khoa cử.
| Vị được thờ | Danh hiệu quen dùng | Đóng góp được nhắc tới |
|---|---|---|
| Chu Văn An | Tư nghiệp Quốc Tử Giám | Người thầy tiêu biểu của Nho học Đại Việt |
| Mạc Đĩnh Chi | Lưỡng quốc Trạng nguyên | Đỗ trạng nguyên đời Trần, quê làng Long Động |
| Nguyễn Trãi | Danh nhân văn hóa | Nhà tư tưởng và tác gia lớn, gắn bó với vùng Côn Sơn |
| Nguyễn Bỉnh Khiêm | Trình Quốc công | Nhà thơ và nhà học thuật đời Mạc, người vùng Vĩnh Lại |
| Tuệ Tĩnh | Đại danh y, Thái học sinh | Người đặt nền cho thuốc Nam, quê làng Nghĩa Phú |
| Vũ Hữu | Thần toán Việt Nam | Tác giả sách toán pháp sớm nhất còn biết của người Việt |
| Phạm Sư Mạnh | Nhập nội Hành khiển | Học trò Chu Văn An, để lại thơ văn đời Trần |
| Nguyễn Thị Duệ | Nghi Ái quan | Người đàn bà đầu tiên đỗ đại khoa |
Vì sao lại là xứ Đông. Theo con số được các nguồn nhắc đi nhắc lại, trong khoảng chín thế kỷ khoa cử, nhà nước quân chủ Việt Nam mở được 185 khoa thi và lấy đỗ 2.898 tiến sĩ, trong đó riêng vùng Hải Dương cũ có 637 vị cùng 12 trạng nguyên. Con số ấy giải thích quy mô của ngôi văn miếu này. Nhiều tài liệu xếp Mao Điền là văn miếu lớn thứ hai của cả nước, chỉ sau Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đó là cách nói so sánh của tài liệu giới thiệu di tích, không phải một xếp hạng chính thức.
IITừ Vĩnh Lại Về Mao Điền
Lịch sử nơi này có hai dòng chảy riêng, tới đầu thế kỷ 19 mới nhập lại làm một. Dòng thứ nhất là trường thi Hương ở Mao Điền. Dòng thứ hai là văn miếu trấn Hải Dương, vốn đặt ở một xã khác cách đó khá xa.
- Thời Hồng ĐứcDựng trường thi Hương trên đất Mao ĐiềnTrường thi Hương của trấn Hải Dương được dựng trong khoảng niên hiệu Hồng Đức, tức từ năm 1470 tới 1497, gồm khu nội liêm cho khảo quan và các dãy nhà cộng lại khoảng mười bảy gian.
- Thời Lê SơVăn miếu trấn đặt ở xã Vĩnh LạiVăn miếu của trấn Hải Dương ban đầu đặt tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An cũ. Ở giai đoạn này, nơi thờ và nơi thi là hai chỗ tách biệt.
- Thế kỷ 18Các lần dựng và sửa dưới thời Lê và Tây SơnCục Di sản văn hóa ghi văn miếu trấn được lập trong khoảng từ những năm 1740 tới 1800 dưới thời Lê và Tây Sơn, mốc này vênh với các nguồn ghi văn miếu có từ thời Lê Sơ.
- 1800 hoặc 1801Dời văn miếu về Mao ĐiềnVăn miếu được chuyển từ Vĩnh Lại về Mao Điền và sáp nhập với trường thi Hương. Từ mốc này, việc thờ và việc thi của cả trấn nằm chung một khuôn viên. Cục Di sản ghi công trình hoàn thành ngày 26 tháng 7 năm Tân Dậu, tức năm 1801.
- 1801Trồng cây gạo trước văn miếuCây gạo cổ thụ còn đứng trước khu di tích được ghi là trồng trong năm này, cùng đợt với việc dựng lại văn miếu trên nền mới.
- 1919Khoa thi Nho học cuối cùngNền khoa cử chữ Hán khép lại trên cả nước. Hệ bia đề danh tiến sĩ của trấn Hải Dương ghi khoảng thời gian từ năm 1075 tới năm 1919, tức trọn vòng đời của khoa cử Nho học.
- 1992Xếp hạng di tích quốc giaXếp hạng di tích cấp quốc gia. Các đợt tu bổ lớn tiếp theo vào những năm 1990, 1994, 1995, 1999, 2001 và đợt dài nhất từ năm 2002 tới năm 2004.
- 2017Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ xếp hạng Văn miếu Mao Điền là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2082 ký ngày 25 tháng 12 năm 2017.
Đây là chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu, không phê phán tài liệu nào.
Rất nhiều bài viết gộp hai mốc làm một, viết đại ý rằng Văn miếu Mao Điền được dựng từ thế kỷ 15 tại Mao Điền. Cách viết ấy làm mất một đoạn đường dài của di tích, vì theo tư liệu di tích thì hai việc xảy ra ở hai chỗ và hai thời khác nhau.
Thứ nhất, cái có mặt ở Mao Điền từ thế kỷ 15 là trường thi Hương, không phải văn miếu. Thứ hai, văn miếu trấn Hải Dương khởi đầu ở xã Vĩnh Lại, huyện Đường An cũ, mãi tới năm 1800 hoặc 1801 mới dời về Mao Điền và nhập với trường thi.
Nói cách khác, cái tên Văn miếu Mao Điền chỉ đúng cho giai đoạn từ đầu thế kỷ 19 trở đi. Trước đó, Mao Điền là chỗ thi, còn Vĩnh Lại mới là chỗ thờ.
Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin ghi cả hai thay vì chọn bừa.
Niên đại khởi dựng văn miếu trấn. Cục Di sản văn hóa ghi văn miếu trấn Hải Dương được lập trong khoảng từ những năm 1740 tới 1800, trong khi báo Nhân Dân và đài phát thanh lại ghi văn miếu có từ thời Lê Sơ, tức thế kỷ 15, ở xã Vĩnh Lại. Chênh lệch lên tới gần ba trăm năm, và chúng tôi chưa tra được văn bản gốc nào nói dứt điểm.
Năm dời về Mao Điền. Cục Di sản ghi mốc hoàn thành là ngày 26 tháng 7 năm Tân Dậu, tức 1801. Một bài báo khác ghi việc dời diễn ra năm Canh Thân, tức 1800.
IIIBái Đường Bảy Gian Và Nhà Bia
Toàn khu rộng gần một hecta, dàn theo một trục dọc quen thuộc của kiến trúc thờ tự Bắc Bộ: cổng, sân, bái đường, hậu cung. Hai bên sân là hai dãy nhà đối xứng, phía trước có giếng và nhà bia. Cách bày này giữ đủ hai chức năng của nơi đây, vừa là miếu thờ vừa là chỗ hội tụ của cả một nền học.
Cổng chính, mở ra phía trước, dẫn vào sân gạch rộng. Đây là lớp phân cách giữa đường làng và không gian thờ tự.
Tòa nhà chính, bảy gian, dài khoảng 22,5 mét và rộng khoảng 18,6 mét. Đây là nơi tiến hành phần tế chính và là chỗ đặt hệ hoành phi câu đối.
Hậu cung nối sau bái đường, đặt ban thờ Khổng Tử cùng các vị được thờ. Nhà Khải Thánh năm gian, theo lệ Nho học là nơi thờ thân phụ của Khổng Tử.
Hai dãy nhà năm gian nằm hai bên sân, đối xứng nhau, theo lệ văn miếu là chỗ thờ các vị tiên hiền tiên nho ở hàng dưới ban chính.
Hai gác đối nhau ở phía trước sân, dùng báo hiệu các tuần tế, một bên nổi trước một bên nổi sau theo trình tự nghi thức.
Nhà bia đặt các tấm bia đề danh tiến sĩ Nho học của trấn Hải Dương, khoảng thời gian ghi trên hệ bia trải từ năm 1075 tới năm 1919. Thiên Quang tỉnh là giếng vuông trước sân, tên có nghĩa là giếng ánh sáng trời.
Một điểm đáng để ý: hệ bia ở Mao Điền không cùng loại với 82 tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Bia ở Hà Nội là bia dựng ngay sau từng khoa thi Đình, mỗi tấm ứng với một khoa. Bia ở Mao Điền là bia đề danh tổng hợp, chép người đỗ đại khoa của riêng trấn Hải Dương trong suốt chiều dài khoa cử, và được dựng về sau. Hai hệ bia khác nhau cả về chức năng lẫn về giá trị văn bản.
Cuối cùng là cây gạo trước cửa, được các tài liệu ghi là trồng năm 1801, cùng đợt với việc dựng lại văn miếu trên nền trường thi. Với một di tích mà phần gỗ đã qua nhiều lần thay, một thân cây sống liền mạch hơn hai trăm năm là vật chứng liên tục hiếm hoi còn lại.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên cần nói là mảnh đất này không được chọn cho việc thờ. Nó được chọn cho việc thi. Một trường thi Hương cần trước hết một khoảnh bằng phẳng đủ rộng để dựng hàng nghìn lều chõng, đủ thoáng để coi thi, đủ gần đường cái để sĩ tử các phủ huyện kéo về. Khi văn miếu dời tới đây vào đầu thế kỷ 19, nó nhận lấy một thế đất vốn sinh ra cho mục đích khác.
Xét về hình thế, đây là đồng bằng châu thổ, đất phẳng gần như tuyệt đối, không có núi để làm hậu chẩm, không có gò để làm án. Phép địa lý cổ gặp địa hình này thì chuyển sang đọc nước và đọc công trình. Ở Mao Điền, cái khép kín của khuôn viên gần một hecta chính là thứ tạo ra ranh giới khí, còn giếng Thiên Quang tỉnh phía trước đóng vai minh đường có thủy tụ, tức khoảng sáng trước mặt có nước đọng lại.
Về hướng và trục, khu di tích dàn theo một đường thẳng từ cổng vào hậu cung, hai bên đối xứng bằng hai dãy Đông vu và Tây vu, hai gác chuông trống cũng đối nhau. Lối cân đối tuyệt đối này không phải sở thích thẩm mỹ mà là một tuyên ngôn của Nho học: đạo Nho lấy chữ chính làm gốc, mà chính thì phải ngay ngắn, phải có trên dưới trái phải rõ ràng. Một trục thẳng dẫn khí đi sâu và dồn về điểm cuối, ở đây là ban thờ Khổng Tử.
Sau cùng là lớp nghĩa của việc nhập hai nền. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất đã dùng vào việc gì thì mang khí của việc ấy. Đem văn miếu đặt lên nền trường thi là chọn đất theo ký ức chứ không theo hình thế: người xưa muốn nơi thờ đạo học đứng đúng trên chỗ mà đạo học từng được đem ra sát hạch. Một bên là kính, một bên là khảo, hai việc vốn tách rời được gộp vào một khuôn viên. Đọc theo phong thủy thì đây là thế thể dụng hợp nhất, và đó là nét riêng làm Mao Điền khác mọi văn miếu trấn khác.
VLễ Ngày Đinh Và Hội Tháng Hai
Lễ ở văn miếu theo lệ Nho học, không theo lệ đền phủ. Hai kỳ tế lớn trong năm rơi vào ngày Đinh đầu tháng Hai và ngày Đinh đầu tháng Tám âm lịch, quen gọi là Xuân Đinh và Thu Đinh. Ngày Đinh được chọn vì trong hệ can chi, Đinh thuộc hành Hỏa, ứng với văn minh và ánh sáng.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày Đinh đầu tháng Hai | Lễ Xuân Đinh | Kỳ tế mùa xuân theo cổ lệ, tế Khổng Tử cùng các vị tiên hiền và tám danh nhân được thờ. |
| Ngày Đinh đầu tháng Tám | Lễ Thu Đinh | Kỳ tế mùa thu, giữ đủ phần tế như kỳ xuân, quy mô gọn hơn. |
| Ngày 15 tháng Hai | Khai hội | Mở đầu kỳ lễ hội truyền thống hiện nay, có lễ tế cáo yết trình việc mở hội. |
| Ngày 15 tới 18 tháng Hai | Tiến chữ dâng Thánh | Nghi thức riêng của Mao Điền, dâng chữ lên ban thờ thay cho dâng lễ vật. |
| Ngày 15 tới 18 tháng Hai | Cung tuyên văn tế và dâng hương | Đọc bài văn tế trước ban thờ, sau đó các làng trong vùng và khách thập phương dâng hương. |
| Ngày 18 tháng Hai | Chính hội | Ngày trọng nhất của kỳ hội, kèm phần hội gồm trưng bày thư pháp, thi viết chữ đẹp, cờ tướng và các trò dân gian. |
Nghi thức tiến chữ dâng Thánh đáng nói thêm một câu. Ở phần lớn các nơi thờ, lễ vật dâng lên là hương hoa, oản quả, xôi thịt. Ở một văn miếu thì vật dâng trọng nhất lại là chữ, vì chữ chính là thứ mà nơi ấy thờ. Cùng nằm trong mạch ấy là lệ xin chữ đầu xuân và ngày hội sách được tổ chức trong khuôn viên di tích những năm gần đây.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- làng Mậu Tài, xã Mao Điền, thành phố Hải Phòng
- Đường tới
- Nằm ở làng Mậu Tài, xã Mao Điền, thành phố Hải Phòng, sát trục đường nối Hà Nội với trung tâm Hải Dương cũ. Đi cùng tuyến nên tính ghé thêm khu Côn Sơn và Kiếp Bạc, cũng thuộc vùng xứ Đông.
- Toạ độ
- 20.9339, 106.1864
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào bái đường và hậu cung, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào bia đá, hoành phi câu đối và bộ đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Lệ riêng của một văn miếu là không đặt lễ mặn và không đốt vàng mã ở ban thờ Khổng Tử. Nhiều người trong vùng giữ nếp xin chữ đầu xuân tại đây.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn miếu Mao Điền
Contribute photos, information or video for Mao Dien Temple of LiteratureThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn miếu Mao Điền thờ ai
Thờ Khổng Tử theo lệ chung của mọi văn miếu, cùng tám danh nhân của xứ Đông được thờ theo phép tòng tự. Tám vị gồm Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tuệ Tĩnh, Vũ Hữu, Phạm Sư Mạnh và Nguyễn Thị Duệ, ghi theo tài liệu của Cục Di sản văn hóa.
Văn miếu Mao Điền có từ năm nào
Nguồn vênh nhau, xin ghi cả hai. Trường thi Hương ở Mao Điền dựng trong khoảng niên hiệu Hồng Đức, tức quãng 1470 tới 1497. Còn văn miếu trấn thì có nguồn ghi khởi từ thời Lê Sơ ở xã Vĩnh Lại, có nguồn của Cục Di sản ghi lập trong khoảng 1740 tới 1800. Văn miếu dời về Mao Điền năm 1800 hoặc 1801.
Vì sao gọi là văn miếu trấn Hải Dương hay văn miếu xứ Đông
Vì đây là văn miếu cấp trấn, tức nơi thờ Khổng Tử của cả trấn Hải Dương xưa, đứng dưới Văn Miếu ở kinh đô và trên các văn chỉ cấp phủ huyện. Xứ Đông là tên gọi cũ của vùng đất này, một trong bốn xứ bao quanh kinh thành Thăng Long.
Bia ở Mao Điền có giống 82 bia tiến sĩ ở Hà Nội không
Không giống. Bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám là bia dựng theo từng khoa thi Đình, mỗi tấm ứng với một khoa. Bia ở Mao Điền là bia đề danh tổng hợp, chép người đỗ đại khoa của riêng trấn Hải Dương, khoảng thời gian ghi trên hệ bia trải từ năm 1075 tới năm 1919 và bia được dựng về sau.
Lễ hội Văn miếu Mao Điền vào ngày nào
Theo cổ lệ, hai kỳ tế lớn rơi vào ngày Đinh đầu tháng Hai và ngày Đinh đầu tháng Tám âm lịch, gọi là Xuân Đinh và Thu Đinh. Kỳ lễ hội truyền thống hiện nay mở trong tháng Hai âm lịch, khoảng ngày 15 tới 18, có lễ tế cáo yết và nghi thức tiến chữ dâng Thánh.