VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Văn miếu Mao Điền

Văn miếu trấn Hải Dương, Văn miếu xứ Đông

Văn miếu của cả một trấn dựng chung nền với trường thi Hương xứ Đông, nơi thờ Khổng Tử cùng tám danh nhân của vùng đất nhiều người đỗ đạt bậc nhất nước.

Trường thi Hương
thời Hồng Đức
dựng trên đất Mao Điền, khoảng năm 1470 tới 1497
Dời văn miếu về
1801
nhập với trường thi, có nguồn ghi năm 1800
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2082 ngày 25 tháng 12 năm 2017

Từ đường cái rẽ vào, quý vị gặp trước hết một cây gạo già đứng lệch bên tay phải, rồi tới một khoảng sân gạch rộng và một dãy bái đường bảy gian nằm ngang, mái thấp, cột lim to bằng người ôm. Phía sau bái đường là hậu cung, hai bên sân là hai dãy nhà giải vũ, góc sân có gác chuông và gác trống đối nhau.

Điều đáng nói nằm ở chỗ khác. Nơi này không phải chỉ là một ngôi miếu thờ Khổng Tử. Mảnh đất quý vị đang đứng vốn là trường thi Hương của xứ Đông, chỗ hàng nghìn sĩ tử vào lều chõng suốt mấy trăm năm. Tới đầu thế kỷ 19, văn miếu của cả trấn mới được dời về đây và nhập làm một với trường thi. Việc thờ và việc thi từ đó chung một nền.

IKhổng Tử Và Tám Vị Được Thờ

Ban thờ chính đặt Khổng Tử cùng các vị tiên hiền theo lệ chung của mọi văn miếu. Nhưng Mao Điền có một lớp thờ riêng mà Văn Miếu Quốc Tử Giám ở kinh đô không có: tám danh nhân của chính xứ Đông được thờ cùng, mỗi vị đại diện cho một nghề, một thời và một lối học khác nhau.

Bốn chữ Hán đặt cạnh tên bài là cách thư viện ghi lại tên nơi này theo âm Hán Việt, không phải chép từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong di tích.

Theo giáo nghĩa

Theo lệ Nho học, mỗi cấp hành chính có một nơi thờ Khổng Tử riêng. Kinh đô có Văn Miếu gắn với Quốc Tử Giám, mỗi trấn có văn miếu trấn, mỗi phủ huyện có văn chỉ hoặc văn từ. Đây là hệ thống dọc, và Mao Điền đứng ở bậc thứ hai, tức bậc cao nhất mà một địa phương có thể có.

Việc thờ thêm danh nhân bản xứ cũng có căn cứ trong lệ cũ, gọi là tòng tự, nghĩa là thờ theo. Người được tòng tự phải có công với đạo học hoặc với dân một vùng. Ở Mao Điền, phép ấy được dùng rộng hơn thường lệ: trong tám vị có cả thầy thuốc, cả nhà toán pháp, cả một người đàn bà. Điều ấy cho biết người xứ Đông hiểu chữ học không hẹp trong khuôn khoa cử.

Tám vị được thờ cùng Khổng Tử, ghi theo thứ tự trong tài liệu của Cục Di sản văn hóa. Một số tài liệu khác đảo chỗ Vũ Hữu và Phạm Sư Mạnh, và ghi tên Phạm Sư Mạnh thành Phạm Sư Mệnh. Nguồn: Tài liệu di tích Văn miếu Mao Điền của Cục Di sản văn hóa..
Vị được thờDanh hiệu quen dùngĐóng góp được nhắc tới
Chu Văn AnTư nghiệp Quốc Tử GiámNgười thầy tiêu biểu của Nho học Đại Việt
Mạc Đĩnh ChiLưỡng quốc Trạng nguyênĐỗ trạng nguyên đời Trần, quê làng Long Động
Nguyễn TrãiDanh nhân văn hóaNhà tư tưởng và tác gia lớn, gắn bó với vùng Côn Sơn
Nguyễn Bỉnh KhiêmTrình Quốc côngNhà thơ và nhà học thuật đời Mạc, người vùng Vĩnh Lại
Tuệ TĩnhĐại danh y, Thái học sinhNgười đặt nền cho thuốc Nam, quê làng Nghĩa Phú
Vũ HữuThần toán Việt NamTác giả sách toán pháp sớm nhất còn biết của người Việt
Phạm Sư MạnhNhập nội Hành khiểnHọc trò Chu Văn An, để lại thơ văn đời Trần
Nguyễn Thị DuệNghi Ái quanNgười đàn bà đầu tiên đỗ đại khoa
Theo sử liệu

Vì sao lại là xứ Đông. Theo con số được các nguồn nhắc đi nhắc lại, trong khoảng chín thế kỷ khoa cử, nhà nước quân chủ Việt Nam mở được 185 khoa thi và lấy đỗ 2.898 tiến sĩ, trong đó riêng vùng Hải Dương cũ có 637 vị cùng 12 trạng nguyên. Con số ấy giải thích quy mô của ngôi văn miếu này. Nhiều tài liệu xếp Mao Điền là văn miếu lớn thứ hai của cả nước, chỉ sau Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đó là cách nói so sánh của tài liệu giới thiệu di tích, không phải một xếp hạng chính thức.

IITừ Vĩnh Lại Về Mao Điền

Lịch sử nơi này có hai dòng chảy riêng, tới đầu thế kỷ 19 mới nhập lại làm một. Dòng thứ nhất là trường thi Hương ở Mao Điền. Dòng thứ hai là văn miếu trấn Hải Dương, vốn đặt ở một xã khác cách đó khá xa.

  • Thời Hồng ĐứcDựng trường thi Hương trên đất Mao Điền
    Trường thi Hương của trấn Hải Dương được dựng trong khoảng niên hiệu Hồng Đức, tức từ năm 1470 tới 1497, gồm khu nội liêm cho khảo quan và các dãy nhà cộng lại khoảng mười bảy gian.
  • Thời Lê SơVăn miếu trấn đặt ở xã Vĩnh Lại
    Văn miếu của trấn Hải Dương ban đầu đặt tại xã Vĩnh Lại, huyện Đường An cũ. Ở giai đoạn này, nơi thờ và nơi thi là hai chỗ tách biệt.
  • Thế kỷ 18Các lần dựng và sửa dưới thời Lê và Tây Sơn
    Cục Di sản văn hóa ghi văn miếu trấn được lập trong khoảng từ những năm 1740 tới 1800 dưới thời Lê và Tây Sơn, mốc này vênh với các nguồn ghi văn miếu có từ thời Lê Sơ.
  • 1800 hoặc 1801Dời văn miếu về Mao Điền
    Văn miếu được chuyển từ Vĩnh Lại về Mao Điền và sáp nhập với trường thi Hương. Từ mốc này, việc thờ và việc thi của cả trấn nằm chung một khuôn viên. Cục Di sản ghi công trình hoàn thành ngày 26 tháng 7 năm Tân Dậu, tức năm 1801.
  • 1801Trồng cây gạo trước văn miếu
    Cây gạo cổ thụ còn đứng trước khu di tích được ghi là trồng trong năm này, cùng đợt với việc dựng lại văn miếu trên nền mới.
  • 1919Khoa thi Nho học cuối cùng
    Nền khoa cử chữ Hán khép lại trên cả nước. Hệ bia đề danh tiến sĩ của trấn Hải Dương ghi khoảng thời gian từ năm 1075 tới năm 1919, tức trọn vòng đời của khoa cử Nho học.
  • 1992Xếp hạng di tích quốc gia
    Xếp hạng di tích cấp quốc gia. Các đợt tu bổ lớn tiếp theo vào những năm 1990, 1994, 1995, 1999, 2001 và đợt dài nhất từ năm 2002 tới năm 2004.
  • 2017Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Văn miếu Mao Điền là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2082 ký ngày 25 tháng 12 năm 2017.
Chỗ hay hiểu lầm

Đây là chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này, xin nói bằng giọng sử liệu, không phê phán tài liệu nào.

Rất nhiều bài viết gộp hai mốc làm một, viết đại ý rằng Văn miếu Mao Điền được dựng từ thế kỷ 15 tại Mao Điền. Cách viết ấy làm mất một đoạn đường dài của di tích, vì theo tư liệu di tích thì hai việc xảy ra ở hai chỗ và hai thời khác nhau.

Thứ nhất, cái có mặt ở Mao Điền từ thế kỷ 15 là trường thi Hương, không phải văn miếu. Thứ hai, văn miếu trấn Hải Dương khởi đầu ở xã Vĩnh Lại, huyện Đường An cũ, mãi tới năm 1800 hoặc 1801 mới dời về Mao Điền và nhập với trường thi.

Nói cách khác, cái tên Văn miếu Mao Điền chỉ đúng cho giai đoạn từ đầu thế kỷ 19 trở đi. Trước đó, Mao Điền là chỗ thi, còn Vĩnh Lại mới là chỗ thờ.

Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin ghi cả hai thay vì chọn bừa.

Niên đại khởi dựng văn miếu trấn. Cục Di sản văn hóa ghi văn miếu trấn Hải Dương được lập trong khoảng từ những năm 1740 tới 1800, trong khi báo Nhân Dân và đài phát thanh lại ghi văn miếu có từ thời Lê Sơ, tức thế kỷ 15, ở xã Vĩnh Lại. Chênh lệch lên tới gần ba trăm năm, và chúng tôi chưa tra được văn bản gốc nào nói dứt điểm.

Năm dời về Mao Điền. Cục Di sản ghi mốc hoàn thành là ngày 26 tháng 7 năm Tân Dậu, tức 1801. Một bài báo khác ghi việc dời diễn ra năm Canh Thân, tức 1800.

IIIBái Đường Bảy Gian Và Nhà Bia

Toàn khu rộng gần một hecta, dàn theo một trục dọc quen thuộc của kiến trúc thờ tự Bắc Bộ: cổng, sân, bái đường, hậu cung. Hai bên sân là hai dãy nhà đối xứng, phía trước có giếng và nhà bia. Cách bày này giữ đủ hai chức năng của nơi đây, vừa là miếu thờ vừa là chỗ hội tụ của cả một nền học.

Văn miếu môn

Cổng chính, mở ra phía trước, dẫn vào sân gạch rộng. Đây là lớp phân cách giữa đường làng và không gian thờ tự.

Bái đường

Tòa nhà chính, bảy gian, dài khoảng 22,5 mét và rộng khoảng 18,6 mét. Đây là nơi tiến hành phần tế chính và là chỗ đặt hệ hoành phi câu đối.

Hậu cung và nhà Khải Thánh

Hậu cung nối sau bái đường, đặt ban thờ Khổng Tử cùng các vị được thờ. Nhà Khải Thánh năm gian, theo lệ Nho học là nơi thờ thân phụ của Khổng Tử.

Đông vu và Tây vu

Hai dãy nhà năm gian nằm hai bên sân, đối xứng nhau, theo lệ văn miếu là chỗ thờ các vị tiên hiền tiên nho ở hàng dưới ban chính.

Gác Chuông và gác Trống

Hai gác đối nhau ở phía trước sân, dùng báo hiệu các tuần tế, một bên nổi trước một bên nổi sau theo trình tự nghi thức.

Nhà bia và Thiên Quang tỉnh

Nhà bia đặt các tấm bia đề danh tiến sĩ Nho học của trấn Hải Dương, khoảng thời gian ghi trên hệ bia trải từ năm 1075 tới năm 1919. Thiên Quang tỉnh là giếng vuông trước sân, tên có nghĩa là giếng ánh sáng trời.

Một điểm đáng để ý: hệ bia ở Mao Điền không cùng loại với 82 tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Bia ở Hà Nội là bia dựng ngay sau từng khoa thi Đình, mỗi tấm ứng với một khoa. Bia ở Mao Điền là bia đề danh tổng hợp, chép người đỗ đại khoa của riêng trấn Hải Dương trong suốt chiều dài khoa cử, và được dựng về sau. Hai hệ bia khác nhau cả về chức năng lẫn về giá trị văn bản.

Cuối cùng là cây gạo trước cửa, được các tài liệu ghi là trồng năm 1801, cùng đợt với việc dựng lại văn miếu trên nền trường thi. Với một di tích mà phần gỗ đã qua nhiều lần thay, một thân cây sống liền mạch hơn hai trăm năm là vật chứng liên tục hiếm hoi còn lại.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên cần nói là mảnh đất này không được chọn cho việc thờ. Nó được chọn cho việc thi. Một trường thi Hương cần trước hết một khoảnh bằng phẳng đủ rộng để dựng hàng nghìn lều chõng, đủ thoáng để coi thi, đủ gần đường cái để sĩ tử các phủ huyện kéo về. Khi văn miếu dời tới đây vào đầu thế kỷ 19, nó nhận lấy một thế đất vốn sinh ra cho mục đích khác.

Xét về hình thế, đây là đồng bằng châu thổ, đất phẳng gần như tuyệt đối, không có núi để làm hậu chẩm, không có gò để làm án. Phép địa lý cổ gặp địa hình này thì chuyển sang đọc nước và đọc công trình. Ở Mao Điền, cái khép kín của khuôn viên gần một hecta chính là thứ tạo ra ranh giới khí, còn giếng Thiên Quang tỉnh phía trước đóng vai minh đường có thủy tụ, tức khoảng sáng trước mặt có nước đọng lại.

Về hướng và trục, khu di tích dàn theo một đường thẳng từ cổng vào hậu cung, hai bên đối xứng bằng hai dãy Đông vu và Tây vu, hai gác chuông trống cũng đối nhau. Lối cân đối tuyệt đối này không phải sở thích thẩm mỹ mà là một tuyên ngôn của Nho học: đạo Nho lấy chữ chính làm gốc, mà chính thì phải ngay ngắn, phải có trên dưới trái phải rõ ràng. Một trục thẳng dẫn khí đi sâu và dồn về điểm cuối, ở đây là ban thờ Khổng Tử.

Sau cùng là lớp nghĩa của việc nhập hai nền. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất đã dùng vào việc gì thì mang khí của việc ấy. Đem văn miếu đặt lên nền trường thi là chọn đất theo ký ức chứ không theo hình thế: người xưa muốn nơi thờ đạo học đứng đúng trên chỗ mà đạo học từng được đem ra sát hạch. Một bên là kính, một bên là khảo, hai việc vốn tách rời được gộp vào một khuôn viên. Đọc theo phong thủy thì đây là thế thể dụng hợp nhất, và đó là nét riêng làm Mao Điền khác mọi văn miếu trấn khác.

VLễ Ngày Đinh Và Hội Tháng Hai

Lễ ở văn miếu theo lệ Nho học, không theo lệ đền phủ. Hai kỳ tế lớn trong năm rơi vào ngày Đinh đầu tháng Haingày Đinh đầu tháng Tám âm lịch, quen gọi là Xuân ĐinhThu Đinh. Ngày Đinh được chọn vì trong hệ can chi, Đinh thuộc hành Hỏa, ứng với văn minh và ánh sáng.

Hai kỳ tế theo cổ lệ và trình tự kỳ lễ hội hiện nay, mở trong tháng Hai âm lịch, khoảng ngày 15 tới 18. Nguồn: Bản tin khai hội truyền thống Văn miếu Mao Điền và tài liệu di tích..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Ngày Đinh đầu tháng HaiLễ Xuân ĐinhKỳ tế mùa xuân theo cổ lệ, tế Khổng Tử cùng các vị tiên hiền và tám danh nhân được thờ.
Ngày Đinh đầu tháng TámLễ Thu ĐinhKỳ tế mùa thu, giữ đủ phần tế như kỳ xuân, quy mô gọn hơn.
Ngày 15 tháng HaiKhai hộiMở đầu kỳ lễ hội truyền thống hiện nay, có lễ tế cáo yết trình việc mở hội.
Ngày 15 tới 18 tháng HaiTiến chữ dâng ThánhNghi thức riêng của Mao Điền, dâng chữ lên ban thờ thay cho dâng lễ vật.
Ngày 15 tới 18 tháng HaiCung tuyên văn tế và dâng hươngĐọc bài văn tế trước ban thờ, sau đó các làng trong vùng và khách thập phương dâng hương.
Ngày 18 tháng HaiChính hộiNgày trọng nhất của kỳ hội, kèm phần hội gồm trưng bày thư pháp, thi viết chữ đẹp, cờ tướng và các trò dân gian.

Nghi thức tiến chữ dâng Thánh đáng nói thêm một câu. Ở phần lớn các nơi thờ, lễ vật dâng lên là hương hoa, oản quả, xôi thịt. Ở một văn miếu thì vật dâng trọng nhất lại là chữ, vì chữ chính là thứ mà nơi ấy thờ. Cùng nằm trong mạch ấy là lệ xin chữ đầu xuân và ngày hội sách được tổ chức trong khuôn viên di tích những năm gần đây.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
làng Mậu Tài, xã Mao Điền, thành phố Hải Phòng
Đường tới
Nằm ở làng Mậu Tài, xã Mao Điền, thành phố Hải Phòng, sát trục đường nối Hà Nội với trung tâm Hải Dương cũ. Đi cùng tuyến nên tính ghé thêm khu Côn Sơn và Kiếp Bạc, cũng thuộc vùng xứ Đông.
Toạ độ
20.9339, 106.1864
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào bái đường và hậu cung, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào bia đá, hoành phi câu đối và bộ đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Lệ riêng của một văn miếu là không đặt lễ mặn và không đốt vàng mã ở ban thờ Khổng Tử. Nhiều người trong vùng giữ nếp xin chữ đầu xuân tại đây.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn miếu Mao Điền

Contribute photos, information or video for Mao Dien Temple of Literature

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Văn miếu Mao Điền thờ ai

Thờ Khổng Tử theo lệ chung của mọi văn miếu, cùng tám danh nhân của xứ Đông được thờ theo phép tòng tự. Tám vị gồm Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tuệ Tĩnh, Vũ Hữu, Phạm Sư Mạnh và Nguyễn Thị Duệ, ghi theo tài liệu của Cục Di sản văn hóa.

Văn miếu Mao Điền có từ năm nào

Nguồn vênh nhau, xin ghi cả hai. Trường thi Hương ở Mao Điền dựng trong khoảng niên hiệu Hồng Đức, tức quãng 1470 tới 1497. Còn văn miếu trấn thì có nguồn ghi khởi từ thời Lê Sơ ở xã Vĩnh Lại, có nguồn của Cục Di sản ghi lập trong khoảng 1740 tới 1800. Văn miếu dời về Mao Điền năm 1800 hoặc 1801.

Vì sao gọi là văn miếu trấn Hải Dương hay văn miếu xứ Đông

Vì đây là văn miếu cấp trấn, tức nơi thờ Khổng Tử của cả trấn Hải Dương xưa, đứng dưới Văn Miếu ở kinh đô và trên các văn chỉ cấp phủ huyện. Xứ Đông là tên gọi cũ của vùng đất này, một trong bốn xứ bao quanh kinh thành Thăng Long.

Bia ở Mao Điền có giống 82 bia tiến sĩ ở Hà Nội không

Không giống. Bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám là bia dựng theo từng khoa thi Đình, mỗi tấm ứng với một khoa. Bia ở Mao Điền là bia đề danh tổng hợp, chép người đỗ đại khoa của riêng trấn Hải Dương, khoảng thời gian ghi trên hệ bia trải từ năm 1075 tới năm 1919 và bia được dựng về sau.

Lễ hội Văn miếu Mao Điền vào ngày nào

Theo cổ lệ, hai kỳ tế lớn rơi vào ngày Đinh đầu tháng Hai và ngày Đinh đầu tháng Tám âm lịch, gọi là Xuân Đinh và Thu Đinh. Kỳ lễ hội truyền thống hiện nay mở trong tháng Hai âm lịch, khoảng ngày 15 tới 18, có lễ tế cáo yết và nghi thức tiến chữ dâng Thánh.

Đọc Tiếp